Viếng Lăng Bác - Bài giảng
12-ky-an-trung-hoa

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:13' 04-05-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:13' 04-05-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
12 ĐẠI KỲ ÁN TRUNG HOA
—★—
Biên soạn: Huyền Cơ
Phát hành: Nhà sách Văn Chương
Nhà xuất bản Thời Đại 2012
ebook©vctvegroup
31-03-2019
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỤC LỤC
THAY LỜI TỰA
1 ĐỊCH NHÂN KIỆT HUYỆN QUAN SÁNG SUỐT
2 BAO CÔNG ĐỆ NHẤT PHÁN QUAN
3 BAO THANH THIÊN LINH MIÊU HOÁN CHÚA
4 TỐNG TỪ ĐẶT NỀN TẢNG PHÁP Y HỌC
5 HÀ VIÊN NGOẠI GIAN NGOAN XẢO QUYỆT
6 HÀN THỤY LONG ĐƯỢC VÀNG MẮC TỘI
7 NGÔ NGỌC SÁT NHÂN GIẤU XÁC
8 TIÊU SINH THẢM KỊCH GIA ĐÌNH
9 LAI PHÁP NGƯỜI NGAY ĐƯỢC PHÚC
10 LÝ TRINH TÚ HÀM OAN GIẾT CHỒNG
11 SỬ MINH XÉT ÁN TỎ TƯỜNG
12 BẠCH LƯƠNG NGỌC TRA THỔ THẦN PHÁ ÁN
THAY LỜI TỰA
Với chiều dài lịch sử hơn 5000 năm, các triều đại phong kiến
Trung Hoa xưa kia chắc chắn phải đối mặt với muôn vàn vụ án
khó khăn, tế nhị và không ít vụ án phán đoán sai lệch, làm cho
nhiều người khác bị hàm oan, bởi thiếu rất nhiều lý luận khoa học
như ngày nay. Tuy nhiên, cũng không ít các phán quan công minh
sáng suốt xuất hiện, giúp cho người dân giải được hàm oan. Nổi
bật nhất trong các phán quan là Bao Chửng, được dân gian biết
đến qua tên Bao Công ở đời Bắc Tống. Sau đó đến thời Nam Tống,
một phán quan khác còn nhiều công lao hơn, đó là Tống Từ, không
những lấy việc giải oan cho người dân làm niềm đam mê mà còn có
tinh thần rất tiến bộ, lấy pháp y học ra làm chứng cứ kết tội hoặc
giải oan.
Trong khi Tây phương mãi đến thế kỷ thứ 17, 18 mới có hai
nhà nghiên cứu pháp y học người Italia đứng ra phổ biến thì Tống
Từ đã biết đến phương pháp khoa học này từ hơn 450 năm trước.
Sau khi Tống Từ qua đời vào năm 1247, tức là vào thế kỷ thứ 13,
ông để lại cuốn “Tẩy oan lục” rất có giá trị, giúp những phán quan
đời sau có thêm tư liệu để hoàn thiện phương pháp để xử án. Trải
qua mấy trăm năm nữa, hệ thống dùng Pháp Y học làm chứng cứ
xét án đã được phát triển rất mạnh và lên tới tột đỉnh vào các đời
nhà Minh, Thanh với rất nhiều vị phán quan sáng suốt chẳng kém
Bao Công.
Số lượng các vụ án ly kỳ trong lịch sử phong kiến Trung Hoa có
thể lên đến hàng vạn, vì vậy chưa một cuốn sách nào có thể tổng
kết một cách hoàn hảo. Do vậy, để góp phần giữ lại những kỳ án
và oan án điển hình của triều đại phong kiến Trung Hoa, chúng
tôi chỉ trích dẫn 12 truyện, bao gồm nhiều thời đại như Đường,
Tống, Minh, Thanh mà thôi. Rất mong được bạn đọc thông cảm.
Trân trọng
Người biên soạn
1
ĐỊCH NHÂN KIỆT
HUYỆN QUAN SÁNG SUỐT
Triều đại nhà Đường trải qua một thời gian dài thịnh trị với sự
cai trị anh minh của các Hoàng đế họ Lý. Thế nhưng dần dần ngồi
trên ngai vàng, dòng họ Lý mất dần tính cách anh hùng thao lược
của người đã sáng lập ra triều đại này là Lý Thế Dân, truyền ngôi
cho đến Duệ Tông Lý Đán thì triều chính bắt đầu suy đồi, tạo điều
kiện cho một người đàn bà vừa tuyệt sắc vừa có tham vọng điên
cuồng là Võ Minh cướp ngôi Hoàng đế, xưng là Võ Tắc Thiên
Thánh Thần Hoàng đế, thường được lịch sử gọi là đời Võ Hậu.
Trước đó, ở triều đại của Đường Cao Tông Lý Trị, nơi đất Thái
Châu đã sản sinh một nhân tài thông minh xuất chúng, học vấn
rộng rãi tên là Địch Nhân Kiệt. Không ai có thể ngờ rằng chính
ông là người đứng ra phục hưng triều đình nhà Đường sau này,
thoát khỏi bàn tay độc ác tàn nhẫn của Võ Tắc Thiên.
Với sự cần mẫn học hành, khi lớn lên Địch Nhân Kiệt thi đậu
kỳ thi Minh Kinh và được bổ nhiệm làm quan Tri huyện ở Xương
Bình. Tuy là một chức quan nhỏ nhưng Địch Nhân Kiệt vẫn tận
tâm lấy hết sức mình ra cai trị, chẳng bao lâu đã nổi tiếng là vị
quan công minh liêm khiết, được người dân ca tụng, kính trọng
xưng hô là Địch Công chứ không bao giờ dám gọi tên tục của ông
ra.
Một ngày kia Địch Công vừa mới thăng đường thì nghe có tiếng
náo loạn từ ngoài cổng, lập tức sai nha lại chạy ra xem. Hóa ra đó
là một đám đông đang lôi kéo chàng trai khoảng hơn 20 tuổi, ai
nấy đều kêu khóc đòi phải giết chàng trai đó giải oan cho người
nhà của họ, tất cả đều cư ngụ tại thôn Lục Lý Đôn. Địch Công liền
bắt những người hiếu kỳ ở ngoài, chỉ cho các đương đơn và bị can
liên hệ tới vụ án mạng vào công đường, quỳ dưới sân chia làm hai
bên.
Ông nhìn xem thì phía bên nguyên cáo là một phụ nữ đã khá
lớn tuổi, còn bên bị cáo là hai cha con, trong đó có một chàng trai
trẻ tuổi nhưng không phải người bị đám đông lôi kéo, chắc còn
đứng ở ngoài. Sau khi đôi bên đã ổn định, Địch Công liền hỏi lớn:
- Các bên khai tên tuổi ra trước đi, sau đó khiếu kiện gì thì hãy
nói rõ rồi trình bày các bằng chứng cho bản quan xét xử.
Người phụ nữ lớn tuổi chính là nguyên cáo nên vội vàng nói
trước, giọng nói còn nghẹn ngào chứng tỏ chưa sao trấn tĩnh được:
- Bẩm Tri huyện đại nhân, lão họ Lý, có chồng là học trò họ
Tại. Vợ chồng lão đã lớn tuổi mới sinh được đứa con gái tên là Lý
Lê Cô. Vì chồng chết sớm nên lão ở vậy khó nhọc nuôi con cho đến
khi khôn lớn. Để cho con gái có tấm chồng học thức, mai sau được
dựa bóng tùng phu làm vẻ vang cho gia đình, lão đã cất công nhờ
cậy ngài Sử Thanh Lai làm mai mối, lấy con trai của Cử nhân Hoa
Quốc Tường tên là Văn Tuấn.
Lý thị vốn là con nhà gia thế vọng tộc nên được người trong
huyện thường tôn xưng gọi bà bằng Lý phu nhân mặc dù người
chồng chưa có công danh gì thì đã qua đời. Nói đến đây Lý phu
nhân quay qua chỉ mặt chàng trai, vừa khóc vừa nói tiếp:
- Chính hắn là Hoa Văn Tuấn, đã thông đồng với gia đình họ
Hoa giết chết con gái của lão. Xin tri huyện đại nhân trừng trị.
Địch Công biết Lý phu nhân đang lúc xúc động lời lẽ không rõ
ràng nên cũng không chấp nhất, hỏi lại thì mới biết đám cưới của
hai họ Lý và Hoa diễn ra rất linh đình bởi đôi bên đều môn đăng
hộ đối. Thế nhưng chỉ ba ngày sau con dâu đã chết tại nhà chồng,
khi Lý phu nhân được tin đến nơi nhận thấy có nhiều dấu hiệu
khả nghi như người bị sưng phồng lên, da dẻ đều bầm tím, thất
khiếu đều có máu ứa ra. Vì vậy Lý phu nhân đề quyết họ Hoa đã
hạ độc giết chết con mình, kéo chú rể mới cùng với Cử nhân Hoa
Quốc Tường lên công đường kiện cáo.
Địch Công nghe xong, quay lại hỏi Hoa Quốc Tường:
- Theo lời tố cáo thì con dâu đang khỏe mạnh, về nhà chồng
mới ba ngày đã chết thảm thì thật đúng là án mạng rồi. Ông là
người có học vị của triều đình, tức là đã thông hiểu lễ nghĩa thánh
hiền, chắc không phải thủ phạm, có lẽ đã giáo huấn con cái không
nghiêm nên mới gây nên tội như vậy chăng? Hãy mau khai thực
ra đi kẻo bản quan dùng tới cực hình thì không tránh khỏi đau
đớn.
Hoa Quốc Tường cũng khóc, quỳ xuống thưa:
- Cử nhân tôi là người gia giáo, ngược đãi con dâu cũng chưa
dám nữa là xuống tay hạ thủ. Con trai tôi là Hoa Văn Tuấn tuy
chưa có công danh nhưng vẫn là học trò tính tình hiền lương,
trong huyện ai cũng biết, đâu thể nào là thủ phạm được? Con dâu
chết bất đắc kỳ tử, gia đình họ Hoa chúng tôi cũng vô cùng đau
xót, xin đại nhân sáng suốt tìm ra thủ phạm thì thật là đại ân đại
đức không bao giờ dám quên.
Nghe vậy Địch Công hoàn toàn không hiểu nổi tại sao lại xảy
ra cái chết thương tâm như vậy, hạch hỏi Quốc Tường:
- Ông nhất quyết cha con đều không thể là thủ phạm, vậy có
nghi ngờ cho ai không?
