BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Viếng Lăng Bác - Bài giảng

    12-ky-an-trung-hoa

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
    Ngày gửi: 09h:13' 04-05-2024
    Dung lượng: 1.3 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    12 ĐẠI KỲ ÁN TRUNG HOA
    —★—
    Biên soạn: Huyền Cơ
    Phát hành: Nhà sách Văn Chương
    Nhà xuất bản Thời Đại 2012
    ebook©vctvegroup
    31-03-2019

    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    MỤC LỤC
    THAY LỜI TỰA
    1 ĐỊCH NHÂN KIỆT HUYỆN QUAN SÁNG SUỐT
    2 BAO CÔNG ĐỆ NHẤT PHÁN QUAN
    3 BAO THANH THIÊN LINH MIÊU HOÁN CHÚA
    4 TỐNG TỪ ĐẶT NỀN TẢNG PHÁP Y HỌC
    5 HÀ VIÊN NGOẠI GIAN NGOAN XẢO QUYỆT
    6 HÀN THỤY LONG ĐƯỢC VÀNG MẮC TỘI
    7 NGÔ NGỌC SÁT NHÂN GIẤU XÁC
    8 TIÊU SINH THẢM KỊCH GIA ĐÌNH
    9 LAI PHÁP NGƯỜI NGAY ĐƯỢC PHÚC
    10 LÝ TRINH TÚ HÀM OAN GIẾT CHỒNG
    11 SỬ MINH XÉT ÁN TỎ TƯỜNG
    12 BẠCH LƯƠNG NGỌC TRA THỔ THẦN PHÁ ÁN

    THAY LỜI TỰA
    Với chiều dài lịch sử hơn 5000 năm, các triều đại phong kiến
    Trung Hoa xưa kia chắc chắn phải đối mặt với muôn vàn vụ án
    khó khăn, tế nhị và không ít vụ án phán đoán sai lệch, làm cho
    nhiều người khác bị hàm oan, bởi thiếu rất nhiều lý luận khoa học
    như ngày nay. Tuy nhiên, cũng không ít các phán quan công minh
    sáng suốt xuất hiện, giúp cho người dân giải được hàm oan. Nổi
    bật nhất trong các phán quan là Bao Chửng, được dân gian biết
    đến qua tên Bao Công ở đời Bắc Tống. Sau đó đến thời Nam Tống,
    một phán quan khác còn nhiều công lao hơn, đó là Tống Từ, không
    những lấy việc giải oan cho người dân làm niềm đam mê mà còn có
    tinh thần rất tiến bộ, lấy pháp y học ra làm chứng cứ kết tội hoặc
    giải oan.
    Trong khi Tây phương mãi đến thế kỷ thứ 17, 18 mới có hai
    nhà nghiên cứu pháp y học người Italia đứng ra phổ biến thì Tống
    Từ đã biết đến phương pháp khoa học này từ hơn 450 năm trước.
    Sau khi Tống Từ qua đời vào năm 1247, tức là vào thế kỷ thứ 13,
    ông để lại cuốn “Tẩy oan lục” rất có giá trị, giúp những phán quan
    đời sau có thêm tư liệu để hoàn thiện phương pháp để xử án. Trải
    qua mấy trăm năm nữa, hệ thống dùng Pháp Y học làm chứng cứ
    xét án đã được phát triển rất mạnh và lên tới tột đỉnh vào các đời
    nhà Minh, Thanh với rất nhiều vị phán quan sáng suốt chẳng kém
    Bao Công.
    Số lượng các vụ án ly kỳ trong lịch sử phong kiến Trung Hoa có

    thể lên đến hàng vạn, vì vậy chưa một cuốn sách nào có thể tổng
    kết một cách hoàn hảo. Do vậy, để góp phần giữ lại những kỳ án
    và oan án điển hình của triều đại phong kiến Trung Hoa, chúng
    tôi chỉ trích dẫn 12 truyện, bao gồm nhiều thời đại như Đường,
    Tống, Minh, Thanh mà thôi. Rất mong được bạn đọc thông cảm.
    Trân trọng
    Người biên soạn

    1
    ĐỊCH NHÂN KIỆT
    HUYỆN QUAN SÁNG SUỐT
    Triều đại nhà Đường trải qua một thời gian dài thịnh trị với sự
    cai trị anh minh của các Hoàng đế họ Lý. Thế nhưng dần dần ngồi
    trên ngai vàng, dòng họ Lý mất dần tính cách anh hùng thao lược
    của người đã sáng lập ra triều đại này là Lý Thế Dân, truyền ngôi
    cho đến Duệ Tông Lý Đán thì triều chính bắt đầu suy đồi, tạo điều
    kiện cho một người đàn bà vừa tuyệt sắc vừa có tham vọng điên
    cuồng là Võ Minh cướp ngôi Hoàng đế, xưng là Võ Tắc Thiên
    Thánh Thần Hoàng đế, thường được lịch sử gọi là đời Võ Hậu.
    Trước đó, ở triều đại của Đường Cao Tông Lý Trị, nơi đất Thái
    Châu đã sản sinh một nhân tài thông minh xuất chúng, học vấn
    rộng rãi tên là Địch Nhân Kiệt. Không ai có thể ngờ rằng chính
    ông là người đứng ra phục hưng triều đình nhà Đường sau này,
    thoát khỏi bàn tay độc ác tàn nhẫn của Võ Tắc Thiên.
    Với sự cần mẫn học hành, khi lớn lên Địch Nhân Kiệt thi đậu
    kỳ thi Minh Kinh và được bổ nhiệm làm quan Tri huyện ở Xương
    Bình. Tuy là một chức quan nhỏ nhưng Địch Nhân Kiệt vẫn tận
    tâm lấy hết sức mình ra cai trị, chẳng bao lâu đã nổi tiếng là vị
    quan công minh liêm khiết, được người dân ca tụng, kính trọng
    xưng hô là Địch Công chứ không bao giờ dám gọi tên tục của ông
    ra.
    Một ngày kia Địch Công vừa mới thăng đường thì nghe có tiếng
    náo loạn từ ngoài cổng, lập tức sai nha lại chạy ra xem. Hóa ra đó

