Viếng Lăng Bác - Bài giảng
An Nam chí lược

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:17' 07-04-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:17' 07-04-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
An Nam Chí Lược
Lê tắc
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Mục lục
Lời Giới Thiệu
Tống tự
Quận ấp
Đại-Nguyên Phụng Sứ
Chính Thảo Vận Hướng
Đại Nguyên Danh Thần Vãng Phục Thơ Vấn
Biểu Chương
Các quan Thứ-Sử, Thái-Thú
Các Đô Đốc, Thứ-Sử Giao-Châu
Các quan Đô-Đốc, Đô-Hộ,
Những người tôi các đời trước sang ký ngụ
Gia thế Họ Triệu
Gia thế Họ Lý
Gia thế Họ Trần
Học Hiệu
Nhân Vật
Tạp Ký
Thơ của các danh-nhân đi sứ An-nam
Thơ của các danh-nhân An-Nam
Đồ Chí Ca
Lời Giới Thiệu
Sử Liệu Việt Nam do Lê Tắc soạn năm 1335 - Uỷ Ban Phiên Dịch Sử Liệu
Viện Đại Học Huế dịch năm 1961
Song song với công việc biên mục Châu bản triều Nguyễn, Ủy ban Phiên
Dịch Sử Liệu Việt-Nam đã lập một kế hoạch riêng để hiệu đính và phiên
dịch các bộ sử Việt Nam. Theo kế hoạch dự định ấy, các phiên dịch viên
trong Ủy ban đã tham khảo các truyền bản tàng trử tại các thư viện Nhật
Bản, Trung Hoa và Anh Quốc, làm xong một hiệu bản của bộ An Nam Chí
Lược và hoàn thành một bản phiên dịch Việt văn.
Nói về cuốn An Nam Chí Lược, ai ai cũng biết rõ soạn giả Lê Tắc là một tên
phản bội với Tổ quốc. Trong lúc nước nhà đang gặp ngoại xâm, xã tắc nguy
cấp, nhân dân đau khổ, Lê Tắc cùng bọn Trần Kiện và Trần Ích Tắc, không
những không chịu gắn sức phấn đấu để cứu nước cứu dân, trái lại nhẩn tâm
và làm tôi địch. Hơn nữa, trong bộ An Nam Chí Lược, Lê Tắc quên mình là
người Việt, dựa vào lập trường và quan điểm người Nguyên để soạn tập.
Chẳng hạn, như những lời nịnh nọt a dua của soạn giả, những đoạn văn kiêu
ngạo tự tôn tự đại trình bày trong các chiếu chỉ nhà Nguyên và trong các bài
tựa các danh nhân hồi ấy, đều khiến cho chúng ta vô cùng uất ức và đau đớn.
Sở dĩ Ủy ban lấy bộ An Nam Chí Lược làm công việc phiên dịch đầu tiên, là
vì bộ ấy có lẽ là bộ sử xưa nhất do một cá nhân người Việt soạn ra, và gồm
có nhiều sử liệu đáng quý có liên quan đến cổ sử và trung sử Việt Nam, chứ
không phải Ủy ban có chút định nào dung thứ những hành động và quan
niệm sai lầm của soạn giả đối với tổ quốc. Nói khác, chúng tôi coi cuốn sách
này là một sử liệu, là một đối tượng cho cuộc nghiên cứu sử học thuần túy,
bởi vậy, thành thực muốn cung cấp một bộ hiệu bản và bản dịch đáng tin cậy
cho học giới mà thôi.
Trong hai nghìn năm quốc sử, chúng ta không thể không công nhận rằng còn
nhiều chỗ thiếu sót, mơ hồ, đang chờ đợi sự cố gắng của sử gia Việt Nam, để
bổ túc hoặc xác định lại. Vậy, điều cần thiết cho nền sử học Việt Nam ngày
nay là gây phong trào nghiên cứu theo phương pháp khoa học, nhất là về
phương diện sưu tầm và khảo đính sử liệu, chúng ta nên tìm cách nâng đỡ và
xúc tiến. Căn cứ vào quan điểm ấy, tôi thành thực tin rằng bộ hiệu bản và
bản dịch này là một thực hiện mới của nền sử học tại Việt Nam, và sẽ đem
lại rất nhiều bổ ích cho công việc tìm tòi sự thực trong quốc sử.
Huế, ngày 22 tháng 4 năm 1960
Viện Trưởng Viện Đại Học Huế
L. M. Cao Văn Luận
Tống tự
Quyển đệ nhất
Cổ-Ái đông sơn Lê-Tắc biên
Tống Tự
Từ xưa nước An-Nam thông giao với Trung-Quốc, thời vua ChuyênHúc, phía bắc đi tới U-Lăng,phía nam đi tới Giao-Chỉ. Vua Đế-Nghiêu sai
Hy Hoà qua ở đất Nam-Giao, vua Thuấn sai Vũ qua Nam yên-vỗ Giao-Chỉ.
Qua đời Chu-Thành-Vương (1115-1079 trước công nguyên), họ ViệtThường qua chín lần thông-ngôn, tới cống-hiến mà nói rằng: "Trời không có
gió bảo, không mưa dầm, ngoài biển không nổi sóng dữ đã ba năm nay, có lẽ
ở Trung-Quốc có đấng thánh-nhân trị-vì, sao chẳng tới chầu?". Lúc bấy giờ,
Chu-Công đặt bài ca, đánh đàn thuật chuyện họ Việt-Thường tới chầu: "Ô hi
ta ta! Phi Đán chi lực, Văn-Vương chi đức", nghĩa là: ôi ôi! vui thay, cảnhtượng thái-bình không phải nhờ sức của Đán (tên của Chu-Công) mà là nhờ
đức của vua Văn-Vương. Nước Việt-Thường, tức đất Cửa-Châu, ở phía nam
Giao-Chỉ.
Quyển Hán-Quan-Nghi của Ứng-Thiện chép rằng: "trước tiên Trung-Quốc
mở mang từ "sóc" (phương bắc), rồi sau tiến sang phương nam lấy làm "cơ
chỉ". Hiện nay, các sách viết chữ "chỉ" (cái nền) là viết sai.
Nhà Tần (246-207 trước công nguyên) lấy Giao Chỉ làm Tượng-Quận; đến
khi nhà Tần loạn thì Đô-uý quận Nam-hải là Triệu-Đà nổi binh đánh lấy hết
các quận quốc, rồi tự lập làm vua. Khi ấy, Hán-Cao-Tổ sai Lục-Giả qua lập
Đà làm Việt-Vương. Sau khi Cao-Tổ băng, Cao-Hậu cấm Nam-Việt mua đồ
sắt của Trung-Quốc, Đà tiếm hiệu xưng đế, rồi phát quân đi đánh Trường-Sa.
Văn-đế lại sai người đưa thư qua trách Đà. Đà có ý sợ, bèn bỏ hiệu đế,
nguyện làm tôi và cống hiến phẩm vật.
Năm Kiến-Nguyên thứ 3, (vua Võ-đế, 142 trước công nguyên) Đà mất, con
cháu họ Triệu truyền xuống bốn đời, kể được hơn chín mươi năm.