Hoa Quốc Tường gạt nước mắt thưa:
- Họ Hoa chúng tôi đề quyết đó là tên Hồ Tác Tân chứ không
sai.
Khi hỏi đến bằng chứng thì cả Lý phu nhân lẫn Hoa Quốc
Tường đều không đưa ra được, chỉ dựa vào một lời hăm dọa mà đề
quyết như vậy mà thôi. Nguyên lệ ở huyện này thường có mở tiệc
vui trong tân phòng, cho các thanh niên thiếu nữ vào vui đùa, nếu
tân lang và tân nương muốn yên thân hợp cẩn thì phải thuyết
phục hoặc năn nỉ nhiều lần mới thoát được sự quấy rối của các
thanh thiếu niên. Hoa Quốc Tường cũng theo lệ đó, cho khá nhiều
bạn đồng học với Văn Tuấn vào náo tân phòng. Trong số ấy có một
chàng trai tên là Hồ Tác Tân, tuy đã đậu Tú tài nhưng tính thích
náo động nên nhân dịp thấy tân nương xinh đẹp thì càng ra sức
trêu ghẹo phá phách, không cho họ động phòng, đến nửa đêm vẫn
còn uống rượu và bắt ép Văn Tuấn phải cùng vui với mình. Hoa
Quốc Tường thấy đêm đã khuya, sợ lỡ mất giờ tốt động phòng nên
mời tất cả lên thư phòng của mình tha hồ uống tiếp.
Bọn thanh niên liền bắt cô dâu uống ba chén lớn gọi là tạ lỗi rồi
mới bằng lòng rời khỏi tân phòng, thế nhưng chỉ riêng Hồ Tác Tân
nhất định không chịu nên Hoa Quốc Tường nổi giận nói mấy lời
nặng nề, đuổi ra khỏi nhà. Hồ Tác Tân xấu hổ quá hóa hung, trước
khi ra khỏi nhà còn hăm dọa: “Được rồi, trong ba ngày sẽ biết tay
họ Hồ này”.
Hoa Quốc Tường đã bớt nóng, sợ rằng Hồ Tác Tân giận mãi
nên ba ngày sau làm lễ lại mặt rồi, hoàn tất việc cưới xin liền mời
hắn đến uống trà làm hòa. Đúng đêm hôm ấy cô dâu Lý Lê Cô
trúng độc mà chết. Riêng Văn Tuấn vì không thích uống trà nên
toàn mạng. Theo suy đoán của hai họ thì chính Hồ Tác Tân đã hạ
độc trong trà chứ không ai khác, còn cách hạ độc như thế nào
không biết, xin quan Tri huyện khám phá giùm.
Địch Công liền hỏi:
- Tuy chưa có bằng chứng xác thực nhưng theo lời khai thì Hồ
Tác Tân cũng đã là nghi phạm, sao không giải tới đây?
Hoa Quốc Tường thưa:
- Chúng tôi đã bắt giữ hắn rồi, còn đứng ngoài cổng nha môn
chờ lệnh của đại nhân.
Địch Công lập tức ra lệnh, chỉ trong giây lát đã thấy chàng
thanh niên trẻ tuổi kia cùng với một phụ nữ trạc tuổi trung niên,
vừa khóc vừa đi vào, có lẽ đó là hai mẹ con. Thấy Hồ Tác Tân quỳ
xuống, Địch Công liền mắng phủ đầu:
- Ngươi đã là Tú tài thì theo lệ triều đình không bị tra khảo.
Thế nhưng ngươi cũng không dựa vào đó mà chối tội bởi đã có
nhiều bằng chứng chính ngươi đã hạ độc trả thù. Bản quan cũng
là người xuất thân từ khoa cử, vì vậy lấy lời lịch sự mong rằng
ngươi khai thật ra đi.
Hồ Tác Tân chợt khóc ngất, cúi lạy rồi thưa:
- Đại nhân đã nói rõ ràng như vậy thì Tú tài tôi xin thưa thật
rằng quả là oan ức. Đã là học trò thì lẽ nào chỉ vì một chuyện nhỏ
mà tôi có thể hạ độc được? Vả chăng theo lệ thì bạn bè được tha hồ
náo loạn tân phòng, có khi gia chủ hay tân lang phải năn nỉ hết lời
họ mới chịu rút lui. Đằng này khách có đến hơn 40 người mà Hoa
Cử nhân không trách một ai, cứ nhằm vào Tú tài tôi mà nói hãy
dừng cuộc quấy phá. Tôi cũng đã định làm theo lời nhưng lại sợ
người khác mất hết hứng thú nên có nói là sẽ vui chơi thêm ít nữa.
Chẳng ngờ Hoa Cử nhân đột ngột nổi nóng mắng như tát nước vào
mặt. Một học trò trọng danh dự như tôi thì làm sao chịu được nhục
nhã ấy, vì vậy cũng nóng mặt nói dọa để trả đũa, ý định là làm cho
họ Hoa phải lo lắng trong ba ngày bõ ghét. Vả chăng sáng ngày
thứ ba Hoa Cử nhân đã mời tôi đến uống trà, như thế là đã giải
hòa rồi, còn dám bỏ thuốc độc hay sao?
Thấy Địch Công chú ý lời mình nói, Hồ Tú tài thưa tiếp:
- Hiện Tú tài tôi dạy dỗ mấy đứa học trò trong nhà, dù gì cũng
là bậc sư phụ, chẳng lẽ đi làm chuyện phi pháp để thế gian chê
cười, học trò phỉ nhổ hay sao? Tôi lại phải nuôi mẹ già nhiều bệnh,
chữ hiếu đặt lên hàng đầu, chưa tính đến việc vợ con thì lẽ nào
ganh ghét vì bạn lấy được vợ đẹp? Vì vậy xin đại nhân minh xét,
đừng nghi cho học trò là kẻ giết người.
Khi Hồ Tú tài thưa xong thì đến lượt người mẹ cũng quỳ xuống
kêu khóc, đoan quyết rằng con mình từ trước đến nay chưa hề tỏ
ra là người độc ác, lại có chí tiến thủ vừa dạy học kiếm sống vừa
chăm chỉ học hành để mai sau đoạt lấy công danh, làm vinh hiển
cho dòng tộc. Bà mẹ của Hồ Tú tài vốn chỉ có một đứa con trai,
chồng chết sớm nên đặt hết hy vọng vào nó, nếu bây giờ bị khép
tội giết người thì thật oan uổng, bà cũng khó mà sống nổi, vì vậy
phải theo con đến công đường kêu nài.
Địch Công nghe xong ba lời khai thì hết sức phân vân, không
sao quyết định được, trong lòng thầm suy tính:
“Nghi phạm thứ nhất là Hồ Tác Tân. Thế nhưng việc quấy
nhiễu tân phòng tuy là hủ tục nhưng một người đã có chút học vị
như họ Hồ không thể vì chút hiềm khích mà dễ dàng ra tay hạ
độc. Vả chăng hắn làm như vậy tức là tự nhận tội hay sao bởi chỉ
có mấy người trong lúc uống trà mà thôi. Riêng họ Hoa được con
dâu xinh đẹp, mới ba ngày thì làm gì có xích mích đến nỗi phải
giết người? Tất cả chỉ do họ Lý quá phẫn uất vì cái chết đột ngột
của con dâu nên tố cáo cũng không thể trách họ được. Bây giờ lý lẽ
chưa có gì chắc chắn, nếu ta xử án vội vàng tất sẽ có người mắc
hàm oan, chi bằng tạm thời hoãn lại chờ tìm được chứng cứ khác
rồi xử sau cũng không muộn”.
Do đó Địch Công nói với Lý phu nhân:
- Cái chết của Lý thị chưa đầy đủ chứng cứ rõ ràng. Ngày mai
bản quan sẽ đến khám nghiệm tử thi rồi mới xem xét tình tiết
đúng sai được. Các ngươi cứ tạm về nhà đi, bao giờ xét xong bản
quan sẽ gọi đến công đường đối chất.
Địch Công lại nói với Hoa Quốc Tường:
- Còn ông thì về nhà nhớ giữ đúng hiện trường xảy ra vụ án,
đừng xê dịch hay thay đổi bất cứ thứ gì, dù nhỏ nhặt đến đâu cũng
phải để nguyên chỗ.
Nghe vậy tất cả đều bằng lòng, chỉ riêng Hồ Tác Tân là nghi
phạm thì bị giữ lại huyện đường khiến người mẹ khóc ngất, rất lâu
không chịu rời khỏi nha môn. Còn Hoa Quốc Tường theo lời dặn
của Địch Công, về tới nhà sai gia nhân chuyển hết đồ vật nhà sau
và nhà trước đi chỗ khác cho rộng rãi, riêng tân phòng thì vẫn giữ
nguyên không dám di chuyển bất cứ đồ đạc nào.
Ngày hôm sau Địch Công cùng với nha lại và chức dịch của
huyện kéo đến bày biện án thư ở nơi rộng rãi, chừa trống trước
mặt để quan huyện gọi người ra thẩm vấn. Hôm đó Lý phu nhân
cũng đến để xem tình hình ra sao, không còn trách cha con họ Hoa
nữa nhưng cứ khóc ngất từng hồi rất đau thương.
Địch Công uống trà rồi trước tiên gọi Hoa Văn Tuấn ra hỏi:
- Ngày thứ ba sau lễ cưới, uống trà xong ngươi cùng vợ về tân
phòng lúc mấy giờ? Lúc đó ngươi thấy tình trạng của vợ ra sao, có
lăn lộn kêu la hay không? Làm sao biết được ấm trà có thuốc độc
mà nghi ngờ cho Hồ Tác Tân đã hạ độc?
Hoa Văn Tuấn liền thưa:
- Ngày hôm ấy mở tiệc trà là để cảm ơn các khách đã có công
giúp cho lễ cưới hoàn thành, cũng là dịp để họ hàng đến chúc
mừng nên người đến rất đông. Vợ chồng học trò chúng tôi tiếp
khách cho đến khi mệt nhoài mới trở về tân phòng. Tân nương
thấy khát nước nên sai hầu gái cho mình một chén, xong rồi sửa
soạn chăn mền đi ngủ. Tiểu sinh cũng rất mệt nhưng tính không
thích uống trà nóng nên nằm ra giường ngủ thiếp đi. Đến canh ba,
tiểu sinh chợt nghe tiếng vợ kêu đau thì liền ngồi dậy, tưởng là ăn
thứ gì nên lạnh bụng mà thôi. Ngờ đâu nàng càng lúc càng đau
thêm, lăn lộn rên la dữ dội. Tiểu sinh đành phải trở dậy, định sai
gia nhân nhân đốt đèn đi tìm lang y nhưng còn ngần ngừ vì đêm
hôm khuya khoắt. Thế là được một lát thì vợ tiểu sinh qua đời.