    là một đám đông đang lôi kéo chàng trai khoảng hơn 20 tuổi, ai
    nấy đều kêu khóc đòi phải giết chàng trai đó giải oan cho người
    nhà của họ, tất cả đều cư ngụ tại thôn Lục Lý Đôn. Địch Công liền
    bắt những người hiếu kỳ ở ngoài, chỉ cho các đương đơn và bị can
    liên hệ tới vụ án mạng vào công đường, quỳ dưới sân chia làm hai
    bên.
    Ông nhìn xem thì phía bên nguyên cáo là một phụ nữ đã khá
    lớn tuổi, còn bên bị cáo là hai cha con, trong đó có một chàng trai
    trẻ tuổi nhưng không phải người bị đám đông lôi kéo, chắc còn
    đứng ở ngoài. Sau khi đôi bên đã ổn định, Địch Công liền hỏi lớn:
    - Các bên khai tên tuổi ra trước đi, sau đó khiếu kiện gì thì hãy
    nói rõ rồi trình bày các bằng chứng cho bản quan xét xử.
    Người phụ nữ lớn tuổi chính là nguyên cáo nên vội vàng nói
    trước, giọng nói còn nghẹn ngào chứng tỏ chưa sao trấn tĩnh được:
    - Bẩm Tri huyện đại nhân, lão họ Lý, có chồng là học trò họ
    Tại. Vợ chồng lão đã lớn tuổi mới sinh được đứa con gái tên là Lý
    Lê Cô. Vì chồng chết sớm nên lão ở vậy khó nhọc nuôi con cho đến
    khi khôn lớn. Để cho con gái có tấm chồng học thức, mai sau được
    dựa bóng tùng phu làm vẻ vang cho gia đình, lão đã cất công nhờ
    cậy ngài Sử Thanh Lai làm mai mối, lấy con trai của Cử nhân Hoa
    Quốc Tường tên là Văn Tuấn.
    Lý thị vốn là con nhà gia thế vọng tộc nên được người trong
    huyện thường tôn xưng gọi bà bằng Lý phu nhân mặc dù người
    chồng chưa có công danh gì thì đã qua đời. Nói đến đây Lý phu
    nhân quay qua chỉ mặt chàng trai, vừa khóc vừa nói tiếp:
    - Chính hắn là Hoa Văn Tuấn, đã thông đồng với gia đình họ
    Hoa giết chết con gái của lão. Xin tri huyện đại nhân trừng trị.
    Địch Công biết Lý phu nhân đang lúc xúc động lời lẽ không rõ

    ràng nên cũng không chấp nhất, hỏi lại thì mới biết đám cưới của
    hai họ Lý và Hoa diễn ra rất linh đình bởi đôi bên đều môn đăng
    hộ đối. Thế nhưng chỉ ba ngày sau con dâu đã chết tại nhà chồng,
    khi Lý phu nhân được tin đến nơi nhận thấy có nhiều dấu hiệu
    khả nghi như người bị sưng phồng lên, da dẻ đều bầm tím, thất
    khiếu đều có máu ứa ra. Vì vậy Lý phu nhân đề quyết họ Hoa đã
    hạ độc giết chết con mình, kéo chú rể mới cùng với Cử nhân Hoa
    Quốc Tường lên công đường kiện cáo.
    Địch Công nghe xong, quay lại hỏi Hoa Quốc Tường:
    - Theo lời tố cáo thì con dâu đang khỏe mạnh, về nhà chồng
    mới ba ngày đã chết thảm thì thật đúng là án mạng rồi. Ông là
    người có học vị của triều đình, tức là đã thông hiểu lễ nghĩa thánh
    hiền, chắc không phải thủ phạm, có lẽ đã giáo huấn con cái không
    nghiêm nên mới gây nên tội như vậy chăng? Hãy mau khai thực
    ra đi kẻo bản quan dùng tới cực hình thì không tránh khỏi đau
    đớn.
    Hoa Quốc Tường cũng khóc, quỳ xuống thưa:
    - Cử nhân tôi là người gia giáo, ngược đãi con dâu cũng chưa
    dám nữa là xuống tay hạ thủ. Con trai tôi là Hoa Văn Tuấn tuy
    chưa có công danh nhưng vẫn là học trò tính tình hiền lương,
    trong huyện ai cũng biết, đâu thể nào là thủ phạm được? Con dâu
    chết bất đắc kỳ tử, gia đình họ Hoa chúng tôi cũng vô cùng đau
    xót, xin đại nhân sáng suốt tìm ra thủ phạm thì thật là đại ân đại
    đức không bao giờ dám quên.
    Nghe vậy Địch Công hoàn toàn không hiểu nổi tại sao lại xảy
    ra cái chết thương tâm như vậy, hạch hỏi Quốc Tường:
    - Ông nhất quyết cha con đều không thể là thủ phạm, vậy có
    nghi ngờ cho ai không?