Võ-đế sai Chung-Quân đi sứ qua Nam-Việt để dụ vua Việt tên là Hưng vào
chầu, Hưng muốn đi, nhưng bị tướng Lữ-Gia can ngăn, vua không nghe, Gia
làm phản, nổi binh đánh giết vua và cả sứ-gả nhà Hán, lập Kiến-Đức là anh
khác mẹ lên làm vua Nam-Việt.
Năm Nguyên-Đinh thứ 5 (112 trước công nguyên), Vệ-Uý là Lộ-Bác-Đức
xuất mười vạn quân qua đánh Nam-Việt, năm thứ sáu, mới đánh bại người
Việt, lấy đất đó chia làm các quận: Nam-Hải, Thương-Ngô, Uất-Lâm, HợpPhố, Giao-Chỉ, Cửu-Chân, Nhật-Nam, Châu-Nhai và Đam-Nhỉ, mỗi quận
đặt Thái-thú để cai trị.
Qua nguyên-niên Sơ-nguyên của Nguyễn-Đế (48-33 trước công nguyên), bãi
bỏ hai quận Châu-Nhai và Đam-Nhỉ, còn lại bảy quận, kể cả Giao-Chỉ. Khi
đầu, Giả-Quyên-Chi tâu rằng: Châu-Nhai, Đam Nhỉ, đều ở hải ngoại; xứ ấy
thường cậy thế hiểm trở mà làm phản, đến lúc dụng binh tới dẹp, thì chỉ có
miếng đất vô dụng mà thôi, nếu bỏ đi cũng không đáng tiếc. Vua Hán bèn hạ
lời chiếu bãi bỏ.
Nhan-Sư-Cổ nói: bảy quận đều thuộc về Giao-Châu, theo chế độ nhà Hán,
các quận thuộc châu, nên đặt Thứ-sử Giao-Châu để cai-trị chung.
Năm Kiến-Võ thứ 16 (40 sau công nguyên), đời vua Hán Quang-Võ, có
người đàn bà Giao-Chỉ tên là Trưng-Trắc làm phản, năm thứ 19 (43), sai
Mã-Viện qua đánh dẹp yên, rồi dựng trụ đồng để làm giới hạn nhà Hán.
Năm Kiến-An thứ 15 (210), Hiến-Đế dời chỗ cai trị qua quận Nam-Hải.
Vương-Phạm nói: chỗ quận trị của quan Thứ-sử ở đất Giao-Châu, cuối đời
Hán, đổi qua Nam-Hải, khi Tôn-Quyền mới được ấn mạng của nước Nguỵ,
cũng cầm cờ mao tiết làm tổng-đốc Giao-Châu và kiêm lĩnh Kinh-Châu.
Tôn-Tư làm Giao-Chỉ Thái-thú quá tham bạo, bị quận lại Lữ-Hưng giết, các
quận Cửu-Chân và Nhật-Nam đều phản, và hàng nhà Tấn.
Tôn-Quyền thấy Giao-Chỉ ở xa, bèn chia Giao-Châu đặt Quảng-Châu và dời
quận trị của Giao-Châu qua Long-Biên.
Nguyên niên Kiến-Hoành (269), vua nước Ngô là Tôn-Hạo sai các tướng là
Tiết-Hủ, Đào-Hoàng qua thu phục Giao-Chỉ, giết các tướng do nhà Tấn đặt
ra, như vậy đất Cửu-Chân lại thuộc về Ngô. Đến lúc nước Ngô mất, GiaoChâu trở về nhà Tấn, trải qua các triều: Tống, Tề, Lương, Trần, Tuỳ, Đường
đều để y như cũ, chỉ cải tên Cửu-Chân làm Ái-Châu, Nhật-Nam làm HoanChâu, đều thiết Thứ-Sử, hoặc đặt Giao-Châu tổng-quản hoặc An-Nam đôđốc để thống trị. Qua đời Đờng mới chia Lĩnh-Nam làm đông tây đạo, đều
đặt Tiết Độ-Sứ, lại đặt ra năm quận: Quế, Quản, Ung, Dung và An-nam, đều
thống thuộc Đông-đạo, về phận Tây-đạo, thì đặt An-nam đô-hộ kiêm cả ngũ
quản. Kinh-Lược-Chiêu-Thảo-Sứ là Trương-Bá-Nghi đắp La-Thành tại Annam, công trình chưa xong, đến năm Nguyên-Hoà thứ 3 (808), đô hộ là
Trương-Chu đắp tiếp thêm mới hoàn công. Lâm-Tư nói rằng: La-Thành chuvi 2000 bước, tốn hết 25 vạn công.
Đến đời vua Tuyên-Tông, niên hiệu Đại-Trung (847-859) có viên đô-hộ cai
trị không được đứng đắn, đãi dân bằng lối bạo ngược, họ bèn liên-kết với rợ
Nam-Chiếu, trở lại đánh phủ An-nam, cuộc rối loạn chém giết kéo dài luôn
mấy năm không thôi. Năm Hàm-Thông thứ 3 của vua Y-Tông, (682), nước
Nam-Chiếu đánh hãm La-Thành; viên Kính-Lược-Sử Thái-Tập bị chết, vua
sai Cao-Biền làm chức đô-hộ, đem quân đánh khôi phục phủ thành, chém
tướng mọi là Đoàn-Tù-Thiên và bọn quân mọi hơn 30.000 cái đầu; rồi tu bổ
La-Thành lại, cải xưng đô-hộ-phủ Tịnh-Hải-Quân. Biền được trao cho làm
chức Tiết-Độ-Sứ.
Kịp dời Ngũ-Đại, các người thố hào ở các Châu Giao, Ái là Khúc-Hạo,
Dương-Diên-Nghệ, Kiều-Công-Tiện, v.v... thay nhau dùng võ lực cướp
quyền.
Tướng cũ của Nghệ là Ngô-Quyền bèn giết Công-Tiện mà tự lập làm vua,
truyền được vài đời, đến khi Ngô-Xương-Văn chết, thì có bộ thuộc là NgôBình (tức Lữ-Xữ-Bình), dành làm vua; Đinh-Bộ-Lĩnh giết Ngô-Bình, lãnh
nước Giao-Chỉ, tự xưng là Vạn-Thắng-Vương, lại tự ý cho con Liễn làm
Tiết-Độ-Sứ.
Đầu nhà Tống, Liễn khiến Sứ nhập cống, Thái-tổ phong Bộ-Lĩnh làm Giaochỉ Quận-Vương và hạ chiếu cho Liễn làm Tiết-Độ-Sứ An-nam đô-hộ. Sau
Liễn và cha đều mất, em là Triền kế lập thì bị Thái-Hiệu Lê-Hoàn phế bỏ và
cướp ngôi. Lê-Hoàn giả làm tờ biểu dâng vua nhà Tống, nói rằng:
Triền khiến Hoàn thay làm vua. Thái-Tông nhà Tống bèn phong Hoàn làm
vua. Nhà Lê truyền được ba đời, cộng ba mươi năm, bị Lý-Công-Uẩn cướp
ngôi. Vua Chân-Tông lại phong Công-Uẩn làm Giao-Chỉ Quận-Vương.
Năm Long-Hưng thứ 2 của Hiếu-Tông (1164), Lý-Thiên-Tộ sai sứ nhập
cống, được vua Tống phong làm An-nam quốc-vương, tên nớc An-nam bắt
đầu từ đó.