Tiểu sinh liền nghĩ ngay đến chén trà vợ vừa uống, rót ra xem thử
thì nước trong ấm đen xì, rõ ràng là bị người hạ độc, có lẽ còn toan
tính giết cả tiểu sinh nữa đấy.
Địch Công hỏi tiếp:
- Việc ấy thì đương nhiên rồi, bây giờ phải tìm ra thủ phạm.
Trong ngày hôm ấy Hồ Tác Tân có vào tân phòng lần nào hay
không?
Hoa Văn Tuấn vì phải tiếp khách nhiều nên không nhớ chi tiết
này, Hoa Cử nhân liền đáp thay cho con:
- Buổi trưa Cử nhân tôi có thấy họ Hồ cùng vài người bạn vào
tân phòng.
Địch Công gật gù hỏi thêm:
- Trước lúc Hồ Tác Tân vào tân phòng thì ấm trà để ở chỗ nào?
Sau buổi trưa ấy con dâu có uống trà không hay là để đến tối?
Người nào đã pha ấm trà ấy? Ấm trà này được pha một lần hay
cạn rồi đổi nước khác?
Thật sự Hoa Cử nhân cũng rất bận rộn nên không thể trả lời
được một loạt câu hỏi hết sức chi tiết của Địch Công, đành phải
thú nhận rồi nhất định gán tội cho Hồ Tác Tân dựa theo lời hăm
dọa đêm động phòng hoa chúc, xin Địch Công cứ tra khảo thật dữ
vào tất hắn không chịu nổi mà khai ra.
Địch Công nghe vậy sầm mặt nói:
- Án mạng đâu chỉ là trò đùa, cần phải xem xét thật tỉ mỉ và
khách quan mới thấy được sự thật. Bản quan không thể vì một lời
hăm dọa mà có thể tra tấn một Tú tài, chắc chắn còn nhiều uẩn
khúc. Bây giờ hãy thẩm vấn tới các phù dâu trước đã.
Hoa Quốc Tường tưởng là Địch Công đã ăn đút lót nên cứ bênh
vực cho Hồ Tác Tân, lớn tiếng nói nhiều câu khinh miệt quan lại,
cho rằng rốt cuộc cũng chỉ là hư danh mà thôi. Hoa Quốc Tường
còn lấy danh vị Cử nhân ra đòi đưa vụ án lên quan cấp trên nếu
như Địch Công không tra xét đúng đắn. Địch Công nghe vậy hết
sức tức giận nhưng lại nghĩ Hoa Quốc Tường bị Lý phu nhân tố
cáo mất hết danh dự nên quá nóng ruột, nói bừa bãi mà thôi. Địch
Công lại nghĩ tới đêm tân hôn ấy, có lẽ chính Hoa Quốc Tường
cũng ỷ mình là người tuổi tác cao, học vị lớn hơn Hồ Tác Tân mà
buông ra những lời nặng nề, do vậy phản ứng của họ Hồ cũng là lẽ
tự nhiên, góp thêm phần chắc chắn là họ Hồ không phải là thủ
phạm. Địch Công nén giận nói với Hoa Quốc Tường:
- Bản huyện đặt ra nhiều nghi vấn không phải là muốn bênh
vực Hồ Tú tài mà chính là để tìm ra cái chết của con dâu ông mà
thôi. Việc này còn chưa khám nghiệm rõ ràng, sao phải nhất định
đưa người ra khảo đả. Nếu nhỡ như Hồ Tác Tân bị oan thì ông có
đền bù cho người ta được không?
Lời lẽ của Địch Công rất nghiêm nghị khiến Hoa Quốc Tường
im miệng không dám nói gì thêm nữa. Sau đó Địch Công gọi người
hầu gái thân cận nhất của nhà họ Lý là Cao thị ra thẩm vấn. Thế
nhưng Cao thị là người hầu từ lâu, chính tay bồng bế nâng niu Lý
Lê Cô, thậm chí được tin tưởng giao cho nhiệm vụ hầu hạ cả khi
tiểu thư đã về nhà chồng. Theo suy nghĩ của Địch Công thì một
người có nhân thân như thế tất không bao giờ lại xuống tay với
người mà mình đã yêu thương như con cái. Địch Công vẫn tiếp tục
thẩm vấn, hỏi:
- Thế là ngươi đã theo sát bên cô dâu lúc về nhà chồng. Vậy thì
ấm trà ấy có phải chính tay ngươi pha hay không? Và pha lần thứ
mấy.
Cao thị trả lời có vẻ thành thật:
- Trà buổi trưa không có mang vào tân phòng. Chính tay tiểu
dân pha trà vào buổi chiều, thấy uống hết thì pha thêm lần nữa
đem vào tân phòng.
Địch Công gật đầu hỏi:
- Đó là ấm trà pha lần thứ hai vào chiều tối. Sau khi mang trà
vào thì ngươi có túc trực ở đó hay là bỏ đi? Đã có ai uống trước khi
Lý tiểu thư uống chưa?
Cao thị đoan quyết là không rời khỏi tân phòng lần nào và
cũng không nhớ được có ai đã uống ấm trà ấy trước cả Lý tiểu thư
hay không. Do đó những lời khai này thành vô bổ, sự việc vẫn
không thể xét đoán được. Địch Công bèn nói với Hoa Quốc Tường:
- Rõ ràng là ấm trà giết người này được pha và mang vào tân
phòng từ buổi chiều, tức là khi Hồ Tác Tân đã ra về. Như vậy
không thể vì một lời nói lúc giận dữ mà đề quyết cho người ta tội
hạ độc giết người. Vụ án phải tạm hoãn trong một thời gian chờ
tìm ra chứng cứ mới. Các ngươi cứ chờ bao giờ nhận được lệnh gọi
thì lên công đường nghe phán quyết.
Nghe Địch Công phán bảo như vậy, cả nhà họ Lý lẫn nhà họ
Hoa đều khóc rầm lên, kêu xin hãy mau mau làm rõ án mạng, bắt
thủ phạm đền tội mới hả dạ. Địch Công rất khó chịu, bắt tất cả
mọi người tránh ra bên ngoài, đi một vòng quanh tân phòng xem
xét kỹ từng góc nhà, cây cột rồi sau đó mới gọi Hoa Quốc Tường
theo mình vào tân phòng.
Lúc ấy ấm trà vẫn để nguyên trên bàn, có mấy hầu gái đứng
quanh giường nơi xác của Lý tiểu thư nằm ở đó. Địch Công liền sai
một hầu gái lấy chén đem ra rót thử. Quả nhiên màu nước trà
khác hẳn thông thường, không những tím đen mà còn có mùi tanh
hôi thoang thoảng, lúc đó đã để trà nguội lâu rồi mới có thể nhận
ra. Muốn chứng nghiệm nước trà ấy có độc, Địch Công sai đem
một ít thức ăn ra trộn nước trà vào rồi đưa cho con chó trong nhà
ăn. Chỉ trong một thời gian ngắn, con chó đã lồng lên kêu rú điên
cuồng hình như bị đau lắm, một lúc sau thì vật ra chết. Địch Công
xem xét tình trạng con chó rồi so sánh với tình trạng khi chết của
Lý tiểu thư thì nhận ra loại thuốc độc này thật ghê gớm, lập tức
sai niêm phong lại.
Sau đó Địch Công ra ngoài, gọi tất cả các bên liên quan đến
nói:
- Đúng ra là phải mổ tử thi để khám nghiệm. Thế nhưng đôi
bên đều là dòng dõi thư hương, có chút danh phận, vì vậy nếu
khám nghiệm thì e rằng người sống lẫn người chết đều không yên.
Theo bản quan thì cứ ghi vào văn án là Lý tiểu thư chết vì trúng
độc. Còn trúng độc ra sao thì khi bắt được thủ phạm sẽ rõ ngay,
không cần phải khám nghiệm tử thi cho thêm đau xót.
Nghe vậy tất cả đều chấp nhận, ký vào biên bản xin được miễn
khám nghiệm tử thi, bắt đầu lo liệu việc khâm liệm, quàn lại trước
đem đi chôn cất. Chờ cho nhà đòn mang xác của Lý tiểu thư ra
ngoài khâm liệm, Địch Công mới thong thả bước vào tân phòng
lần nữa. Ông tiến đến gần giường người chết nằm, cúi sát xuống
thì ngửi thấy một mùi tanh nồng từ đó bốc lên nhưng không thể
xác quyết được loại chất độc ấy là gì. Ông phân vân đang định cho
khám xét dưới gầm giường thì chợt ở phía ngoài có tiếng la hoảng
của bọn phu khâm liệm:
- Trời ôi! Sao đã chết mà bụng còn máy động thế này, chắc là
quỷ nhập tràng rồi!
Khi Địch Công chạy ra tới nơi thì bọn phu đòn hầu như đã kinh
hoảng rời xa xác chết, ai nấy đều run rẩy như đã gặp ma giữa ban
ngày, Địch Công vốn rất can đảm, lập tức tiến đến gần tử thi xem
xét hồi lâu, chẳng hề thấy có chút gì khác lạ, bụng cũng không hề
máy động như lời la hoảng vừa rồi, bằng quay lại nói với mọi
người:
- Bản quan đã xét xử biết bao nhiêu vụ án mạng, có khi chết
còn thê thảm hơn thế này và vào giữa đêm khuya mà chưa lần nào
thấy ma quỷ lộng hành. Chẳng lẽ giữa ban ngày ban mặt, giữa
chốn đông đảo người sống lại dám tác quái hay sao? Chắc là bọn
phu phụ trách khâm liệm đêm qua uống rượu quá nhiều mờ cả
mắt nên hôm nay nhìn lầm đấy thôi.
Nghe vậy bọn phu nhà đòn mới cố bậm môi xúm lại khâm liệm
thật mau, lập tức đưa vào quan tài đóng chặt lại, hình chưa vẫn
chưa hết sợ hãi. Trước khi về huyện đường, Địch Công chợt nhớ lại
ý định khám xét dưới gầm giường vừa rồi, đích thân vào tân
phòng lần nữa, nhìn rất kỹ dưới gầm thì thấy mấy giọt máu còn
tươi, trong máu hình như có nhiều vật nhỏ chỉ bằng cái lông tơ
màu đen đang chuyển động. Địch Công xem xét kỹ rồi, trong lòng
đã có chủ định, lập tức ra ngoài truyền cho Hoa Quốc Tường phải
đưa Cao thị đến nha môn xét hỏi.