    Hoa Quốc Tường gạt nước mắt thưa:
    - Họ Hoa chúng tôi đề quyết đó là tên Hồ Tác Tân chứ không
    sai.
    Khi hỏi đến bằng chứng thì cả Lý phu nhân lẫn Hoa Quốc
    Tường đều không đưa ra được, chỉ dựa vào một lời hăm dọa mà đề
    quyết như vậy mà thôi. Nguyên lệ ở huyện này thường có mở tiệc
    vui trong tân phòng, cho các thanh niên thiếu nữ vào vui đùa, nếu
    tân lang và tân nương muốn yên thân hợp cẩn thì phải thuyết
    phục hoặc năn nỉ nhiều lần mới thoát được sự quấy rối của các
    thanh thiếu niên. Hoa Quốc Tường cũng theo lệ đó, cho khá nhiều
    bạn đồng học với Văn Tuấn vào náo tân phòng. Trong số ấy có một
    chàng trai tên là Hồ Tác Tân, tuy đã đậu Tú tài nhưng tính thích
    náo động nên nhân dịp thấy tân nương xinh đẹp thì càng ra sức
    trêu ghẹo phá phách, không cho họ động phòng, đến nửa đêm vẫn
    còn uống rượu và bắt ép Văn Tuấn phải cùng vui với mình. Hoa
    Quốc Tường thấy đêm đã khuya, sợ lỡ mất giờ tốt động phòng nên
    mời tất cả lên thư phòng của mình tha hồ uống tiếp.
    Bọn thanh niên liền bắt cô dâu uống ba chén lớn gọi là tạ lỗi rồi
    mới bằng lòng rời khỏi tân phòng, thế nhưng chỉ riêng Hồ Tác Tân
    nhất định không chịu nên Hoa Quốc Tường nổi giận nói mấy lời
    nặng nề, đuổi ra khỏi nhà. Hồ Tác Tân xấu hổ quá hóa hung, trước
    khi ra khỏi nhà còn hăm dọa: “Được rồi, trong ba ngày sẽ biết tay
    họ Hồ này”.
    Hoa Quốc Tường đã bớt nóng, sợ rằng Hồ Tác Tân giận mãi
    nên ba ngày sau làm lễ lại mặt rồi, hoàn tất việc cưới xin liền mời
    hắn đến uống trà làm hòa. Đúng đêm hôm ấy cô dâu Lý Lê Cô
    trúng độc mà chết. Riêng Văn Tuấn vì không thích uống trà nên
    toàn mạng. Theo suy đoán của hai họ thì chính Hồ Tác Tân đã hạ
    độc trong trà chứ không ai khác, còn cách hạ độc như thế nào

    không biết, xin quan Tri huyện khám phá giùm.
    Địch Công liền hỏi:
    - Tuy chưa có bằng chứng xác thực nhưng theo lời khai thì Hồ
    Tác Tân cũng đã là nghi phạm, sao không giải tới đây?
    Hoa Quốc Tường thưa:
    - Chúng tôi đã bắt giữ hắn rồi, còn đứng ngoài cổng nha môn
    chờ lệnh của đại nhân.
    Địch Công lập tức ra lệnh, chỉ trong giây lát đã thấy chàng
    thanh niên trẻ tuổi kia cùng với một phụ nữ trạc tuổi trung niên,
    vừa khóc vừa đi vào, có lẽ đó là hai mẹ con. Thấy Hồ Tác Tân quỳ
    xuống, Địch Công liền mắng phủ đầu:
    - Ngươi đã là Tú tài thì theo lệ triều đình không bị tra khảo.
    Thế nhưng ngươi cũng không dựa vào đó mà chối tội bởi đã có
    nhiều bằng chứng chính ngươi đã hạ độc trả thù. Bản quan cũng
    là người xuất thân từ khoa cử, vì vậy lấy lời lịch sự mong rằng
    ngươi khai thật ra đi.
    Hồ Tác Tân chợt khóc ngất, cúi lạy rồi thưa:
    - Đại nhân đã nói rõ ràng như vậy thì Tú tài tôi xin thưa thật
    rằng quả là oan ức. Đã là học trò thì lẽ nào chỉ vì một chuyện nhỏ
    mà tôi có thể hạ độc được? Vả chăng theo lệ thì bạn bè được tha hồ
    náo loạn tân phòng, có khi gia chủ hay tân lang phải năn nỉ hết lời
    họ mới chịu rút lui. Đằng này khách có đến hơn 40 người mà Hoa
    Cử nhân không trách một ai, cứ nhằm vào Tú tài tôi mà nói hãy
    dừng cuộc quấy phá. Tôi cũng đã định làm theo lời nhưng lại sợ
    người khác mất hết hứng thú nên có nói là sẽ vui chơi thêm ít nữa.
    Chẳng ngờ Hoa Cử nhân đột ngột nổi nóng mắng như tát nước vào
    mặt. Một học trò trọng danh dự như tôi thì làm sao chịu được nhục
    nhã ấy, vì vậy cũng nóng mặt nói dọa để trả đũa, ý định là làm cho