Họ Lý truyền ngôi được tám đời, không có con trai, do con gái là ChiêuThánh nối ngôi. Trong năm Canh-Dần niên hiệu Thiệu-Định nhà Tống
(1230), Chiêu-Thánh nhường ngôi cho chồng là Trần-Nhật-Cự (tức TrầnCảnh), vua Tống lại phong Nhật-Cự làm An-nam Quốc-Vương.
Năm Quý-Sửu (1253), Đại-Nguyên đã dẹp yên Vân-Nam, đến mùa đông
năm Đinh-Tỵ (1257), sai Đại-Soái là Ngột-Lương Hợp-Đãi đem quân qua
biên-giới An-nam, do đường Quảng-Tây để hội binh đánh nhà Tống; quânđội nhà Trần chống cự, không được thắng, bèn nạp khoản xưng thần, rồi
khiến bồi-thần dâng lời biểu và thường năm qua cống hiến phẩm vật.
Đến năm Tân-Dậu niên-hiệu Trung-Thống (1261), vua Thế-Tổ Hoàng-Đế lại
phong họ Trần làm vua An-nam; qua năm Đinh-Sửu, hiệu Chí-Nguyên
(1277), vua Trần mất, Thế-Tử (tức Nhật-Hoảng), không xin sắc-mạng, mà tự
lập làm vua, nên vua sai Thượng-Thư bộ Lễ là Sài-Thung sang mời nhập
triều; vua Trần mượn cớ có tật không đi. Qua năm sau, lại lấy cớ có tật
không đi, sai quốc-thúc là Trần-Di-Ái sang triều-kiến. Thế-Tổ viện cớ vua
có bịnh, bèn lập Di-Ái làm vua.
Năm Tây-Tỵ (1281), sai Sài-Thung nhận chức An-nam-Hành Tuyên-Uý-Sứ
Đô-Nguyên-Soái, xuất binh 1000 người, đưa Di-Ái về nước, đi đến địa-giới
Vĩnh-Bình, An-nam không chịu nhìn nhận, Dị-Ái sợ, ban đêm trốn về, chỉ
sai bồi-thần thay mặt tiếp rước Sài-Công vào nước, tuyên lời dụ chỉ của vua
rồi trở về.
Năm Nhâm-Ngọ, hiệu Chí-Nguyên (1282), quan Hữu-Thừa là Toa-Đô cầm
quân qua đánh thâu Chiêm-Thành, triều-đình sai sứ yêu-cầu vua An-nam cho
mượn đường tiến binh, và giúp quân lương, Thế-Tử (tức vua Trần) không
chịu. Đến mùa đông năm Giáp-Thân, hiệu Chí-Nguyên (1284), vua sai TrấnNam-Vương Thoát-Hoan và quan Bình-Chương là A-Lý-Hải-Nha tiến tới
biên giới, Thế-Tử kháng cự, thua chạy, em là Ích-Tắc, quy thuận vào chầu,
vua thương tình, phong Ích-Tắc làm An-nam quốc-vương, lại phong cậnthần là Trần-Tú-Viên làm Phụ-Nghĩa-Công, các quan lại đi theo cũng đều
cho tước-vị.
Năm Đinh-Hợi, hiệu Chí-Nguyên (1287), Thế-Tổ sai Trấn-Nam-Vương và
quan Bình-Chương là Áo-Lỗ-Xích cầm quân qua bình-định An-nam, khi
quân kéo đến, Thế-Tử đánh thua, chạy trốn ngoài hòn đảo ở giữa biển. Qua
mùa xuân, tháng ba, năm sau, Trấn-Nam-Vương thấy khí-hậu nước An-nam
quá nóng-nực độc-địa, bèn kéo quân về.
Trong năm Quý-Tỵ hiệu Chí-Nguyên (1293), vua lại sai Đại-Vương Ích-CátLiệt-Đải và quan Bình-Chương là Lưu-Nhị-Bạt-Đô, v.v... qua đóng đồn tại
đất Việt, để chờ qua năm là năm Giáp-Ngọ (1294), trong khoảng mùa thu thì
tiến binh. Nhưng tháng giêng năm ấy vua Thế-Tổ băng; qua tháng tư mùa
hạ, Thành-Tông Hoàng-Đế lên ngôi, hạ chiếu bãi binh, lại khiến quan ThịLang bộ Lễ là Lý-Hản, quan Lang-Trung là Tiêu-Thái-Đăng đi sứ qua Annam tha tội cho Thái-Tử An-nam và dẫn sứ-thần An-nam là Đào-Tử-Kỳ về
nước để tuyên lời dụ-chỉ. Lúc đó, Thế-Tử đã mất từ mấy năm, nên con vua
suất các quan liêura đón, đặt bàn xông trầm, trông về cửa khuyết (nước
Nguyên) mà lạy tạ ơn. Lại khiến bồi-thần qua dâng lời biểu chúc mừng, xin
làm phiên-thần vĩnh-viễn, chiếu-lệ thường triều-cống, đến nay vẫn còn.
Nam-Giao đời xưa, nhà Chu gọi là Việt-Thường, nhà Tần gọi là TượngQuận, nhà Hán đặt làm ba quận: Giao-Châu, Cửu-Chân và Nhật-Nam. Nhà
Đường lại cải Giao-Châu làm An-nam phủ, quận Cửu- Chân làm Ái-Châu,
quận Nhật-Nam làm Hoan-Châu, tức là La-Thành, Thanh-Hoá và Nghệ-An
ngày nay vậy.
Quận-ấp
Đất Nam-Giao xưa, nhà Chu gọi là Việt-Thường, nhà Tần đặt tên là TượngQuận. Đến cuối nhà Tấn, Nam-Hải-Uý là Triệu-Đà đánh tóm thâm đất, tự
lập làm một nước riêng và tiếm xưng vương-hiệu.
Sơ niên Tây-Hán, Cao-Tổ phong Đà làm Nam-Việt-Vương, trải được mấy
đời, thì tướng Nam-Việt là Lữ-Gia làm phản, giết vua Triệu và các sứ-thần
của nhà Hán. Vũ-Đế sai Phục-Ba tướng-quân Lộ-Bác-Đức sang đánh diệt
Nam-Việt, rồi đặt ra chín quận, bổ quan cai trị. Nước An-nam ngày nay tức
là 3 quận Giao-Chỉ, Cửu-Chân và Nhật-Nam ở trong chín quận ấy.
Về sau các triều đại kế tiếp, chế-độ quận huyện không nhứt định.
Qua đời Ngũ-Đại (907-959), người đất Ái-Châu là Ngô-Quyền, chiếm giữ
quận Giao-Chỉ; đời sau các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần, nối nhau tranh quyền,
đều được nhà Tống phong vương tước. Quan-chế, hình-pháp và hành-chính,
ít nhiều học của Trung Hoa, còn về quận-ấp hoặc theo cũ, hoặc đổi mới, nay
lấy đại-khái mà chép lại.
Đại-La Thành-Lộ 1 xưa là nước Giao-Chỉ, đời nhà Hán để như cũ, nhà
Đường đặt làm An-nam đô-hộ-phủ, thành phủ ở tại phía tây bờ sông LưGiang; Trương-Bá-Nghi đời Đường bắt đầu xây thành ấy, Trương-Chu, CaoBiền tiếp-tục sửa sang đắp thêm. Trong thời Chân-Tông nhà Tống, Lý-CôngUẩn người quận ấy, kiến-quốc tại đây. Đến nhà Trần nối theo nhà Lý lấy đất
ấy đạt thêm ba phủ nữa: Long-Hưng, Thiên-Trường và Trường-An.