Thế nhưng khi về đến công đường, Địch Công không hề gọi Cao
thị ra thẩm vấn mà sai giam vào ngục dành cho nữ nhân, rồi sau
đó luôn mấy ngày không hề nhắc tới vụ án nữa. Mấy ngày không
thấy động tĩnh gì, Hoa Quốc Tường hết sức tức giận, nhất định lên
huyện hỏi cho ra lẽ, nếu Địch Công muốn ém nhẹm việc này thì sẽ
làm đơn thưa lên Án sát tỉnh.
Khi tới huyện đường Xương Bình, Hoa Quốc Tường chất vấn
Địch Công:
- Nếu không tìm ra được chứng cứ gì khác thì theo lẽ đại nhân
phải xuống lệnh tra khảo nghi phạm duy nhất là Hồ Tác Tân. Tại
sao lại loanh quanh hết thẩm vấn người này đến người kia. Cuối
cùng còn giam cả Cao thị là người hầu rất mực trung thành mà
vẫn không xét hỏi thì làm sao tìm được thủ phạm theo ý của đại
nhân đây. Cử nhân tôi tuy bất tài nhưng nếu đại nhân nhất định
cho chìm vụ án này thì sẽ lên tỉnh đệ đơn với cấp trên, khi ấy đại
nhân không thể trách lão được đâu.
Trước đó Địch Công đã bàn rất nhiều với viên Khổng mục họ
Mã, đưa ra bằng hết những lý luận nhưng cuối cùng vẫn không
thể chắc chắn được hung thủ là ai. Địch Công lại muốn nhờ Mã
Khổng mục tìm giùm cho mình một người giỏi về các chất độc để
xác quyết Lý tiểu thư chết vì loại thuốc gì, từ đó mới có đầu mối
mà thẩm vấn tìm ra sự thật. Vì vậy khi nghe Hoa Quốc Tường nói
lời nặng nề thì Địch Công ngầm tức giận, cố nhịn đáp lại:
- Bản quan chỉ muốn xét xử thật rõ ràng, không để oan sai xảy
ra. Vì vậy mới chần chừ chưa muốn đưa người ra thẩm vấn chứ
không hề bao che bất cứ người nào. Bản quan xuất thân từ khoa
mục, lấy tài năng của mình ra phục vụ cho triều đình, lại được ăn
lộc nước thì quyết phải làm gương sáng cho giới quan lại. Tuy
nhiên nếu Cử nhân muốn được nghe tận mắt việc thẩm vấn thì
bản quan cũng không tiếc gì mà chiều lòng.
Nói xong, Địch Công liền ra lệnh thăng đường, cho Hoa Quốc
Tường dự thính. Sau đó ông gọi Hồ Tác Tân ra, trừng mắt quát
hỏi:
- Bản huyện đã khám tử thi, rõ ràng là trúng phải chất kịch
độc mà chết. Cả hai bên trai gái đều đồng lòng tố cáo ngươi là thủ
phạm hạ độc. Vì vậy hãy khai thực ra đi, nếu không bản quan sẽ
áp dụng luật mà dùng tới hình cụ đấy.
Hồ Tác Tân bình tĩnh đáp lại:
- Học trò đã khai rõ từ trước là việc hăm dọa đùa chơi là có
thực nhưng hành động giết người thì nhất quyết không dám phạm
vào. Bây giờ đại nhân cứ bắt khai thì phải khai thế nào mới vừa
lòng đại nhân đây?
Địch Công đập án thư mắng lớn:
- Bản quan đã có lời khai của Cao thị là hôm ấy ngươi cùng
bạn bè rất thường ra vào tân phòng, như thế đã thừa đủ cơ hội hạ
độc vào ấm trà, còn chối được nữa sao?
Ngờ đâu Hồ Tác Tân cũng rất bén nhạy, chộp lấy câu nói đó
của Địch Công mà vặn:
- Đại nhân đã nói Tú tài tôi thỉnh thoảng cùng mấy người vào
tân phòng thì tại sao chỉ nghi ngờ mỗi mình tôi. Vả chăng nếu có
nhiều người như thế thì làm sao dám hạ độc? Tại sao người pha
ấm trà ấy không bị thẩm vấn, chắc chắn đó sẽ là đầu mối vụ án,
thế mà đại nhân bỏ qua định ép cung thì thật oan uổng quá.
Địch Công nổi giận quát:
- Thực giỏi cho ngươi! Đến trước công đường mà còn nhiều lời
vặn vẹo, chẳng coi bản quan ra gì? Nếu ngươi không khai thì cũng
được nhưng từ nay nhất thiết không được nói những lời như thế
nữa, bản quan là người đặt câu hỏi chứ không phải ngươi!
Hồ Tác Tân vội vàng xin lỗi Địch Công rồi xin được đối chứng
với những lời khai của Cao thị. Địch Công bằng lòng, lập tức sai
quân điệu Cao thị lên công đường rồi hỏi:
- Theo khiếu kiện của gia chủ ngươi thì Hồ Tác Tân đã hạ độc
để trả thù mấy câu nói nặng nề đêm tân hôn. Bây giờ ngươi cố nhớ
ra xem hắn đã hạ độc lúc nào?
Cao thị thưa:
- Hồ Tú tài ra vào tân phòng nhiều lần nhưng tính kỹ thì chỉ có
thời gian sau lúc lên đèn cho đến tối, sau đó họ đã ra về để cho tân
lang và tân nương nghỉ ngơi.
Hồ Tác Tân lập tức phản bác, mắng:
- Tên nô tài vô sỉ kia! Ngươi ăn lương của chủ rồi lẻo mép nói
theo, không biết đó là lời hại chết người hay sao? Từ lúc lên đèn
cho tới khi trời tối ta không hề bước chân vào tân phòng. Vả chăng
trong thời gian ấy không có ai vào uống trà hay sao? Ngươi hầu hạ
cô dâu thì phải biết khoảng thời gian ấy chú rể ra ngoài cảm ơn
các khách đến chúc mừng, cô dâu ở trong phòng một mình thì
người ăn học như ta há dám xông vào hay sao? Ngươi đã thấy ta
vào tân phòng một mình bao giờ chưa, nếu đi cùng nhiều người thì
làm sao hạ độc vào bình trà nằm lộ ra trên bàn? Không biết rõ thì
đừng có lắm lời dối trá vu oan giá họa mà trời đất thánh thần
khiến ngươi phải tuyệt tự đấy. Ấm trà ấy chính tay ngươi pha thì
chắc ngươi là thủ phạm rồi, cố đổ tội cho người khác đấy thôi. Bẩm
Tri huyện đại nhân. Theo tiểu sinh thì cứ tra khảo tên nô tài này
là rõ mọi chuyện ngay.
Cao thị nghe vậy mất hết hồn vía vì quả nhiên không thể nào
xác quyết được Hồ Tác Tân có cơ hội hạ độc, trong khi chính tay
mình pha trà, nếu Địch Công nghi ngờ mà tra khảo thì thật khó
mà biện bạch. Vì vậy nghe Hồ Tác Tân mắng như tát nước mà y
thị ngậm câm không đáp trả được lời nào.
Địch Công nhân cơ hội ấy nói luôn:
- Lời biện luận của Hồ Tú tài cũng khá chính xác. Cao thị!
Ngươi đã hạ độc vào ấm trà phải không? Ngươi thù oán gì mà dám
ra tay giết chết tân nương như thế?
Cao thị nghe vậy quỳ rạp xuống khấu đầu lạy như tế sao, kêu
khóc ầm trời, miệng thì kêu oan. Thật ra Địch Công chỉ muốn đưa
hai người này ra làm vừa lòng Hoa Quốc Tường mà thôi, nay họ
đều kêu oan thì liền truyền bãi đường, Hoa Quốc Tường cũng lặng
lẽ ra về, không còn khiếu nại nữa.
Sau khi ăn tối, Địch Công vẫn chưa hết suy nghĩ về vụ án,
chống cằm ngẫm nghĩ tìm đủ mọi ngóc ngách để xem có phát hiện
ra gì không, mãi đến khi đèn sắp hết dầu mà chưa ra một manh
mối nào khả dĩ. Lúc đó tên quân lo việc trực nhật vào châm thêm
dầu cho đèn, đồng thời cũng bưng một chén nước trà để quan
huyện giải khát. Địch Công mở nắp chén ra, bưng lên miệng định
uống, nhờ gần mắt nên chợt phát hiện ra chén trà có một lớp bụi
váng trên mặt. Tuy lớp váng này rất mỏng nhưng nó làm cho tâm
trí của Địch Công bừng sáng, ông vội gọi tên lính vào quát hỏi:
- Tại sao chén trà đậy nắp mà vẫn có váng bụi? Ngươi làm việc
thật vô ý vô tứ, ngày mai ta sẽ đuổi ngươi ra khỏi nha môn.
Tên lính sợ quá vội thưa:
- Lúc pha trà xong, tiểu nhân rót vào chén, đang định đậy nắp
thì chợt mái nhà bị rung rinh nhè nhẹ, tiểu nhân nhìn lên quan
sát thì không thấy gì hết nên vô tình đậy nắp lại mang lên dâng
cho đại nhân. Quả thực không dám làm việc cẩu thả.
Địch Công vui vẻ tha tội cho hắn rồi tắt đèn đi ngủ, trên miệng
nở một nụ cười khoan khoái. Sáng hôm sau Địch Công cho gọi Hoa
Quốc Tường lên công đường, cũng gọi cả Hồ Tác Tân lẫn Cao thị
nhưng chỉ thẩm vấn mỗi y thị mà thôi. Địch Công không quanh co,
hỏi ngay đến việc pha trà:
- Ngươi pha trà bằng nước gì, ai đã đun sôi và pha ở tân phòng
hay dưới bếp?
Cao thị khá ngạc nhiên vì những câu hỏi nhỏ nhặt này, thành
thực đáp:
- Theo lệ của nhà họ Hoa thì không bao giờ mua trà ở ngoài,
mỗi khi có việc đều sai gia nhân tự nấu nước rồi tự pha trà. Vì
khách khứa đến quá đông nên bếp không còn chỗ, tiểu nhân phải
sai một người khác xuống gian nhà bỏ trống phía sau vườn mà
đun nước, sau đó đem nước sôi đến tân phòng tự tay tiểu nhân pha
trà, không dám để người khác làm thay.