    họ Hoa phải lo lắng trong ba ngày bõ ghét. Vả chăng sáng ngày
    thứ ba Hoa Cử nhân đã mời tôi đến uống trà, như thế là đã giải
    hòa rồi, còn dám bỏ thuốc độc hay sao?
    Thấy Địch Công chú ý lời mình nói, Hồ Tú tài thưa tiếp:
    - Hiện Tú tài tôi dạy dỗ mấy đứa học trò trong nhà, dù gì cũng
    là bậc sư phụ, chẳng lẽ đi làm chuyện phi pháp để thế gian chê
    cười, học trò phỉ nhổ hay sao? Tôi lại phải nuôi mẹ già nhiều bệnh,
    chữ hiếu đặt lên hàng đầu, chưa tính đến việc vợ con thì lẽ nào
    ganh ghét vì bạn lấy được vợ đẹp? Vì vậy xin đại nhân minh xét,
    đừng nghi cho học trò là kẻ giết người.
    Khi Hồ Tú tài thưa xong thì đến lượt người mẹ cũng quỳ xuống
    kêu khóc, đoan quyết rằng con mình từ trước đến nay chưa hề tỏ
    ra là người độc ác, lại có chí tiến thủ vừa dạy học kiếm sống vừa
    chăm chỉ học hành để mai sau đoạt lấy công danh, làm vinh hiển
    cho dòng tộc. Bà mẹ của Hồ Tú tài vốn chỉ có một đứa con trai,
    chồng chết sớm nên đặt hết hy vọng vào nó, nếu bây giờ bị khép
    tội giết người thì thật oan uổng, bà cũng khó mà sống nổi, vì vậy
    phải theo con đến công đường kêu nài.
    Địch Công nghe xong ba lời khai thì hết sức phân vân, không
    sao quyết định được, trong lòng thầm suy tính:
    “Nghi phạm thứ nhất là Hồ Tác Tân. Thế nhưng việc quấy
    nhiễu tân phòng tuy là hủ tục nhưng một người đã có chút học vị
    như họ Hồ không thể vì chút hiềm khích mà dễ dàng ra tay hạ
    độc. Vả chăng hắn làm như vậy tức là tự nhận tội hay sao bởi chỉ
    có mấy người trong lúc uống trà mà thôi. Riêng họ Hoa được con
    dâu xinh đẹp, mới ba ngày thì làm gì có xích mích đến nỗi phải
    giết người? Tất cả chỉ do họ Lý quá phẫn uất vì cái chết đột ngột
    của con dâu nên tố cáo cũng không thể trách họ được. Bây giờ lý lẽ
    chưa có gì chắc chắn, nếu ta xử án vội vàng tất sẽ có người mắc

    hàm oan, chi bằng tạm thời hoãn lại chờ tìm được chứng cứ khác
    rồi xử sau cũng không muộn”.
    Do đó Địch Công nói với Lý phu nhân:
    - Cái chết của Lý thị chưa đầy đủ chứng cứ rõ ràng. Ngày mai
    bản quan sẽ đến khám nghiệm tử thi rồi mới xem xét tình tiết
    đúng sai được. Các ngươi cứ tạm về nhà đi, bao giờ xét xong bản
    quan sẽ gọi đến công đường đối chất.
    Địch Công lại nói với Hoa Quốc Tường:
    - Còn ông thì về nhà nhớ giữ đúng hiện trường xảy ra vụ án,
    đừng xê dịch hay thay đổi bất cứ thứ gì, dù nhỏ nhặt đến đâu cũng
    phải để nguyên chỗ.
    Nghe vậy tất cả đều bằng lòng, chỉ riêng Hồ Tác Tân là nghi
    phạm thì bị giữ lại huyện đường khiến người mẹ khóc ngất, rất lâu
    không chịu rời khỏi nha môn. Còn Hoa Quốc Tường theo lời dặn
    của Địch Công, về tới nhà sai gia nhân chuyển hết đồ vật nhà sau
    và nhà trước đi chỗ khác cho rộng rãi, riêng tân phòng thì vẫn giữ
    nguyên không dám di chuyển bất cứ đồ đạc nào.
    Ngày hôm sau Địch Công cùng với nha lại và chức dịch của
    huyện kéo đến bày biện án thư ở nơi rộng rãi, chừa trống trước
    mặt để quan huyện gọi người ra thẩm vấn. Hôm đó Lý phu nhân
    cũng đến để xem tình hình ra sao, không còn trách cha con họ Hoa
    nữa nhưng cứ khóc ngất từng hồi rất đau thương.
    Địch Công uống trà rồi trước tiên gọi Hoa Văn Tuấn ra hỏi:
    - Ngày thứ ba sau lễ cưới, uống trà xong ngươi cùng vợ về tân
    phòng lúc mấy giờ? Lúc đó ngươi thấy tình trạng của vợ ra sao, có
    lăn lộn kêu la hay không? Làm sao biết được ấm trà có thuốc độc
    mà nghi ngờ cho Hồ Tác Tân đã hạ độc?
    Hoa Văn Tuấn liền thưa:

    - Ngày hôm ấy mở tiệc trà là để cảm ơn các khách đã có công
    giúp cho lễ cưới hoàn thành, cũng là dịp để họ hàng đến chúc
    mừng nên người đến rất đông. Vợ chồng học trò chúng tôi tiếp
    khách cho đến khi mệt nhoài mới trở về tân phòng. Tân nương
    thấy khát nước nên sai hầu gái cho mình một chén, xong rồi sửa
    soạn chăn mền đi ngủ. Tiểu sinh cũng rất mệt nhưng tính không
    thích uống trà nóng nên nằm ra giường ngủ thiếp đi. Đến canh ba,
    tiểu sinh chợt nghe tiếng vợ kêu đau thì liền ngồi dậy, tưởng là ăn
    thứ gì nên lạnh bụng mà thôi. Ngờ đâu nàng càng lúc càng đau
    thêm, lăn lộn rên la dữ dội. Tiểu sinh đành phải trở dậy, định sai
    gia nhân nhân đốt đèn đi tìm lang y nhưng còn ngần ngừ vì đêm
    hôm khuya khoắt. Thế là được một lát thì vợ tiểu sinh qua đời.
    Tiểu sinh liền nghĩ ngay đến chén trà vợ vừa uống, rót ra xem thử
    thì nước trong ấm đen xì, rõ ràng là bị người hạ độc, có lẽ còn toan
    tính giết cả tiểu sinh nữa đấy.
    Địch Công hỏi tiếp:
    - Việc ấy thì đương nhiên rồi, bây giờ phải tìm ra thủ phạm.
    Trong ngày hôm ấy Hồ Tác Tân có vào tân phòng lần nào hay
    không?
    Hoa Văn Tuấn vì phải tiếp khách nhiều nên không nhớ chi tiết
    này, Hoa Cử nhân liền đáp thay cho con:
    - Buổi trưa Cử nhân tôi có thấy họ Hồ cùng vài người bạn vào
    tân phòng.
    Địch Công gật gù hỏi thêm:
    - Trước lúc Hồ Tác Tân vào tân phòng thì ấm trà để ở chỗ nào?
    Sau buổi trưa ấy con dâu có uống trà không hay là để đến tối?
    Người nào đã pha ấm trà ấy? Ấm trà này được pha một lần hay
    cạn rồi đổi nước khác?

    Thật sự Hoa Cử nhân cũng rất bận rộn nên không thể trả lời
    được một loạt câu hỏi hết sức chi tiết của Địch Công, đành phải
    thú nhận rồi nhất định gán tội cho Hồ Tác Tân dựa theo lời hăm
    dọa đêm động phòng hoa chúc, xin Địch Công cứ tra khảo thật dữ
    vào tất hắn không chịu nổi mà khai ra.
    Địch Công nghe vậy sầm mặt nói:
    - Án mạng đâu chỉ là trò đùa, cần phải xem xét thật tỉ mỉ và
    khách quan mới thấy được sự thật. Bản quan không thể vì một lời
    hăm dọa mà có thể tra tấn một Tú tài, chắc chắn còn nhiều uẩn
    khúc. Bây giờ hãy thẩm vấn tới các phù dâu trước đã.
    Hoa Quốc Tường tưởng là Địch Công đã ăn đút lót nên cứ bênh
    vực cho Hồ Tác Tân, lớn tiếng nói nhiều câu khinh miệt quan lại,
    cho rằng rốt cuộc cũng chỉ là hư danh mà thôi. Hoa Quốc Tường
    còn lấy danh vị Cử nhân ra đòi đưa vụ án lên quan cấp trên nếu
    như Địch Công không tra xét đúng đắn. Địch Công nghe vậy hết
    sức tức giận nhưng lại nghĩ Hoa Quốc Tường bị Lý phu nhân tố
    cáo mất hết danh dự nên quá nóng ruột, nói bừa bãi mà thôi. Địch
    Công lại nghĩ tới đêm tân hôn ấy, có lẽ chính Hoa Quốc Tường
    cũng ỷ mình là người tuổi tác cao, học vị lớn hơn Hồ Tác Tân mà
    buông ra những lời nặng nề, do vậy phản ứng của họ Hồ cũng là lẽ
    tự nhiên, góp thêm phần chắc chắn là họ Hồ không phải là thủ
    phạm. Địch Công nén giận nói với Hoa Quốc Tường:
    - Bản huyện đặt ra nhiều nghi vấn không phải là muốn bênh
    vực Hồ Tú tài mà chính là để tìm ra cái chết của con dâu ông mà
    thôi. Việc này còn chưa khám nghiệm rõ ràng, sao phải nhất định
    đưa người ra khảo đả. Nếu nhỡ như Hồ Tác Tân bị oan thì ông có
    đền bù cho người ta được không?
    Lời lẽ của Địch Công rất nghiêm nghị khiến Hoa Quốc Tường

    im miệng không dám nói gì thêm nữa. Sau đó Địch Công gọi người
    hầu gái thân cận nhất của nhà họ Lý là Cao thị ra thẩm vấn. Thế
    nhưng Cao thị là người hầu từ lâu, chính tay bồng bế nâng niu Lý
    Lê Cô, thậm chí được tin tưởng giao cho nhiệm vụ hầu hạ cả khi
    tiểu thư đã về nhà chồng. Theo suy nghĩ của Địch Công thì một
    người có nhân thân như thế tất không bao giờ lại xuống tay với
    người mà mình đã yêu thương như con cái. Địch Công vẫn tiếp tục
    thẩm vấn, hỏi:
    - Thế là ngươi đã theo sát bên cô dâu lúc về nhà chồng. Vậy thì
    ấm trà ấy có phải chính tay ngươi pha hay không? Và pha lần thứ
    mấy.
    Cao thị trả lời có vẻ thành thật:
    - Trà buổi trưa không có mang vào tân phòng. Chính tay tiểu
    dân pha trà vào buổi chiều, thấy uống hết thì pha thêm lần nữa
    đem vào tân phòng.
    Địch Công gật đầu hỏi:
    - Đó là ấm trà pha lần thứ hai vào chiều tối. Sau khi mang trà
    vào thì ngươi có túc trực ở đó hay là bỏ đi? Đã có ai uống trước khi
    Lý tiểu thư uống chưa?
    Cao thị đoan quyết là không rời khỏi tân phòng lần nào và
    cũng không nhớ được có ai đã uống ấm trà ấy trước cả Lý tiểu thư
    hay không. Do đó những lời khai này thành vô bổ, sự việc vẫn
    không thể xét đoán được. Địch Công bèn nói với Hoa Quốc Tường:
    - Rõ ràng là ấm trà giết người này được pha và mang vào tân
    phòng từ buổi chiều, tức là khi Hồ Tác Tân đã ra về. Như vậy
    không thể vì một lời nói lúc giận dữ mà đề quyết cho người ta tội
    hạ độc giết người. Vụ án phải tạm hoãn trong một thời gian chờ
    tìm ra chứng cứ mới. Các ngươi cứ chờ bao giờ nhận được lệnh gọi