Long-Hưng-Phủ: tên cũ là Đa-Cương-Hương. Tổ-tiên họ Trần lúc còn hànvi, ban đêm đi qua một cái cầu khe, khi qua rồi, ngoảnh lại, không thấy cầu
nữa. Chẳng bao lâu, họ Trần được nước, người ta gọi khe ấy là Long-Khê,
nên đổi tên Đa-Cương làm Long-Hưng.
Thiên-Trường-Phủ: tên cũ là Tức-Mặc-Hương, nơi phát-đích họ Trần. Đến
khi họ Trần được nước, xây một hành-cung tại đó, mỗi năm đến một lần, để
tỏ ra là không bỏ quân chỗ phát-tích của ông bà, rồi đổi tên làm ThiênTrường-Phủ, chỗ ấy có nước thủy-triều chảy quanh thành, hai bên bờ mọc
nhiều cây hoa, khí thơm ngát người, hoạ-thuyền qua lại, giống như cảnh tiên
vậy.
Trường-An-Phủ: vốn là động Hoa-Lư; chỗ sinh ra Đinh-Bộ-Lĩnh, cuối đời
Ngũ-Quý, họ Đinh lập quốc tại đó.
Qui-Hoá-Giang-Lộ: tiếp với biên-giới Vân-Nam.
Tuyên-Hoá-Giang-Lộ: tiếp giáp đạo Đăc-Ma.
Đà-Giang-Lộ: tiếp với địa-giới Kim-Xỉ.
Lạng-Châu-Giang-Lộ: tiếp với tả-giang và hữu-giang.
Bắc-Giang-Lộ: ở trên đông-ngạn của La-Thành, nước sông Lư-Giang thông
với biển, trên sông có bắc 10 cái cầu đồ sộ và đẹp đẽ.
Như-Nguyệt-Giang-Lộ.
Nam-Sách-Giang-Lộ.
Đại-Hoàng Giang-Lộ.
Hồng-Lộ.
Khoái-Lộ.
Châu
Các châu đều tiếp địa-giới Quảng-Tây và Vân-Nam, tuy gọi là châu huyện,
nhưng sự thật là động vậy.
Quốc-Oai-Châu: ở phía nam thành Đại-La.
Cổ-Châu: ở Bắc-Giang.
Tiên-Châu: xưa gọi là Long-Biên.
Phú-Lương-Châu.
Tư-Nông-Châu: một tên khác gọi là Dương-Xá.
Định-Biên-Châu: một tên khác gọi là Minh-Mỵ.
Vạn-Nhai-Châu: một tên khác gọi là Minh-Hoàng.
Văn-Châu: một tên khác gọi là Môn-Châu.
Thất-Nguyên-Châu.
Tư-Lang-Châu.
Thái-Nguyên-Châu: một tên khác gọi là Hoàng-Nguyên.
Thông-Nông-Châu.
Vị-Long-Châu: một tên khác gọi là Ất-xá.
Quang-Châu.
La-Thuận-Châu: một tên khác gọi là Lai-thần.
Hoàng-Đạo-Châu: tức Bình-Lâm-Trường.
Dư nữa, loại như thế, không chép.
Tên Châu Thời Xưa
(Nhiều tên đã thay đổi, chỉ còn lại số ít)
Phong-Châu: nhà Ngô gọi Tân-Châu.
Tô-Mậu-Châu.
Tô-Vật-Châu.
Trường-Châu.
Nga-Châu.
Đường-Châu: một tên khác gọi là Phương-Lâm.
Các Huyện
Võ-Ninh Huyện, Vạn-Tải Huyện, Khâu-Ôn Huyện, Tân-Lập Huyện, Hoảng
Huyện, Chỉ Huyện, Lịch Huyện, Lan-Kiều Huyện, Truy-Diên Huyện, CổDũng Huyện, Cung Huyện, Quẫn Huyện (Nguyên-sử chép là Quật),
Thượng-Pha Huyện, Môn Huyện.
Dư nữa không chép
Tên Huyện Thời Xưa
Long-Biên: Cuối đời Tây-Hán, trị-sở của Thứ-sử quận Giao-Châu tên là
Long-Uyên, sau vì có Giao-Long hay lên nằm khoanh trên mặt nước, mới cải
tên là Long-Biên 2
Chu-Diên: Huyện của đời Hán; đời Đường cải làm Diên-Châu, đặt ra hai
huyện Cao-Lăng và AnĐịnh.
Liên-Lâu: Âm chữ trên là "liên", âm chữ dưới là "lâu". Thời Hán là tri sở
của thứ-sử Giao-Châu.
My-Linh: Trị-sở của quan Đô-Uý quận Giao-Chỉ đời Hán.
Khúc-Dương: Âm là "Dương".
Câu-Lậu: Hồi trước Cát-Hồng làm huyện lệnh ở đây.
An-Thuận: Đời nhà Đường gọi là Thuận-Châu.
Sùng-Bình: Đời Đường là An-Bình.
Hải-Bình: Đời Đường là Ninh-Hải.
Cổ-Đô
An-Định
Phủ-Lộ Thanh Hoá
Đời Tây-Hán là quận Cửu-Chân, đời Tuỳ, Đường là Ái-Châu, những thuộc
ấp của châu ấy hiện nay, gọi là giang 3 , trường, giáp và xã, kê như sau:
Lương-giang, Ba-lung-giang, Trà-giang, Cống-giang, Thái-xa-giang, Antiêm-trường, Văn-trường, Cổ-đằng-giáp, Chi-minh-giáp, Cổ-hoằng-giáp, Cổchiến-giáp, Duyên-giáp, Điền-sử-giáp, Kiết-thuế-giáp.
Tên Huyện Thời Xưa
Đồ-Bàng: Chữ "bàng" theo Nhan-Sư-cổ-âm là "lung".
Cư-Phong: Là nơi Mã-Viện bắt được dư-đảng của Trưng-Trắc.
Vô-Công: Trị sở của Đô-Uý quận Cửu-Chân đời Hán.
Việt-Thường: Một tên khác là Cửu-Đức.
Nghệ An Phủ Lộ
Trong thời Tây-Hán là Quận Nhật-Nam, đời Tuỳ, Đường gọi là Hoan-Châu.
Ấu-Tân-Giang - Minh-Đạo-Giang.
Kệ-Giang - Thương-Lộ-Giang.
Đường-Gia-Giang - Trương-Xá-Giang.
Dư nữa không chép.
Diễn-Châu lộ
Vốn là thuộc huyện của quận Nhật-Nam, gọi là Phù-Diễn và An-Nhân, nhà
Đường đổi tên là Diễn-Châu.
Cự-Lại-Giang- Tha-Viên-Giang.
Hiếu-Giang - Đa-Bích-Trường.
Cự-Lam-Xã.- Cao-Gia-Xã.
Ban-Bát-Xã.
Dư nữa không chép.
Bố-Chánh phủ lộ
Nguyên là huyện Tượng-Lâm, quận Nhật-Nam đời Tây-Hán.
Cuối đời nhà Hán, có người trong ấp giết huyện lệnh, tự lập thành nước, gọi
là Lâm-ấp.