Địch Công nghe xong vui vẻ nói với Hoa Quốc Tường:
- Bây giờ ông có thể về đượ...
—★—
Biên soạn: Huyền Cơ
Phát hành: Nhà sách Văn Chương
Nhà xuất bản Thời Đại 2012
ebook©vctvegroup
31-03-2019
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỤC LỤC
THAY LỜI TỰA
1 ĐỊCH NHÂN KIỆT HUYỆN QUAN SÁNG SUỐT
2 BAO CÔNG ĐỆ NHẤT PHÁN QUAN
3 BAO THANH THIÊN LINH MIÊU HOÁN CHÚA
4 TỐNG TỪ ĐẶT NỀN TẢNG PHÁP Y HỌC
5 HÀ VIÊN NGOẠI GIAN NGOAN XẢO QUYỆT
6 HÀN THỤY LONG ĐƯỢC VÀNG MẮC TỘI
7 NGÔ NGỌC SÁT NHÂN GIẤU XÁC
8 TIÊU SINH THẢM KỊCH GIA ĐÌNH
9 LAI PHÁP NGƯỜI NGAY ĐƯỢC PHÚC
10 LÝ TRINH TÚ HÀM OAN GIẾT CHỒNG
11 SỬ MINH XÉT ÁN TỎ TƯỜNG
12 BẠCH LƯƠNG NGỌC TRA THỔ THẦN PHÁ ÁN
THAY LỜI TỰA
Với chiều dài lịch sử hơn 5000 năm, các triều đại phong kiến
Trung Hoa xưa kia chắc chắn phải đối mặt với muôn vàn vụ án
khó khăn, tế nhị và không ít vụ án phán đoán sai lệch, làm cho
nhiều người khác bị hàm oan, bởi thiếu rất nhiều lý luận khoa học
như ngày nay. Tuy nhiên, cũng không ít các phán quan công minh
sáng suốt xuất hiện, giúp cho người dân giải được hàm oan. Nổi
bật nhất trong các phán quan là Bao Chửng, được dân gian biết
đến qua tên Bao Công ở đời Bắc Tống. Sau đó đến thời Nam Tống,
một phán quan khác còn nhiều công lao hơn, đó là Tống Từ, không
những lấy việc giải oan cho người dân làm niềm đam mê mà còn có
tinh thần rất tiến bộ, lấy pháp y học ra làm chứng cứ kết tội hoặc
giải oan.
Trong khi Tây phương mãi đến thế kỷ thứ 17, 18 mới có hai
nhà nghiên cứu pháp y học người Italia đứng ra phổ biến thì Tống
Từ đã biết đến phương pháp khoa học này từ hơn 450 năm trước.
Sau khi Tống Từ qua đời vào năm 1247, tức là vào thế kỷ thứ 13,
ông để lại cuốn “Tẩy oan lục” rất có giá trị, giúp những phán quan
đời sau có thêm tư liệu để hoàn thiện phương pháp để xử án. Trải
qua mấy trăm năm nữa, hệ thống dùng Pháp Y học làm chứng cứ
xét án đã được phát triển rất mạnh và lên tới tột đỉnh vào các đời
nhà Minh, Thanh với rất nhiều vị phán quan sáng suốt chẳng kém
Bao Công.
Số lượng các vụ án ly kỳ trong lịch sử phong kiến Trung Hoa có
thể lên đến hàng vạn, vì vậy chưa một cuốn sách nào có thể tổng
kết một cách hoàn hảo. Do vậy, để góp phần giữ lại những kỳ án
và oan án điển hình của triều đại phong kiến Trung Hoa, chúng
tôi chỉ trích dẫn 12 truyện, bao gồm nhiều thời đại như Đường,
Tống, Minh, Thanh mà thôi. Rất mong được bạn đọc thông cảm.
Trân trọng
Người biên soạn
1
ĐỊCH NHÂN KIỆT
HUYỆN QUAN SÁNG SUỐT
Triều đại nhà Đường trải qua một thời gian dài thịnh trị với sự
cai trị anh minh của các Hoàng đế họ Lý. Thế nhưng dần dần ngồi
trên ngai vàng, dòng họ Lý mất dần tính cách anh hùng thao lược
của người đã sáng lập ra triều đại này là Lý Thế Dân, truyền ngôi
cho đến Duệ Tông Lý Đán thì triều chính bắt đầu suy đồi, tạo điều
kiện cho một người đàn bà vừa tuyệt sắc vừa có tham vọng điên
cuồng là Võ Minh cướp ngôi Hoàng đế, xưng là Võ Tắc Thiên
Thánh Thần Hoàng đế, thường được lịch sử gọi là đời Võ Hậu.
Trước đó, ở triều đại của Đường Cao Tông Lý Trị, nơi đất Thái
Châu đã sản sinh một nhân tài thông minh xuất chúng, học vấn
rộng rãi tên là Địch Nhân Kiệt. Không ai có thể ngờ rằng chính
ông là người đứng ra phục hưng triều đình nhà Đường sau này,
thoát khỏi bàn tay độc ác tàn nhẫn của Võ Tắc Thiên.
Với sự cần mẫn học hành, khi lớn lên Địch Nhân Kiệt thi đậu
kỳ thi Minh Kinh và được bổ nhiệm làm quan Tri huyện ở Xương
Bình. Tuy là một chức quan nhỏ nhưng Địch Nhân Kiệt vẫn tận
tâm lấy hết sức mình ra cai trị, chẳng bao lâu đã nổi tiếng là vị
quan công minh liêm khiết, được người dân ca tụng, kính trọng
xưng hô là Địch Công chứ không bao giờ dám gọi tên tục của ông
ra.
Một ngày kia Địch Công vừa mới thăng đường thì nghe có tiếng
náo loạn từ ngoài cổng, lập tức sai nha lại chạy ra xem. Hóa ra đó
là một đám đông đang lôi kéo chàng trai khoảng hơn 20 tuổi, ai
nấy đều kêu khóc đòi phải giết chàng trai đó giải oan cho người
nhà của họ, tất cả đều cư ngụ tại thôn Lục Lý Đôn. Địch Công liền
bắt những người hiếu kỳ ở ngoài, chỉ cho các đương đơn và bị can
liên hệ tới vụ án mạng vào công đường, quỳ dưới sân chia làm hai
bên.
Ông nhìn xem thì phía bên nguyên cáo là một phụ nữ đã khá
lớn tuổi, còn bên bị cáo là hai cha con, trong đó có một chàng trai
trẻ tuổi nhưng không phải người bị đám đông lôi kéo, chắc còn
đứng ở ngoài. Sau khi đôi bên đã ổn định, Địch Công liền hỏi lớn:
- Các bên khai tên tuổi ra trước đi, sau đó khiếu kiện gì thì hãy
nói rõ rồi trình bày các bằng chứng cho bản quan xét xử.
Người phụ nữ lớn tuổi chính là nguyên cáo nên vội vàng nói
trước, giọng nói còn nghẹn ngào chứng tỏ chưa sao trấn tĩnh được:
- Bẩm Tri huyện đại nhân, lão họ Lý, có chồng là học trò họ
Tại. Vợ chồng lão đã lớn tuổi mới sinh được đứa con gái tên là Lý
Lê Cô. Vì chồng chết sớm nên lão ở vậy khó nhọc nuôi con cho đến
khi khôn lớn. Để cho con gái có tấm chồng học thức, mai sau được
dựa bóng tùng phu làm vẻ vang cho gia đình, lão đã cất công nhờ
cậy ngài Sử Thanh Lai làm mai mối, lấy con trai của Cử nhân Hoa
Quốc Tường tên là Văn Tuấn.
Lý thị vốn là con nhà gia thế vọng tộc nên được người trong
huyện thường tôn xưng gọi bà bằng Lý phu nhân mặc dù người
chồng chưa có công danh gì thì đã qua đời. Nói đến đây Lý phu
nhân quay qua chỉ mặt chàng trai, vừa khóc vừa nói tiếp:
- Chính hắn là Hoa Văn Tuấn, đã thông đồng với gia đình họ
Hoa giết chết con gái của lão. Xin tri huyện đại nhân trừng trị.
Địch Công biết Lý phu nhân đang lúc xúc động lời lẽ không rõ
ràng nên cũng không chấp nhất, hỏi lại thì mới biết đám cưới của
hai họ Lý và Hoa diễn ra rất linh đình bởi đôi bên đều môn đăng
hộ đối. Thế nhưng chỉ ba ngày sau con dâu đã chết tại nhà chồng,
khi Lý phu nhân được tin đến nơi nhận thấy có nhiều dấu hiệu
khả nghi như người bị sưng phồng lên, da dẻ đều bầm tím, thất
khiếu đều có máu ứa ra. Vì vậy Lý phu nhân đề quyết họ Hoa đã
hạ độc giết chết con mình, kéo chú rể mới cùng với Cử nhân Hoa
Quốc Tường lên công đường kiện cáo.
Địch Công nghe xong, quay lại hỏi Hoa Quốc Tường:
- Theo lời tố cáo thì con dâu đang khỏe mạnh, về nhà chồng
mới ba ngày đã chết thảm thì thật đúng là án mạng rồi. Ông là
người có học vị của triều đình, tức là đã thông hiểu lễ nghĩa thánh
hiền, chắc không phải thủ phạm, có lẽ đã giáo huấn con cái không
nghiêm nên mới gây nên tội như vậy chăng? Hãy mau khai thực
ra đi kẻo bản quan dùng tới cực hình thì không tránh khỏi đau
đớn.
Hoa Quốc Tường cũng khóc, quỳ xuống thưa:
- Cử nhân tôi là người gia giáo, ngược đãi con dâu cũng chưa
dám nữa là xuống tay hạ thủ. Con trai tôi là Hoa Văn Tuấn tuy
chưa có công danh nhưng vẫn là học trò tính tình hiền lương,
trong huyện ai cũng biết, đâu thể nào là thủ phạm được? Con dâu
chết bất đắc kỳ tử, gia đình họ Hoa chúng tôi cũng vô cùng đau
xót, xin đại nhân sáng suốt tìm ra thủ phạm thì thật là đại ân đại
đức không bao giờ dám quên.
Nghe vậy Địch Công hoàn toàn không hiểu nổi tại sao lại xảy
ra cái chết thương tâm như vậy, hạch hỏi Quốc Tường:
- Ông nhất quyết cha con đều không thể là thủ phạm, vậy có
nghi ngờ cho ai không?
Hoa Quốc Tường gạt nước mắt thưa:
- Họ Hoa chúng tôi đề quyết đó là tên Hồ Tác Tân chứ không
sai.