    thì lên công đường nghe phán quyết.
    Nghe Địch Công phán bảo như vậy, cả nhà họ Lý lẫn nhà họ
    Hoa đều khóc rầm lên, kêu xin hãy mau mau làm rõ án mạng, bắt
    thủ phạm đền tội mới hả dạ. Địch Công rất khó chịu, bắt tất cả
    mọi người tránh ra bên ngoài, đi một vòng quanh tân phòng xem
    xét kỹ từng góc nhà, cây cột rồi sau đó mới gọi Hoa Quốc Tường
    theo mình vào tân phòng.
    Lúc ấy ấm trà vẫn để nguyên trên bàn, có mấy hầu gái đứng
    quanh giường nơi xác của Lý tiểu thư nằm ở đó. Địch Công liền sai
    một hầu gái lấy chén đem ra rót thử. Quả nhiên màu nước trà
    khác hẳn thông thường, không những tím đen mà còn có mùi tanh
    hôi thoang thoảng, lúc đó đã để trà nguội lâu rồi mới có thể nhận
    ra. Muốn chứng nghiệm nước trà ấy có độc, Địch Công sai đem
    một ít thức ăn ra trộn nước trà vào rồi đưa cho con chó trong nhà
    ăn. Chỉ trong một thời gian ngắn, con chó đã lồng lên kêu rú điên
    cuồng hình như bị đau lắm, một lúc sau thì vật ra chết. Địch Công
    xem xét tình trạng con chó rồi so sánh với tình trạng khi chết của
    Lý tiểu thư thì nhận ra loại thuốc độc này thật ghê gớm, lập tức
    sai niêm phong lại.
    Sau đó Địch Công ra ngoài, gọi tất cả các bên liên quan đến
    nói:
    - Đúng ra là phải mổ tử thi để khám nghiệm. Thế nhưng đôi
    bên đều là dòng dõi thư hương, có chút danh phận, vì vậy nếu
    khám nghiệm thì e rằng người sống lẫn người chết đều không yên.
    Theo bản quan thì cứ ghi vào văn án là Lý tiểu thư chết vì trúng
    độc. Còn trúng độc ra sao thì khi bắt được thủ phạm sẽ rõ ngay,
    không cần phải khám nghiệm tử thi cho thêm đau xót.
    Nghe vậy tất cả đều chấp nhận, ký vào biên bản xin được miễn
    khám nghiệm tử thi, bắt đầu lo liệu việc khâm liệm, quàn lại trước

    đem đi chôn cất. Chờ cho nhà đòn mang xác của Lý tiểu thư ra
    ngoài khâm liệm, Địch Công mới thong thả bước vào tân phòng
    lần nữa. Ông tiến đến gần giường người chết nằm, cúi sát xuống
    thì ngửi thấy một mùi tanh nồng từ đó bốc lên nhưng không thể
    xác quyết được loại chất độc ấy là gì. Ông phân vân đang định cho
    khám xét dưới gầm giường thì chợt ở phía ngoài có tiếng la hoảng
    của bọn phu khâm liệm:
    - Trời ôi! Sao đã chết mà bụng còn máy động thế này, chắc là
    quỷ nhập tràng rồi!
    Khi Địch Công chạy ra tới nơi thì bọn phu đòn hầu như đã kinh
    hoảng rời xa xác chết, ai nấy đều run rẩy như đã gặp ma giữa ban
    ngày, Địch Công vốn rất can đảm, lập tức tiến đến gần tử thi xem
    xét hồi lâu, chẳng hề thấy có chút gì khác lạ, bụng cũng không hề
    máy động như lời la hoảng vừa rồi, bằng quay lại nói với mọi
    người:
    - Bản quan đã xét xử biết bao nhiêu vụ án mạng, có khi chết
    còn thê thảm hơn thế này và vào giữa đêm khuya mà chưa lần nào
    thấy ma quỷ lộng hành. Chẳng lẽ giữa ban ngày ban mặt, giữa
    chốn đông đảo người sống lại dám tác quái hay sao? Chắc là bọn
    phu phụ trách khâm liệm đêm qua uống rượu quá nhiều mờ cả
    mắt nên hôm nay nhìn lầm đấy thôi.
    Nghe vậy bọn phu nhà đòn mới cố bậm môi xúm lại khâm liệm
    thật mau, lập tức đưa vào quan tài đóng chặt lại, hình chưa vẫn
    chưa hết sợ hãi. Trước khi về huyện đường, Địch Công chợt nhớ lại
    ý định khám xét dưới gầm giường vừa rồi, đích thân vào tân
    phòng lần nữa, nhìn rất kỹ dưới gầm thì thấy mấy giọt máu còn
    tươi, trong máu hình như có nhiều vật nhỏ chỉ bằng cái lông tơ
    màu đen đang chuyển động. Địch Công xem xét kỹ rồi, trong lòng
    đã có chủ định, lập tức ra ngoài truyền cho Hoa Quốc Tường phải