Đầu niên hiệu Nguyên-Hoà (806-820) nhà Đường, lại thuộc về An-nam phủ,
nay tên là Bố-Chính.
Trong xứ ấy, núi trùng-điệp, cho nên Liễu-Tử-Hậu có câu thơ rằng: "Lâm-ấp
đông hồi sơn tợ kính", nghĩa là "từ phía đông quanh lại xứ Lâm-ấp, núi dựng
như cây giáo".
Đồ-Lê-Giang: (Tiếp giới Chiêm-Thành).
Núi
Núi Phật-Tích: vì trên đá có dấu chân, nên đặt tên là Phật-Tích.
Núi Tản-Viên: hình núi như cái tán.
Núi Tiên-Du: có hòn đá bàn-thạch, dợn có đường gạch như bàn cờ, tương
truyền rằng: xưa có tiên đánh cờ vây ở đó. Bọn con gái đi hái củi thường đến
giao-hợp ở trên đá bàn cờ, nên hòn đá ấy đổ xuống và nứt vỡ.
Núi Võ-Ninh: Tục truyền rằng ở dưới núi có mộ của Triệu-Việt-Vương.
Núi Phổ-Lại: Năm Đinh-Vị, Chí-Nguyên, (có lẽ chép nhầm năm Đinh-Hợi
Chí-Nguyên tức năm 1287 A.D.), quan binh có tới làm hang rào cây, để chứa
lương thực ở đó.
Núi Vạn-Kiếp: Trở mặt ra một con sông lớn, sau lưng có núi muôn trùng,
rừng rậm tre cao, dưới nước trên cầu, phong cảnh rất đẹp. Hưng-Đ̐ờng tắt
vào núi thì thấy hoa và cây rậm rạp tốt đẹp, có suối ngọc chảy mòn đá, lửa
đóm rước người (vào chơi), mát mẽ lạ lùng, cõi đời không có.
Núi Yên-Tử: Gọi là Yên-Sơn hoặc là Tượng Sơn, bề cao lên quá từng mây.
Đầu niên hiệu Hoàng-Hựu, nhà Tống (1049-1053), gọi là Xứ-Châu, hồi giữa
niên-hiệu Đại-Trung Trường-Phù (1008-1016), triều đình lại ban tên là TửY-Đông-Uyên. Đại-Sư là Lý-Tư-Thông có dâng lên vua hải-nhạc danhsơnđồ và vịnh thơ tán: Phúc-Địa thứ tư tại Giao-Châu là Yên-Tử-Sơn.
Tân kỳ chóp núi nêu vài nụ,
Yểu-điệu hình khe trổ một ngành.
Tiên cỡi loan qua ngồi cảnh tịnh,
Người xem rồng xuống giỡn đầm xanh.
Tắc Sơn: Có động Yên-La, đỉnh núi Tý-ngọ, đều xinh đẹp lạ kỳ. Thiện-LạcVương thường dắt đệ-tử vào đó.
Núi Địa-Cận: Núi ấy rất cao và hiểm trở, có cây tùng đã lâu đời, tục truyền
có rồng khoanh ở trên cây ấy. Trần-Thái-Vương có làm hành-cung tại đó.
Núi Thiên-Dưỡng: Tốt đẹp mà hiểm, khi thủy-triều lên xuống mới chèo ghe
đi tới được. Họ nhà vua xây dựng nhà cửa ở trong, để tránh quốc-nạn.
Động Võ-Lâm: Xưa nước An-nam, đời vua thứ tư của nhà Trần là TrầnNhân-Vương, bỏ ngôi vào ẩn ở đó để thành đạo, hiệu là Trúc-Lâm đạo-sĩ, có
làm Hương-hải-ấn-thi tập, truyền lại đời sau.
Núi Thần-Đầu: Núi ấy làm ranh giới cho hai quận La-Thành và Thanh-Hoá.
Thế núi liền nhau có hai bờ, nước thủy-triều ngoài biển chạy vào ở giữa.
Thời xưa người ta tới đục mở ba hòn núi ở bờ phía nam để tiện sự qua lại.
Hồi trước Thánh-Vương nhà Lý, đánh nước Chiêm-Thành, ý muốn vượt qua
biển, nhưng gặp mù và sóng lớn, đi không được, mới cầu thần ở núi ấy, rồi
đi được, khi về lập đền thờ ở đó, từ đó về sau, các hòn núi đều thuộc về
Thanh-Hoá cả.
Long Đại-Nham: Gọi là Bửu-Đài, sầm uất mà tốt đẹp đặc biệt, trong vách
đá có khoảng trống làm chỗ thờ phật, ở ngoài như treo những hoành đối, trổ
dáng nhà cửa, giàn trước có con sông trong, bọc sau lưng có hồ sen đỏ, cây
thông bóng mát vài dặm, núi non liên tiếp muôn trùng. Xưa có truyền lại
rằng có con chuột rất lớn ở trong hang núi, nên tục gọi là hòn lèn "Con dơi".
Núi Văn-Trường: Đá núi ấy rất tinh khiết mà trắng, làm hạt châu-thủy-tinh
được.
Biện-Sơn: Ở ngoài bể khơi, xưa có những thú-vật thình-lình hoá kiếp những
võ và xương tấp vào, xuyên qua hang đá, nay vẫn còn.
Núi An-Hoạch: Sản-xuất đá làm bia, làm đỉa nghiên. Sách cũ có chép: DựChương Thái-Thú Phạm-Nịnh sai sứ tới quận Cửu-Chân lấy đá làm khánh để
dùng ở trong trường học.
Núi Đông-Sơn: Chạy tới sông Chi-Minh, đã cao lại tốt, trên núi có hang,
trèo lên mà trông, sắc nước in trời thật là một cảnh rất đẹp. Phụ-thân tôi, (LêTắc) thời trung-niên, thôi làm quan, tự hiệu là Tư-Duy cư-sĩ, thường ẩn-cư
trong hang núi ấy.
Núi Khu-Na: Cao, rộng, nhiều ma, những con ma nầy mỗi khi ra khỏi núi
lại đốt nhà của người ta. Nhân có nhà sư tên là Phụng-Phù, cứ ngày đêm đọc
bài chú đại-bi, ma sợ tránh đi xa, người ta mới khỏi bị hại. Núi ấy có nhiều
trái cây ăn được, ai đến tha hồ mà ăn, nhưng hễ đem về thì lạc mất đường.
Núi Lập-Thạch: Là một hòn đá đứng sững vậy. Tương truyền rằng thuở xưa
có ông thần dựng một hòn đá to lớn để vạch địa hạt Ái-Châu và Diễn-Châu.
Núi Đà-Kỹ: Có một khoảng đất vườn, ở sát bờ biển, sinh ra thứ đá đen như
hình con cờ, hình sắc thật đẹp, đáng yêu. Ta thường ra chơi, gặp ông già nói
rằng: "cách đây hơn một trăm dặm, lại có sản-xuất con cờ đá trắng". Tục
truyền rằng: người tiên thường đánh cờ vây ở đó.
Núi Hương-Tượng: Rất cao rộng, sản-xuất gỗ thơm, tê-ngu và voi.
Sùng-Sơn: Thẩm-thuyên-Kỳ, đời nhà Đường bị đày qua đất Hoan-Châu, có
làm bài Sùng-Sơn hướng Việt-Thường thi:
Buổi mai leo đến núi Sùng,
Việt-Thường xế đến, ngồi trông bóng chiều.