Khi hỏi đến bằng chứng thì cả Lý phu nhân lẫn Hoa Quốc
Tường đều không đưa ra được, chỉ dựa vào một lời hăm dọa mà đề
quyết như vậy mà thôi. Nguyên lệ ở huyện này thường có mở tiệc
vui trong tân phòng, cho các thanh niên thiếu nữ vào vui đùa, nếu
tân lang và tân nương muốn yên thân hợp cẩn thì phải thuyết
phục hoặc năn nỉ nhiều lần mới thoát được sự quấy rối của các
thanh thiếu niên. Hoa Quốc Tường cũng theo lệ đó, cho khá nhiều
bạn đồng học với Văn Tuấn vào náo tân phòng. Trong số ấy có một
chàng trai tên là Hồ Tác Tân, tuy đã đậu Tú tài nhưng tính thích
náo động nên nhân dịp thấy tân nương xinh đẹp thì càng ra sức
trêu ghẹo phá phách, không cho họ động phòng, đến nửa đêm vẫn
còn uống rượu và bắt ép Văn Tuấn phải cùng vui với mình. Hoa
Quốc Tường thấy đêm đã khuya, sợ lỡ mất giờ tốt động phòng nên
mời tất cả lên thư phòng của mình tha hồ uống tiếp.
Bọn thanh niên liền bắt cô dâu uống ba chén lớn gọi là tạ lỗi rồi
mới bằng lòng rời khỏi tân phòng, thế nhưng chỉ riêng Hồ Tác Tân
nhất định không chịu nên Hoa Quốc Tường nổi giận nói mấy lời
nặng nề, đuổi ra khỏi nhà. Hồ Tác Tân xấu hổ quá hóa hung, trước
khi ra khỏi nhà còn hăm dọa: “Được rồi, trong ba ngày sẽ biết tay
họ Hồ này”.
Hoa Quốc Tường đã bớt nóng, sợ rằng Hồ Tác Tân giận mãi
nên ba ngày sau làm lễ lại mặt rồi, hoàn tất việc cưới xin liền mời
hắn đến uống trà làm hòa. Đúng đêm hôm ấy cô dâu Lý Lê Cô
trúng độc mà chết. Riêng Văn Tuấn vì không thích uống trà nên
toàn mạng. Theo suy đoán của hai họ thì chính Hồ Tác Tân đã hạ
độc trong trà chứ không ai khác, còn cách hạ độc như thế nào
không biết, xin quan Tri huyện khám phá giùm.
Địch Công liền hỏi:
- Tuy chưa có bằng chứng xác thực nhưng theo lời khai thì Hồ
Tác Tân cũng đã là nghi phạm, sao không giải tới đây?
Hoa Quốc Tường thưa:
- Chúng tôi đã bắt giữ hắn rồi, còn đứng ngoài cổng nha môn
chờ lệnh của đại nhân.
Địch Công lập tức ra lệnh, chỉ trong giây lát đã thấy chàng
thanh niên trẻ tuổi kia cùng với một phụ nữ trạc tuổi trung niên,
vừa khóc vừa đi vào, có lẽ đó là hai mẹ con. Thấy Hồ Tác Tân quỳ
xuống, Địch Công liền mắng phủ đầu:
- Ngươi đã là Tú tài thì theo lệ triều đình không bị tra khảo.
Thế nhưng ngươi cũng không dựa vào đó mà chối tội bởi đã có
nhiều bằng chứng chính ngươi đã hạ độc trả thù. Bản quan cũng
là người xuất thân từ khoa cử, vì vậy lấy lời lịch sự mong rằng
ngươi khai thật ra đi.
Hồ Tác Tân chợt khóc ngất, cúi lạy rồi thưa:
- Đại nhân đã nói rõ ràng như vậy thì Tú tài tôi xin thưa thật
rằng quả là oan ức. Đã là học trò thì lẽ nào chỉ vì một chuyện nhỏ
mà tôi có thể hạ độc được? Vả chăng theo lệ thì bạn bè được tha hồ
náo loạn tân phòng, có khi gia chủ hay tân lang phải năn nỉ hết lời
họ mới chịu rút lui. Đằng này khách có đến hơn 40 người mà Hoa
Cử nhân không trách một ai, cứ nhằm vào Tú tài tôi mà nói hãy
dừng cuộc quấy phá. Tôi cũng đã định làm theo lời nhưng lại sợ
người khác mất hết hứng thú nên có nói là sẽ vui chơi thêm ít nữa.
Chẳng ngờ Hoa Cử nhân đột ngột nổi nóng mắng như tát nước vào
mặt. Một học trò trọng danh dự như tôi thì làm sao chịu được nhục
nhã ấy, vì vậy cũng nóng mặt nói dọa để trả đũa, ý định là làm cho
họ Hoa phải lo lắng trong ba ngày bõ ghét. Vả chăng sáng ngày
thứ ba Hoa Cử nhân đã mời tôi đến uống trà, như thế là đã giải
hòa rồi, còn dám bỏ thuốc độc hay sao?
Thấy Địch Công chú ý lời mình nói, Hồ Tú tài thưa tiếp:
- Hiện Tú tài tôi dạy dỗ mấy đứa học trò trong nhà, dù gì cũng
là bậc sư phụ, chẳng lẽ đi làm chuyện phi pháp để thế gian chê
cười, học trò phỉ nhổ hay sao? Tôi lại phải nuôi mẹ già nhiều bệnh,
chữ hiếu đặt lên hàng đầu, chưa tính đến việc vợ con thì lẽ nào
ganh ghét vì bạn lấy được vợ đẹp? Vì vậy xin đại nhân minh xét,
đừng nghi cho học trò là kẻ giết người.
Khi Hồ Tú tài thưa xong thì đến lượt người mẹ cũng quỳ xuống
kêu khóc, đoan quyết rằng con mình từ trước đến nay chưa hề tỏ
ra là người độc ác, lại có chí tiến thủ vừa dạy học kiếm sống vừa
chăm chỉ học hành để mai sau đoạt lấy công danh, làm vinh hiển
cho dòng tộc. Bà mẹ của Hồ Tú tài vốn chỉ có một đứa con trai,
chồng chết sớm nên đặt hết hy vọng vào nó, nếu bây giờ bị khép
tội giết người thì thật oan uổng, bà cũng khó mà sống nổi, vì vậy
phải theo con đến công đường kêu nài.
Địch Công nghe xong ba lời khai thì hết sức phân vân, không
sao quyết định được, trong lòng thầm suy tính:
“Nghi phạm thứ nhất là Hồ Tác Tân. Thế nhưng việc quấy
nhiễu tân phòng tuy là hủ tục nhưng một người đã có chút học vị
như họ Hồ không thể vì chút hiềm khích mà dễ dàng ra tay hạ
độc. Vả chăng hắn làm như vậy tức là tự nhận tội hay sao bởi chỉ
có mấy người trong lúc uống trà mà thôi. Riêng họ Hoa được con
dâu xinh đẹp, mới ba ngày thì làm gì có xích mích đến nỗi phải
giết người? Tất cả chỉ do họ Lý quá phẫn uất vì cái chết đột ngột
của con dâu nên tố cáo cũng không thể trách họ được. Bây giờ lý lẽ
chưa có gì chắc chắn, nếu ta xử án vội vàng tất sẽ có người mắc
hàm oan, chi bằng tạm thời hoãn lại chờ tìm được chứng cứ khác
rồi xử sau cũng không muộn”.
Do đó Địch Công nói với Lý phu nhân:
- Cái chết của Lý thị chưa đầy đủ chứng cứ rõ ràng. Ngày mai
bản quan sẽ đến khám nghiệm tử thi rồi mới xem xét tình tiết
đúng sai được. Các ngươi cứ tạm về nhà đi, bao giờ xét xong bản
quan sẽ gọi đến công đường đối chất.
Địch Công lại nói với Hoa Quốc Tường:
- Còn ông thì về nhà nhớ giữ đúng hiện trường xảy ra vụ án,
đừng xê dịch hay thay đổi bất cứ thứ gì, dù nhỏ nhặt đến đâu cũng
phải để nguyên chỗ.
Nghe vậy tất cả đều bằng lòng, chỉ riêng Hồ Tác Tân là nghi
phạm thì bị giữ lại huyện đường khiến người mẹ khóc ngất, rất lâu
không chịu rời khỏi nha môn. Còn Hoa Quốc Tường theo lời dặn
của Địch Công, về tới nhà sai gia nhân chuyển hết đồ vật nhà sau
và nhà trước đi chỗ khác cho rộng rãi, riêng tân phòng thì vẫn giữ
nguyên không dám di chuyển bất cứ đồ đạc nào.
Ngày hôm sau Địch Công cùng với nha lại và chức dịch của
huyện kéo đến bày biện án thư ở nơi rộng rãi, chừa trống trước
mặt để quan huyện gọi người ra thẩm vấn. Hôm đó Lý phu nhân
cũng đến để xem tình hình ra sao, không còn trách cha con họ Hoa
nữa nhưng cứ khóc ngất từng hồi rất đau thương.
Địch Công uống trà rồi trước tiên gọi Hoa Văn Tuấn ra hỏi:
- Ngày thứ ba sau lễ cưới, uống trà xong ngươi cùng vợ về tân
phòng lúc mấy giờ? Lúc đó ngươi thấy tình trạng của vợ ra sao, có
lăn lộn kêu la hay không? Làm sao biết được ấm trà có thuốc độc
mà nghi ngờ cho Hồ Tác Tân đã hạ độc?
Hoa Văn Tuấn liền thưa:
- Ngày hôm ấy mở tiệc trà là để cảm ơn các khách đã có công
giúp cho lễ cưới hoàn thành, cũng là dịp để họ hàng đến chúc
mừng nên người đến rất đông. Vợ chồng học trò chúng tôi tiếp
khách cho đến khi mệt nhoài mới trở về tân phòng. Tân nương
thấy khát nước nên sai hầu gái cho mình một chén, xong rồi sửa
soạn chăn mền đi ngủ. Tiểu sinh cũng rất mệt nhưng tính không
thích uống trà nóng nên nằm ra giường ngủ thiếp đi. Đến canh ba,
tiểu sinh chợt nghe tiếng vợ kêu đau thì liền ngồi dậy, tưởng là ăn
thứ gì nên lạnh bụng mà thôi. Ngờ đâu nàng càng lúc càng đau
thêm, lăn lộn rên la dữ dội. Tiểu sinh đành phải trở dậy, định sai
gia nhân nhân đốt đèn đi tìm lang y nhưng còn ngần ngừ vì đêm
hôm khuya khoắt. Thế là được một lát thì vợ tiểu sinh qua đời.