    đưa Cao thị đến nha môn xét hỏi.
    Thế nhưng khi về đến công đường, Địch Công không hề gọi Cao
    thị ra thẩm vấn mà sai giam vào ngục dành cho nữ nhân, rồi sau
    đó luôn mấy ngày không hề nhắc tới vụ án nữa. Mấy ngày không
    thấy động tĩnh gì, Hoa Quốc Tường hết sức tức giận, nhất định lên
    huyện hỏi cho ra lẽ, nếu Địch Công muốn ém nhẹm việc này thì sẽ
    làm đơn thưa lên Án sát tỉnh.
    Khi tới huyện đường Xương Bình, Hoa Quốc Tường chất vấn
    Địch Công:
    - Nếu không tìm ra được chứng cứ gì khác thì theo lẽ đại nhân
    phải xuống lệnh tra khảo nghi phạm duy nhất là Hồ Tác Tân. Tại
    sao lại loanh quanh hết thẩm vấn người này đến người kia. Cuối
    cùng còn giam cả Cao thị là người hầu rất mực trung thành mà
    vẫn không xét hỏi thì làm sao tìm được thủ phạm theo ý của đại
    nhân đây. Cử nhân tôi tuy bất tài nhưng nếu đại nhân nhất định
    cho chìm vụ án này thì sẽ lên tỉnh đệ đơn với cấp trên, khi ấy đại
    nhân không thể trách lão được đâu.
    Trước đó Địch Công đã bàn rất nhiều với viên Khổng mục họ
    Mã, đưa ra bằng hết những lý luận nhưng cuối cùng vẫn không
    thể chắc chắn được hung thủ là ai. Địch Công lại muốn nhờ Mã
    Khổng mục tìm giùm cho mình một người giỏi về các chất độc để
    xác quyết Lý tiểu thư chết vì loại thuốc gì, từ đó mới có đầu mối
    mà thẩm vấn tìm ra sự thật. Vì vậy khi nghe Hoa Quốc Tường nói
    lời nặng nề thì Địch Công ngầm tức giận, cố nhịn đáp lại:
    - Bản quan chỉ muốn xét xử thật rõ ràng, không để oan sai xảy
    ra. Vì vậy mới chần chừ chưa muốn đưa người ra thẩm vấn chứ
    không hề bao che bất cứ người nào. Bản quan xuất thân từ khoa
    mục, lấy tài năng của mình ra phục vụ cho triều đình, lại được ăn
    lộc nước thì quyết phải làm gương sáng cho giới quan lại. Tuy

    nhiên nếu Cử nhân muốn được nghe tận mắt việc thẩm vấn thì
    bản quan cũng không tiếc gì mà chiều lòng.
    Nói xong, Địch Công liền ra lệnh thăng đường, cho Hoa Quốc
    Tường dự thính. Sau đó ông gọi Hồ Tác Tân ra, trừng mắt quát
    hỏi:
    - Bản huyện đã khám tử thi, rõ ràng là trúng phải chất kịch
    độc mà chết. Cả hai bên trai gái đều đồng lòng tố cáo ngươi là thủ
    phạm hạ độc. Vì vậy hãy khai thực ra đi, nếu không bản quan sẽ
    áp dụng luật mà dùng tới hình cụ đấy.
    Hồ Tác Tân bình tĩnh đáp lại:
    - Học trò đã khai rõ từ trước là việc hăm dọa đùa chơi là có
    thực nhưng hành động giết người thì nhất quyết không dám phạm
    vào. Bây giờ đại nhân cứ bắt khai thì phải khai thế nào mới vừa
    lòng đại nhân đây?
    Địch Công đập án thư mắng lớn:
    - Bản quan đã có lời khai của Cao thị là hôm ấy ngươi cùng
    bạn bè rất thường ra vào tân phòng, như thế đã thừa đủ cơ hội hạ
    độc vào ấm trà, còn chối được nữa sao?
    Ngờ đâu Hồ Tác Tân cũng rất bén nhạy, chộp lấy câu nói đó
    của Địch Công mà vặn:
    - Đại nhân đã nói Tú tài tôi thỉnh thoảng cùng mấy người vào
    tân phòng thì tại sao chỉ nghi ngờ mỗi mình tôi. Vả chăng nếu có
    nhiều người như thế thì làm sao dám hạ độc? Tại sao người pha
    ấm trà ấy không bị thẩm vấn, chắc chắn đó sẽ là đầu mối vụ án,
    thế mà đại nhân bỏ qua định ép cung thì thật oan uổng quá.
    Địch Công nổi giận quát:
    - Thực giỏi cho ngươi! Đến trước công đường mà còn nhiều lời
    vặn vẹo, chẳng coi bản quan ra gì? Nếu ngươi không khai thì cũng