Hang Sam-Cốc theo chiều bóng lặn,
Từ Trúc-Khê ra thẳng Bắc-Phương.
Trúc-Khê, Minh-Thủy thông-thương,
Rày Hang Sam-Cốc, xưa đường Sùng-Sơn.
Núi so le, cây ngàn thưa nhặt,
Quấn quít nhau ràng mắc thành chùm.
Đầy gò lá quế xanh um,
Hoa đằng nẩy nở trong lùm đá ngăn.
Trời lồng lộng còn dăng cửa sổ,
Cảnh âm thầm đá trổ hang mây.
Thợ trời dường lắm công xây,
Bao nhiêu thẳng-tích người rày tới nơi.
Không phải muốn tìm nơi quái dị,
Khoan thai chưa quyết chí lui về.
Phân Sơn: Lại còn gọi là Liệt-Sơn, hai nước An-nam và Chiêm-Thành, lấy
núi này làm ranh-giới, tục truyền rằng cây cỏ ở trên núi ấy cũng chia hai: bên
ngã về Nam, bên ngã về Bắc.
Núi Kim-Ngưu: Sách xưa chép đá núi ấy đều sắc đỏ, trong đá có chất vàng,
đêm lại thì sáng như con đom-đóm.
Núi Đô-Long: Nơi Lưu-Phương đánh bại Lâm-ấp.
Sông
Sách xưa chép các con sông như Yêm-Thủy, Lô-Du-Thủy, Lậu-Thủy, TâyTuỳ-Thủy đều từ Đông nam đất Tuấn-Việt chảy đến Long-Môn đất GiaoChỉ.
Dương-Hùng (đời nhà Hán) nói rằng: "các xứ hoang nhàn ở giải đất GiaoChỉ, nước tiếp giáp với trời".
Lô-Giang: Sông Tam-Đái (ba giải) chảy tới La-Thành, lại từ sông Lô thông
ra biển.
Tô-Lịch-Giang: Chảy quanh La-Thành, trên sông có năm cái cầu, đều làm
rất đẹp. Hiệu Chí-Nguyên năm Bính Tý (1276), nhà Tống mất, Tăng-UyểnTử trốn sang An-nam, đi chơi qua cầu Lịch-Giang có ngâm bài thơ rằng:
Đầu bạc chàng Tô 4 , trời một góc,
Theo tiên vua Võ, nhạn về Nam.
Trên cầu sông Lịch trông về Bắc,
Trải mấy lằn thu thấy chẳng nhàm.
Tam-Đái-Giang: Nước sông Qui-Hóa từ Vân-Nam chảy về, nước sông
Tuyên-Quang từ Đặc-Ma Đạo chảy tới, nước sông Đà từ nguồn Chàng-Long
chảy về, nhân có ngã ba, nên đặt tên như vậy.
Phú-Lương-Giang: Là nơi Quách-Quỳ đời Tống đánh bại Giao-Chỉ.
Đại-Hoàng-Giang: Trong năm Giáp-Thân hiệu Chí-Nguyên (1284), là nơi
quan quân đánh phá An-nam.
Đại-Ác-Giang: Một tên khác gọi là Đại-An.
Bà-Lữ-Uyên: (vực) nước sâu có nhiều thủy quái.
Từ-Liêm-Thủy: Theo sách Cửu-Vực-Chí chép rằng: Từ-Liêm-Thủy ở tại
Giao-Chỉ. Xưa ở bên sông ấy, Lý-Nhân-Tổ có mười anh em đều từ hiếu cả,
nhân đó, mới đặt tên như vậy.
Long-Môn-Thủy: Sách xưa chép: "huyện Phong-Khê, quận Giao-Chỉ có
Long-Môn-Thủy, nước sâu trăm tầm, cá con nào lớn vượt lên suối ấy được,
thì hóa rồng, nếu lên không được, thì bị thương nơi trán và bày mang ra".
Việt-Thường-Uyển: Cứ sách Phò-Nam-Ký, khoảng đất giữa khe núi, gọi là
uyển. Vườn Cửu Đắc, có tên là Bổ-Uyển.
Cổ-Tích
Việt-Vương-Thành, tục gọi là thành Khả-Lũ, có một cái ao cổ, Quốc-vơng
mỗi năm lấy ngọc châu, dùng nước ao ấy rửa thì sắc ngọc tươi đẹp. GiaoChâu Ngoại-Vực-Ký chép: hồi xưa, chưa có quận huyện, thì Lạc-điền tuỳ
theo thủy-triều lên xuống mà cày cấy. Người cày ruộng ấy gọi là Lạc-Dân,
người cai-quản dân gọi là Lạc-Vương, người phó là Lạc-Tướng, đều có ấn
bằng đồng và dải sắc xanh làm huy hiệu. Vua nước Thục, thường sai con
đem ba vạn binh, đi chinh phục các Lạc-Tướng, nhân đó cử giữ đất Lạc mà
tự xưng là An-Dương-Vương. Triệu-Đà cử binh sang đánh. Lúc ấy có một vị
thần tên là Cao-Thông xuống giúp An-Dương-Vương, làm ra cái nỏ thần,
bắn một phát giết được muôn người.
Triệu Đà biết địch không lại với An-Dương-Vương, nhân đó trú lại huyện
Võ-Ninh, khiến Thái-Tử Thủy làm chước tá hàng để tính kế về sau.
Lúc Cảo-Thông đi, nói với vua An-Dương-Vương rằng: "Hễ giữ được cái nỏ
của ta, thì còn nước, không giữ được thì mất nước".
An-Dương-Vương có con gái tên là Mỵ-Châu, thấy Thái-Tử Thủy lấy làm
đẹp lòng, rồi hai người lấy nhau. Mỵ-Châu lấy cái nỏ thần cho Thái-Tử Thủy
xem, Thủy xem rồi lấy trộm cái lẩy nỏ mà đổi đi. Về sau Triệu-Đà kéo quân
tới đánh thì An-Dương-Vương bại trận, cầm cái sừng tê vẹt được nước vào
biển đi trốn, nên Triệu-Đà chiếm cả đất của An-Dương-Vương. Nay ở huyện
Bình-Địa 5, dấu tích cung điện và thành trì của An-Dương-Vương hãy còn.
Lưu-Chiêu nói: Giao-Chỉ tức là nước An-Dương. Mã-Phục-Ba đời Hán dẹp
yên giặc ở Giao-Chỉ, rồi dựng trụ đồng để làm giới hạn cho nhà Hán. Đời
nhà Đường, Mã-Tống làm chức An-nam đô-hộ, lại dựng hai cái trụ đồng, vì
Tống là con cháu của Phục-Ba. Xưa có truyền lại rằng: ở nơi động Cổ-Sum,
tại Khâm- Châu có cái cột đồng của Mã-Viện và lời thề rằng: "Hễ cái trụ
đồng nầy gãy, thì nước Giao-Chỉ tiêu-diệt", vì thế, người Giao-Châu, mỗi
khi đi ngang qua đều lấy đá, ngói, ném vào dưới chân cột đồng, nên
chẳngbao lâu, nơi ấy hóa thành gò.