Tiểu sinh liền nghĩ ngay đến chén trà vợ vừa uống, rót ra xem thử
thì nước trong ấm đen xì, rõ ràng là bị người hạ độc, có lẽ còn toan
tính giết cả tiểu sinh nữa đấy.
Địch Công hỏi tiếp:
- Việc ấy thì đương nhiên rồi, bây giờ phải tìm ra thủ phạm.
Trong ngày hôm ấy Hồ Tác Tân có vào tân phòng lần nào hay
không?
Hoa Văn Tuấn vì phải tiếp khách nhiều nên không nhớ chi tiết
này, Hoa Cử nhân liền đáp thay cho con:
- Buổi trưa Cử nhân tôi có thấy họ Hồ cùng vài người bạn vào
tân phòng.
Địch Công gật gù hỏi thêm:
- Trước lúc Hồ Tác Tân vào tân phòng thì ấm trà để ở chỗ nào?
Sau buổi trưa ấy con dâu có uống trà không hay là để đến tối?
Người nào đã pha ấm trà ấy? Ấm trà này được pha một lần hay
cạn rồi đổi nước khác?
Thật sự Hoa Cử nhân cũng rất bận rộn nên không thể trả lời
được một loạt câu hỏi hết sức chi tiết của Địch Công, đành phải
thú nhận rồi nhất định gán tội cho Hồ Tác Tân dựa theo lời hăm
dọa đêm động phòng hoa chúc, xin Địch Công cứ tra khảo thật dữ
vào tất hắn không chịu nổi mà khai ra.
Địch Công nghe vậy sầm mặt nói:
- Án mạng đâu chỉ là trò đùa, cần phải xem xét thật tỉ mỉ và
khách quan mới thấy được sự thật. Bản quan không thể vì một lời
hăm dọa mà có thể tra tấn một Tú tài, chắc chắn còn nhiều uẩn
khúc. Bây giờ hãy thẩm vấn tới các phù dâu trước đã.
Hoa Quốc Tường tưởng là Địch Công đã ăn đút lót nên cứ bênh
vực cho Hồ Tác Tân, lớn tiếng nói nhiều câu khinh miệt quan lại,
cho rằng rốt cuộc cũng chỉ là hư danh mà thôi. Hoa Quốc Tường
còn lấy danh vị Cử nhân ra đòi đưa vụ án lên quan cấp trên nếu
như Địch Công không tra xét đúng đắn. Địch Công nghe vậy hết
sức tức giận nhưng lại nghĩ Hoa Quốc Tường bị Lý phu nhân tố
cáo mất hết danh dự nên quá nóng ruột, nói bừa bãi mà thôi. Địch
Công lại nghĩ tới đêm tân hôn ấy, có lẽ chính Hoa Quốc Tường
cũng ỷ mình là người tuổi tác cao, học vị lớn hơn Hồ Tác Tân mà
buông ra những lời nặng nề, do vậy phản ứng của họ Hồ cũng là lẽ
tự nhiên, góp thêm phần chắc chắn là họ Hồ không phải là thủ
phạm. Địch Công nén giận nói với Hoa Quốc Tường:
- Bản huyện đặt ra nhiều nghi vấn không phải là muốn bênh
vực Hồ Tú tài mà chính là để tìm ra cái chết của con dâu ông mà
thôi. Việc này còn chưa khám nghiệm rõ ràng, sao phải nhất định
đưa người ra khảo đả. Nếu nhỡ như Hồ Tác Tân bị oan thì ông có
đền bù cho người ta được không?
Lời lẽ của Địch Công rất nghiêm nghị khiến Hoa Quốc Tường
im miệng không dám nói gì thêm nữa. Sau đó Địch Công gọi người
hầu gái thân cận nhất của nhà họ Lý là Cao thị ra thẩm vấn. Thế
nhưng Cao thị là người hầu từ lâu, chính tay bồng bế nâng niu Lý
Lê Cô, thậm chí được tin tưởng giao cho nhiệm vụ hầu hạ cả khi
tiểu thư đã về nhà chồng. Theo suy nghĩ của Địch Công thì một
người có nhân thân như thế tất không bao giờ lại xuống tay với
người mà mình đã yêu thương như con cái. Địch Công vẫn tiếp tục
thẩm vấn, hỏi:
- Thế là ngươi đã theo sát bên cô dâu lúc về nhà chồng. Vậy thì
ấm trà ấy có phải chính tay ngươi pha hay không? Và pha lần thứ
mấy.
Cao thị trả lời có vẻ thành thật:
- Trà buổi trưa không có mang vào tân phòng. Chính tay tiểu
dân pha trà vào buổi chiều, thấy uống hết thì pha thêm lần nữa
đem vào tân phòng.
Địch Công gật đầu hỏi:
- Đó là ấm trà pha lần thứ hai vào chiều tối. Sau khi mang trà
vào thì ngươi có túc trực ở đó hay là bỏ đi? Đã có ai uống trước khi
Lý tiểu thư uống chưa?
Cao thị đoan quyết là không rời khỏi tân phòng lần nào và
cũng không nhớ được có ai đã uống ấm trà ấy trước cả Lý tiểu thư
hay không. Do đó những lời khai này thành vô bổ, sự việc vẫn
không thể xét đoán được. Địch Công bèn nói với Hoa Quốc Tường:
- Rõ ràng là ấm trà giết người này được pha và mang vào tân
phòng từ buổi chiều, tức là khi Hồ Tác Tân đã ra về. Như vậy
không thể vì một lời nói lúc giận dữ mà đề quyết cho người ta tội
hạ độc giết người. Vụ án phải tạm hoãn trong một thời gian chờ
tìm ra chứng cứ mới. Các ngươi cứ chờ bao giờ nhận được lệnh gọi
thì lên công đường nghe phán quyết.
Nghe Địch Công phán bảo như vậy, cả nhà họ Lý lẫn nhà họ
Hoa đều khóc rầm lên, kêu xin hãy mau mau làm rõ án mạng, bắt
thủ phạm đền tội mới hả dạ. Địch Công rất khó chịu, bắt tất cả
mọi người tránh ra bên ngoài, đi một vòng quanh tân phòng xem
xét kỹ từng góc nhà, cây cột rồi sau đó mới gọi Hoa Quốc Tường
theo mình vào tân phòng.
Lúc ấy ấm trà vẫn để nguyên trên bàn, có mấy hầu gái đứng
quanh giường nơi xác của Lý tiểu thư nằm ở đó. Địch Công liền sai
một hầu gái lấy chén đem ra rót thử. Quả nhiên màu nước trà
khác hẳn thông thường, không những tím đen mà còn có mùi tanh
hôi thoang thoảng, lúc đó đã để trà nguội lâu rồi mới có thể nhận
ra. Muốn chứng nghiệm nước trà ấy có độc, Địch Công sai đem
một ít thức ăn ra trộn nước trà vào rồi đưa cho con chó trong nhà
ăn. Chỉ trong một thời gian ngắn, con chó đã lồng lên kêu rú điên
cuồng hình như bị đau lắm, một lúc sau thì vật ra chết. Địch Công
xem xét tình trạng con chó rồi so sánh với tình trạng khi chết của
Lý tiểu thư thì nhận ra loại thuốc độc này thật ghê gớm, lập tức
sai niêm phong lại.
Sau đó Địch Công ra ngoài, gọi tất cả các bên liên quan đến
nói:
- Đúng ra là phải mổ tử thi để khám nghiệm. Thế nhưng đôi
bên đều là dòng dõi thư hương, có chút danh phận, vì vậy nếu
khám nghiệm thì e rằng người sống lẫn người chết đều không yên.
Theo bản quan thì cứ ghi vào văn án là Lý tiểu thư chết vì trúng
độc. Còn trúng độc ra sao thì khi bắt được thủ phạm sẽ rõ ngay,
không cần phải khám nghiệm tử thi cho thêm đau xót.
Nghe vậy tất cả đều chấp nhận, ký vào biên bản xin được miễn
khám nghiệm tử thi, bắt đầu lo liệu việc khâm liệm, quàn lại trước
đem đi chôn cất. Chờ cho nhà đòn mang xác của Lý tiểu thư ra
ngoài khâm liệm, Địch Công mới thong thả bước vào tân phòng
lần nữa. Ông tiến đến gần giường người chết nằm, cúi sát xuống
thì ngửi thấy một mùi tanh nồng từ đó bốc lên nhưng không thể
xác quyết được loại chất độc ấy là gì. Ông phân vân đang định cho
khám xét dưới gầm giường thì chợt ở phía ngoài có tiếng la hoảng
của bọn phu khâm liệm:
- Trời ôi! Sao đã chết mà bụng còn máy động thế này, chắc là
quỷ nhập tràng rồi!
Khi Địch Công chạy ra tới nơi thì bọn phu đòn hầu như đã kinh
hoảng rời xa xác chết, ai nấy đều run rẩy như đã gặp ma giữa ban
ngày, Địch Công vốn rất can đảm, lập tức tiến đến gần tử thi xem
xét hồi lâu, chẳng hề thấy có chút gì khác lạ, bụng cũng không hề
máy động như lời la hoảng vừa rồi, bằng quay lại nói với mọi
người:
- Bản quan đã xét xử biết bao nhiêu vụ án mạng, có khi chết
còn thê thảm hơn thế này và vào giữa đêm khuya mà chưa lần nào
thấy ma quỷ lộng hành. Chẳng lẽ giữa ban ngày ban mặt, giữa
chốn đông đảo người sống lại dám tác quái hay sao? Chắc là bọn
phu phụ trách khâm liệm đêm qua uống rượu quá nhiều mờ cả
mắt nên hôm nay nhìn lầm đấy thôi.
Nghe vậy bọn phu nhà đòn mới cố bậm môi xúm lại khâm liệm
thật mau, lập tức đưa vào quan tài đóng chặt lại, hình chưa vẫn
chưa hết sợ hãi. Trước khi về huyện đường, Địch Công chợt nhớ lại
ý định khám xét dưới gầm giường vừa rồi, đích thân vào tân
phòng lần nữa, nhìn rất kỹ dưới gầm thì thấy mấy giọt máu còn
tươi, trong máu hình như có nhiều vật nhỏ chỉ bằng cái lông tơ
màu đen đang chuyển động. Địch Công xem xét kỹ rồi, trong lòng
đã có chủ định, lập tức ra ngoài truyền cho Hoa Quốc Tường phải
đưa Cao thị đến nha môn xét hỏi.