    được nhưng từ nay nhất thiết không được nói những lời như thế
    nữa, bản quan là người đặt câu hỏi chứ không phải ngươi!
    Hồ Tác Tân vội vàng xin lỗi Địch Công rồi xin được đối chứng
    với những lời khai của Cao thị. Địch Công bằng lòng, lập tức sai
    quân điệu Cao thị lên công đường rồi hỏi:
    - Theo khiếu kiện của gia chủ ngươi thì Hồ Tác Tân đã hạ độc
    để trả thù mấy câu nói nặng nề đêm tân hôn. Bây giờ ngươi cố nhớ
    ra xem hắn đã hạ độc lúc nào?
    Cao thị thưa:
    - Hồ Tú tài ra vào tân phòng nhiều lần nhưng tính kỹ thì chỉ có
    thời gian sau lúc lên đèn cho đến tối, sau đó họ đã ra về để cho tân
    lang và tân nương nghỉ ngơi.
    Hồ Tác Tân lập tức phản bác, mắng:
    - Tên nô tài vô sỉ kia! Ngươi ăn lương của chủ rồi lẻo mép nói
    theo, không biết đó là lời hại chết người hay sao? Từ lúc lên đèn
    cho tới khi trời tối ta không hề bước chân vào tân phòng. Vả chăng
    trong thời gian ấy không có ai vào uống trà hay sao? Ngươi hầu hạ
    cô dâu thì phải biết khoảng thời gian ấy chú rể ra ngoài cảm ơn
    các khách đến chúc mừng, cô dâu ở trong phòng một mình thì
    người ăn học như ta há dám xông vào hay sao? Ngươi đã thấy ta
    vào tân phòng một mình bao giờ chưa, nếu đi cùng nhiều người thì
    làm sao hạ độc vào bình trà nằm lộ ra trên bàn? Không biết rõ thì
    đừng có lắm lời dối trá vu oan giá họa mà trời đất thánh thần
    khiến ngươi phải tuyệt tự đấy. Ấm trà ấy chính tay ngươi pha thì
    chắc ngươi là thủ phạm rồi, cố đổ tội cho người khác đấy thôi. Bẩm
    Tri huyện đại nhân. Theo tiểu sinh thì cứ tra khảo tên nô tài này
    là rõ mọi chuyện ngay.
    Cao thị nghe vậy mất hết hồn vía vì quả nhiên không thể nào

    xác quyết được Hồ Tác Tân có cơ hội hạ độc, trong khi chính tay
    mình pha trà, nếu Địch Công nghi ngờ mà tra khảo thì thật khó
    mà biện bạch. Vì vậy nghe Hồ Tác Tân mắng như tát nước mà y
    thị ngậm câm không đáp trả được lời nào.
    Địch Công nhân cơ hội ấy nói luôn:
    - Lời biện luận của Hồ Tú tài cũng khá chính xác. Cao thị!
    Ngươi đã hạ độc vào ấm trà phải không? Ngươi thù oán gì mà dám
    ra tay giết chết tân nương như thế?
    Cao thị nghe vậy quỳ rạp xuống khấu đầu lạy như tế sao, kêu
    khóc ầm trời, miệng thì kêu oan. Thật ra Địch Công chỉ muốn đưa
    hai người này ra làm vừa lòng Hoa Quốc Tường mà thôi, nay họ
    đều kêu oan thì liền truyền bãi đường, Hoa Quốc Tường cũng lặng
    lẽ ra về, không còn khiếu nại nữa.
    Sau khi ăn tối, Địch Công vẫn chưa hết suy nghĩ về vụ án,
    chống cằm ngẫm nghĩ tìm đủ mọi ngóc ngách để xem có phát hiện
    ra gì không, mãi đến khi đèn sắp hết dầu mà chưa ra một manh
    mối nào khả dĩ. Lúc đó tên quân lo việc trực nhật vào châm thêm
    dầu cho đèn, đồng thời cũng bưng một chén nước trà để quan
    huyện giải khát. Địch Công mở nắp chén ra, bưng lên miệng định
    uống, nhờ gần mắt nên chợt phát hiện ra chén trà có một lớp bụi
    váng trên mặt. Tuy lớp váng này rất mỏng nhưng nó làm cho tâm
    trí của Địch Công bừng sáng, ông vội gọi tên lính vào quát hỏi:
    - Tại sao chén trà đậy nắp mà vẫn có váng bụi? Ngươi làm việc
    thật vô ý vô tứ, ngày mai ta sẽ đuổi ngươi ra khỏi nha môn.
    Tên lính sợ quá vội thưa:
    - Lúc pha trà xong, tiểu nhân rót vào chén, đang định đậy nắp
    thì chợt mái nhà bị rung rinh nhè nhẹ, tiểu nhân nhìn lên quan
    sát thì không thấy gì hết nên vô tình đậy nắp lại mang lên dâng

    cho đại nhân. Quả thực không dám làm việc cẩu thả.
    Địch Công vui vẻ tha tội cho hắn rồi tắt đèn đi ngủ, trên miệng
    nở một nụ cười khoan khoái. Sáng hôm sau Địch Công cho gọi Hoa
    Quốc Tường lên công đường, cũng gọi cả Hồ Tác Tân lẫn Cao thị
    nhưng chỉ thẩm vấn mỗi y thị mà thôi. Địch Công không quanh co,
    hỏi ngay đến việc pha trà:
    - Ngươi pha trà bằng nước gì, ai đã đun sôi và pha ở tân phòng
    hay dưới bếp?
    Cao thị khá ngạc nhiên vì những câu hỏi nhỏ nhặt này, thành
    thực đáp:
    - Theo lệ của nhà họ Hoa thì không bao giờ mua trà ở ngoài,
    mỗi khi có việc đều sai gia nhân tự nấu nước rồi tự pha trà. Vì
    khách khứa đến quá đông nên bếp không còn chỗ, tiểu nhân phải
    sai một người khác xuống gian nhà bỏ trống phía sau vườn mà
    đun nước, sau đó đem nước sôi đến tân phòng tự tay tiểu nhân pha
    trà, không dám để người khác làm thay.
    Địch Công nghe xong vui vẻ nói với Hoa Quốc Tường:
    - Bây giờ ông có thể về đượ...
     
    Gửi ý kiến

    “Nếu bạn muốn đạt được bất cứ điều gì trong cuộc sống, bạn phải đọc rất nhiều sách.” – Roald Dahl

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TRUNG HỌC THỰC HÀNH SÀI GÒN !