Đổ-Phủ có câu thơ rằng: "Vũ lai đồng trụ bắc, ý tẩy Phục-Ba quân" nghĩa là:
"mưa phía Bắc đồng trụ, muốn rửa quân Phục-Ba".
Ở cương-giới nước Chiêm-Thành cũng có cột đồng. Mạnh-Hạo-Nhiên có
câu thi: "Đồng trụ Nhật-Nam đoan", nghĩa là cột đồng đứng đầu đất NhậtNam.
Sách Cửu-Vực-Chí nói: "cái giếng tại Giao-Châu không phải người đào".
Mã-Viện khi đã dẹp yên Giao-Chỉ, có làm trâu bò, lọc rượu để đãi quân-sĩ,
trong lúc yến tiệc, Viện thong thả nói với liêu thuộc rằng: "Người em họ của
ta tên là Thiếu-Du thường hay thương tôi khẳng khái có chí lớn và nói: "kẻ sĩ
sinh ở đời, miễn sao vừa đủ ăn mặc, đi cái xe tầm thường, cỡi con ngựa xấu
xí, làm chức lại thuộc trong quận, giữ phần mộ của tổ-tiên, làng xóm cho là
người hiền-lành, như vậy thì đủ rồi. Còn như ham muốn cho dư dũ, thì chỉ là
tự mình làm khổ cho mình đó thôi". Hồi ta ở giữa Lãng-Bạc và Tây-Lý, chưa
diệt được giặc, dưới thì nước lụt, trên thì khói mù, khí độc hừng hực, xem
lên thấy diều bay là là xuống nước, nhớ lại lời nói bình thời của Thiếu-Du, ta
tiếc không làm sao được như vậy".
Uy-Vũ-Miếu: Tô-Đông-Pha chép rằng: "nhà Hán có hai ông Phục-Ba đối
với dân Lĩnh-Nam đều có công-đức. Ông Phục-Ba trước là Bì-Ly Lộ-Hầu,
ông Phục-Ba sau là Tân-Tức Mã-Hầu. Nước Nam-Việt từ đời Tam-Đại trở
xuống, không đời nào dẹp yên cả. Đời Tần (246-207 trước công nguyên), tuy
có đặt quan-chức cai-trị, song rồi trở lại tình trạng man-di. Bì-ly mới diệt
được nước ấy và chia làm chín quận.
Nhưng đến đời Đông-Hán, lại có người con gái là Trưng-Trắc, khởi binh
rung động hơn sáu mươi thành. Đương thời vua Thế-Tổ mới dẹp yên thiên
hạ, thấy dân đã mõi mệt và chán việc dụng binh, bèn đóng cửa Ngọc-Quan
từ tạ Tây-Vực. Phương chi Nam-Việt là chỗ hoang viễn, không đáng phiềnlụy đến quân đội nhà vua, nếu không phải Tân-Tức (hầu) chịu khó đánh dẹp
thì dân chín quận vẫn khoác áo bên trái đến bây giờ. Do đấy hai Phục-Ba
đáng được miếu thờ tại Lĩnh-Nam.
"Ở trên bể có nhà thờ Phục-Ba, trong niên-hiệu Nguyên-Phong (1078-1085),
có lời chiếu chỉ của vua (Thần-Tông nhà Tống), phong làm Trung-HiểnVương. Hễ có ghe thuyền qua biển đều tới chỗ ấy mà bói, khi nào quẻ bói
tốt, nói đi được, mới đi, hễ quẻ xấu thì thôi, sự linh ứng khiến người ta phải
tin, đúng đắn như đo-lường, cân chỉ thăng bằng, không hề sai chạy.
"Than-ôi! không phải là người có đức cao dày, thì đâu được như thế? Tôi
nhân có tội bị đày qua Đàm-Nhĩ ba năm, nay lại trở về bể Bắc, qua lại đều
gặp gió xuôi, không lấy gì đền đáp ơn thần, bèn lập bia và làm bài minh như
sau:
"Sóng gió khôn lường nỗi hiểm nguy,
Cá rồng lặng lẽ dữ hơn chi,
Tin cậy hai ông đã phù trì,
Nước sâu muôn sải thuyền tỉ-ti.
Từ ...
Lê tắc
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Mục lục
Lời Giới Thiệu
Tống tự
Quận ấp
Đại-Nguyên Phụng Sứ
Chính Thảo Vận Hướng
Đại Nguyên Danh Thần Vãng Phục Thơ Vấn
Biểu Chương
Các quan Thứ-Sử, Thái-Thú
Các Đô Đốc, Thứ-Sử Giao-Châu
Các quan Đô-Đốc, Đô-Hộ,
Những người tôi các đời trước sang ký ngụ
Gia thế Họ Triệu
Gia thế Họ Lý
Gia thế Họ Trần
Học Hiệu
Nhân Vật
Tạp Ký
Thơ của các danh-nhân đi sứ An-nam
Thơ của các danh-nhân An-Nam
Đồ Chí Ca
Lời Giới Thiệu
Sử Liệu Việt Nam do Lê Tắc soạn năm 1335 - Uỷ Ban Phiên Dịch Sử Liệu
Viện Đại Học Huế dịch năm 1961
Song song với công việc biên mục Châu bản triều Nguyễn, Ủy ban Phiên
Dịch Sử Liệu Việt-Nam đã lập một kế hoạch riêng để hiệu đính và phiên
dịch các bộ sử Việt Nam. Theo kế hoạch dự định ấy, các phiên dịch viên
trong Ủy ban đã tham khảo các truyền bản tàng trử tại các thư viện Nhật
Bản, Trung Hoa và Anh Quốc, làm xong một hiệu bản của bộ An Nam Chí
Lược và hoàn thành một bản phiên dịch Việt văn.
Nói về cuốn An Nam Chí Lược, ai ai cũng biết rõ soạn giả Lê Tắc là một tên
phản bội với Tổ quốc. Trong lúc nước nhà đang gặp ngoại xâm, xã tắc nguy
cấp, nhân dân đau khổ, Lê Tắc cùng bọn Trần Kiện và Trần Ích Tắc, không
những không chịu gắn sức phấn đấu để cứu nước cứu dân, trái lại nhẩn tâm
và làm tôi địch. Hơn nữa, trong bộ An Nam Chí Lược, Lê Tắc quên mình là
người Việt, dựa vào lập trường và quan điểm người Nguyên để soạn tập.
Chẳng hạn, như những lời nịnh nọt a dua của soạn giả, những đoạn văn kiêu
ngạo tự tôn tự đại trình bày trong các chiếu chỉ nhà Nguyên và trong các bài
tựa các danh nhân hồi ấy, đều khiến cho chúng ta vô cùng uất ức và đau đớn.
Sở dĩ Ủy ban lấy bộ An Nam Chí Lược làm công việc phiên dịch đầu tiên, là
vì bộ ấy có lẽ là bộ sử xưa nhất do một cá nhân người Việt soạn ra, và gồm
có nhiều sử liệu đáng quý có liên quan đến cổ sử và trung sử Việt Nam, chứ
không phải Ủy ban có chút định nào dung thứ những hành động và quan
niệm sai lầm của soạn giả đối với tổ quốc. Nói khác, chúng tôi coi cuốn sách
này là một sử liệu, là một đối tượng cho cuộc nghiên cứu sử học thuần túy,
bởi vậy, thành thực muốn cung cấp một bộ hiệu bản và bản dịch đáng tin cậy
cho học giới mà thôi.