Thế nhưng khi về đến công đường, Địch Công không hề gọi Cao
thị ra thẩm vấn mà sai giam vào ngục dành cho nữ nhân, rồi sau
đó luôn mấy ngày không hề nhắc tới vụ án nữa. Mấy ngày không
thấy động tĩnh gì, Hoa Quốc Tường hết sức tức giận, nhất định lên
huyện hỏi cho ra lẽ, nếu Địch Công muốn ém nhẹm việc này thì sẽ
làm đơn thưa lên Án sát tỉnh.
Khi tới huyện đường Xương Bình, Hoa Quốc Tường chất vấn
Địch Công:
- Nếu không tìm ra được chứng cứ gì khác thì theo lẽ đại nhân
phải xuống lệnh tra khảo nghi phạm duy nhất là Hồ Tác Tân. Tại
sao lại loanh quanh hết thẩm vấn người này đến người kia. Cuối
cùng còn giam cả Cao thị là người hầu rất mực trung thành mà
vẫn không xét hỏi thì làm sao tìm được thủ phạm theo ý của đại
nhân đây. Cử nhân tôi tuy bất tài nhưng nếu đại nhân nhất định
cho chìm vụ án này thì sẽ lên tỉnh đệ đơn với cấp trên, khi ấy đại
nhân không thể trách lão được đâu.
Trước đó Địch Công đã bàn rất nhiều với viên Khổng mục họ
Mã, đưa ra bằng hết những lý luận nhưng cuối cùng vẫn không
thể chắc chắn được hung thủ là ai. Địch Công lại muốn nhờ Mã
Khổng mục tìm giùm cho mình một người giỏi về các chất độc để
xác quyết Lý tiểu thư chết vì loại thuốc gì, từ đó mới có đầu mối
mà thẩm vấn tìm ra sự thật. Vì vậy khi nghe Hoa Quốc Tường nói
lời nặng nề thì Địch Công ngầm tức giận, cố nhịn đáp lại:
- Bản quan chỉ muốn xét xử thật rõ ràng, không để oan sai xảy
ra. Vì vậy mới chần chừ chưa muốn đưa người ra thẩm vấn chứ
không hề bao che bất cứ người nào. Bản quan xuất thân từ khoa
mục, lấy tài năng của mình ra phục vụ cho triều đình, lại được ăn
lộc nước thì quyết phải làm gương sáng cho giới quan lại. Tuy
nhiên nếu Cử nhân muốn được nghe tận mắt việc thẩm vấn thì
bản quan cũng không tiếc gì mà chiều lòng.
Nói xong, Địch Công liền ra lệnh thăng đường, cho Hoa Quốc
Tường dự thính. Sau đó ông gọi Hồ Tác Tân ra, trừng mắt quát
hỏi:
- Bản huyện đã khám tử thi, rõ ràng là trúng phải chất kịch
độc mà chết. Cả hai bên trai gái đều đồng lòng tố cáo ngươi là thủ
phạm hạ độc. Vì vậy hãy khai thực ra đi, nếu không bản quan sẽ
áp dụng luật mà dùng tới hình cụ đấy.
Hồ Tác Tân bình tĩnh đáp lại:
- Học trò đã khai rõ từ trước là việc hăm dọa đùa chơi là có
thực nhưng hành động giết người thì nhất quyết không dám phạm
vào. Bây giờ đại nhân cứ bắt khai thì phải khai thế nào mới vừa
lòng đại nhân đây?
Địch Công đập án thư mắng lớn:
- Bản quan đã có lời khai của Cao thị là hôm ấy ngươi cùng
bạn bè rất thường ra vào tân phòng, như thế đã thừa đủ cơ hội hạ
độc vào ấm trà, còn chối được nữa sao?
Ngờ đâu Hồ Tác Tân cũng rất bén nhạy, chộp lấy câu nói đó
của Địch Công mà vặn:
- Đại nhân đã nói Tú tài tôi thỉnh thoảng cùng mấy người vào
tân phòng thì tại sao chỉ nghi ngờ mỗi mình tôi. Vả chăng nếu có
nhiều người như thế thì làm sao dám hạ độc? Tại sao người pha
ấm trà ấy không bị thẩm vấn, chắc chắn đó sẽ là đầu mối vụ án,
thế mà đại nhân bỏ qua định ép cung thì thật oan uổng quá.
Địch Công nổi giận quát:
- Thực giỏi cho ngươi! Đến trước công đường mà còn nhiều lời
vặn vẹo, chẳng coi bản quan ra gì? Nếu ngươi không khai thì cũng
được nhưng từ nay nhất thiết không được nói những lời như thế
nữa, bản quan là người đặt câu hỏi chứ không phải ngươi!
Hồ Tác Tân vội vàng xin lỗi Địch Công rồi xin được đối chứng
với những lời khai của Cao thị. Địch Công bằng lòng, lập tức sai
quân điệu Cao thị lên công đường rồi hỏi:
- Theo khiếu kiện của gia chủ ngươi thì Hồ Tác Tân đã hạ độc
để trả thù mấy câu nói nặng nề đêm tân hôn. Bây giờ ngươi cố nhớ
ra xem hắn đã hạ độc lúc nào?
Cao thị thưa:
- Hồ Tú tài ra vào tân phòng nhiều lần nhưng tính kỹ thì chỉ có
thời gian sau lúc lên đèn cho đến tối, sau đó họ đã ra về để cho tân
lang và tân nương nghỉ ngơi.
Hồ Tác Tân lập tức phản bác, mắng:
- Tên nô tài vô sỉ kia! Ngươi ăn lương của chủ rồi lẻo mép nói
theo, không biết đó là lời hại chết người hay sao? Từ lúc lên đèn
cho tới khi trời tối ta không hề bước chân vào tân phòng. Vả chăng
trong thời gian ấy không có ai vào uống trà hay sao? Ngươi hầu hạ
cô dâu thì phải biết khoảng thời gian ấy chú rể ra ngoài cảm ơn
các khách đến chúc mừng, cô dâu ở trong phòng một mình thì
người ăn học như ta há dám xông vào hay sao? Ngươi đã thấy ta
vào tân phòng một mình bao giờ chưa, nếu đi cùng nhiều người thì
làm sao hạ độc vào bình trà nằm lộ ra trên bàn? Không biết rõ thì
đừng có lắm lời dối trá vu oan giá họa mà trời đất thánh thần
khiến ngươi phải tuyệt tự đấy. Ấm trà ấy chính tay ngươi pha thì
chắc ngươi là thủ phạm rồi, cố đổ tội cho người khác đấy thôi. Bẩm
Tri huyện đại nhân. Theo tiểu sinh thì cứ tra khảo tên nô tài này
là rõ mọi chuyện ngay.
Cao thị nghe vậy mất hết hồn vía vì quả nhiên không thể nào
xác quyết được Hồ Tác Tân có cơ hội hạ độc, trong khi chính tay
mình pha trà, nếu Địch Công nghi ngờ mà tra khảo thì thật khó
mà biện bạch. Vì vậy nghe Hồ Tác Tân mắng như tát nước mà y
thị ngậm câm không đáp trả được lời nào.
Địch Công nhân cơ hội ấy nói luôn:
- Lời biện luận của Hồ Tú tài cũng khá chính xác. Cao thị!
Ngươi đã hạ độc vào ấm trà phải không? Ngươi thù oán gì mà dám
ra tay giết chết tân nương như thế?
Cao thị nghe vậy quỳ rạp xuống khấu đầu lạy như tế sao, kêu
khóc ầm trời, miệng thì kêu oan. Thật ra Địch Công chỉ muốn đưa
hai người này ra làm vừa lòng Hoa Quốc Tường mà thôi, nay họ
đều kêu oan thì liền truyền bãi đường, Hoa Quốc Tường cũng lặng
lẽ ra về, không còn khiếu nại nữa.
Sau khi ăn tối, Địch Công vẫn chưa hết suy nghĩ về vụ án,
chống cằm ngẫm nghĩ tìm đủ mọi ngóc ngách để xem có phát hiện
ra gì không, mãi đến khi đèn sắp hết dầu mà chưa ra một manh
mối nào khả dĩ. Lúc đó tên quân lo việc trực nhật vào châm thêm
dầu cho đèn, đồng thời cũng bưng một chén nước trà để quan
huyện giải khát. Địch Công mở nắp chén ra, bưng lên miệng định
uống, nhờ gần mắt nên chợt phát hiện ra chén trà có một lớp bụi
váng trên mặt. Tuy lớp váng này rất mỏng nhưng nó làm cho tâm
trí của Địch Công bừng sáng, ông vội gọi tên lính vào quát hỏi:
- Tại sao chén trà đậy nắp mà vẫn có váng bụi? Ngươi làm việc
thật vô ý vô tứ, ngày mai ta sẽ đuổi ngươi ra khỏi nha môn.
Tên lính sợ quá vội thưa:
- Lúc pha trà xong, tiểu nhân rót vào chén, đang định đậy nắp
thì chợt mái nhà bị rung rinh nhè nhẹ, tiểu nhân nhìn lên quan
sát thì không thấy gì hết nên vô tình đậy nắp lại mang lên dâng
cho đại nhân. Quả thực không dám làm việc cẩu thả.
Địch Công vui vẻ tha tội cho hắn rồi tắt đèn đi ngủ, trên miệng
nở một nụ cười khoan khoái. Sáng hôm sau Địch Công cho gọi Hoa
Quốc Tường lên công đường, cũng gọi cả Hồ Tác Tân lẫn Cao thị
nhưng chỉ thẩm vấn mỗi y thị mà thôi. Địch Công không quanh co,
hỏi ngay đến việc pha trà:
- Ngươi pha trà bằng nước gì, ai đã đun sôi và pha ở tân phòng
hay dưới bếp?
Cao thị khá ngạc nhiên vì những câu hỏi nhỏ nhặt này, thành
thực đáp:
- Theo lệ của nhà họ Hoa thì không bao giờ mua trà ở ngoài,
mỗi khi có việc đều sai gia nhân tự nấu nước rồi tự pha trà. Vì
khách khứa đến quá đông nên bếp không còn chỗ, tiểu nhân phải
sai một người khác xuống gian nhà bỏ trống phía sau vườn mà
đun nước, sau đó đem nước sôi đến tân phòng tự tay tiểu nhân pha
trà, không dám để người khác làm thay.
Địch Công nghe xong vui vẻ nói với Hoa Quốc Tường:
- Bây giờ ông có thể về đượ...
 