Trong hai nghìn năm quốc sử, chúng ta không thể không công nhận rằng còn
nhiều chỗ thiếu sót, mơ hồ, đang chờ đợi sự cố gắng của sử gia Việt Nam, để
bổ túc hoặc xác định lại. Vậy, điều cần thiết cho nền sử học Việt Nam ngày
nay là gây phong trào nghiên cứu theo phương pháp khoa học, nhất là về
phương diện sưu tầm và khảo đính sử liệu, chúng ta nên tìm cách nâng đỡ và
xúc tiến. Căn cứ vào quan điểm ấy, tôi thành thực tin rằng bộ hiệu bản và
bản dịch này là một thực hiện mới của nền sử học tại Việt Nam, và sẽ đem
lại rất nhiều bổ ích cho công việc tìm tòi sự thực trong quốc sử.
Huế, ngày 22 tháng 4 năm 1960
Viện Trưởng Viện Đại Học Huế
L. M. Cao Văn Luận
Tống tự
Quyển đệ nhất
Cổ-Ái đông sơn Lê-Tắc biên
Tống Tự
Từ xưa nước An-Nam thông giao với Trung-Quốc, thời vua ChuyênHúc, phía bắc đi tới U-Lăng,phía nam đi tới Giao-Chỉ. Vua Đế-Nghiêu sai
Hy Hoà qua ở đất Nam-Giao, vua Thuấn sai Vũ qua Nam yên-vỗ Giao-Chỉ.
Qua đời Chu-Thành-Vương (1115-1079 trước công nguyên), họ ViệtThường qua chín lần thông-ngôn, tới cống-hiến mà nói rằng: "Trời không có
gió bảo, không mưa dầm, ngoài biển không nổi sóng dữ đã ba năm nay, có lẽ
ở Trung-Quốc có đấng thánh-nhân trị-vì, sao chẳng tới chầu?". Lúc bấy giờ,
Chu-Công đặt bài ca, đánh đàn thuật chuyện họ Việt-Thường tới chầu: "Ô hi
ta ta! Phi Đán chi lực, Văn-Vương chi đức", nghĩa là: ôi ôi! vui thay, cảnhtượng thái-bình không phải nhờ sức của Đán (tên của Chu-Công) mà là nhờ
đức của vua Văn-Vương. Nước Việt-Thường, tức đất Cửa-Châu, ở phía nam
Giao-Chỉ.
Quyển Hán-Quan-Nghi của Ứng-Thiện chép rằng: "trước tiên Trung-Quốc
mở mang từ "sóc" (phương bắc), rồi sau tiến sang phương nam lấy làm "cơ
chỉ". Hiện nay, các sách viết chữ "chỉ" (cái nền) là viết sai.
Nhà Tần (246-207 trước công nguyên) lấy Giao Chỉ làm Tượng-Quận; đến
khi nhà Tần loạn thì Đô-uý quận Nam-hải là Triệu-Đà nổi binh đánh lấy hết
các quận quốc, rồi tự lập làm vua. Khi ấy, Hán-Cao-Tổ sai Lục-Giả qua lập
Đà làm Việt-Vương. Sau khi Cao-Tổ băng, Cao-Hậu cấm Nam-Việt mua đồ
sắt của Trung-Quốc, Đà tiếm hiệu xưng đế, rồi phát quân đi đánh Trường-Sa.
Văn-đế lại sai người đưa thư qua trách Đà. Đà có ý sợ, bèn bỏ hiệu đế,
nguyện làm tôi và cống hiến phẩm vật.
Năm Kiến-Nguyên thứ 3, (vua Võ-đế, 142 trước công nguyên) Đà mất, con
cháu họ Triệu truyền xuống bốn đời, kể được hơn chín mươi năm.
Võ-đế sai Chung-Quân đi sứ qua Nam-Việt để dụ vua Việt tên là Hưng vào
chầu, Hưng muốn đi, nhưng bị tướng Lữ-Gia can ngăn, vua không nghe, Gia
làm phản, nổi binh đánh giết vua và cả sứ-gả nhà Hán, lập Kiến-Đức là anh
khác mẹ lên làm vua Nam-Việt.
Năm Nguyên-Đinh thứ 5 (112 trước công nguyên), Vệ-Uý là Lộ-Bác-Đức
xuất mười vạn quân qua đánh Nam-Việt, năm thứ sáu, mới đánh bại người
Việt, lấy đất đó chia làm các quận: Nam-Hải, Thương-Ngô, Uất-Lâm, HợpPhố, Giao-Chỉ, Cửu-Chân, Nhật-Nam, Châu-Nhai và Đam-Nhỉ, mỗi quận
đặt Thái-thú để cai trị.
Qua nguyên-niên Sơ-nguyên của Nguyễn-Đế (48-33 trước công nguyên), bãi
bỏ hai quận Châu-Nhai và Đam-Nhỉ, còn lại bảy quận, kể cả Giao-Chỉ. Khi
đầu, Giả-Quyên-Chi tâu rằng: Châu-Nhai, Đam Nhỉ, đều ở hải ngoại; xứ ấy
thường cậy thế hiểm trở mà làm phản, đến lúc dụng binh tới dẹp, thì chỉ có
miếng đất vô dụng mà thôi, nếu bỏ đi cũng không đáng tiếc. Vua Hán bèn hạ
lời chiếu bãi bỏ.
Nhan-Sư-Cổ nói: bảy quận đều thuộc về Giao-Châu, theo chế độ nhà Hán,
các quận thuộc châu, nên đặt Thứ-sử Giao-Châu để cai-trị chung.
Năm Kiến-Võ thứ 16 (40 sau công nguyên), đời vua Hán Quang-Võ, có
người đàn bà Giao-Chỉ tên là Trưng-Trắc làm phản, năm thứ 19 (43), sai
Mã-Viện qua đánh dẹp yên, rồi dựng trụ đồng để làm giới hạn nhà Hán.
Năm Kiến-An thứ 15 (210), Hiến-Đế dời chỗ cai trị qua quận Nam-Hải.
Vương-Phạm nói: chỗ quận trị của quan Thứ-sử ở đất Giao-Châu, cuối đời
Hán, đổi qua Nam-Hải, khi Tôn-Quyền mới được ấn mạng của nước Nguỵ,
cũng cầm cờ mao tiết làm tổng-đốc Giao-Châu và kiêm lĩnh Kinh-Châu.
Tôn-Tư làm Giao-Chỉ Thái-thú quá tham bạo, bị quận lại Lữ-Hưng giết, các
quận Cửu-Chân và Nhật-Nam đều phản, và hàng nhà Tấn.
Tôn-Quyền thấy Giao-Chỉ ở xa, bèn chia Giao-Châu đặt Quảng-Châu và dời
quận trị của Giao-Châu qua Long-Biên.
Nguyên niên Kiến-Hoành (269), vua nước Ngô là Tôn-Hạo sai các tướng là
Tiết-Hủ, Đào-Hoàng qua thu phục Giao-Chỉ, giết các tướng do nhà Tấn đặt
ra, như vậy đất Cửu-Chân lại thuộc về Ngô. Đến lúc nước Ngô mất, GiaoChâu trở về nhà Tấn, trải qua các triều: Tống, Tề, Lương, Trần, Tuỳ, Đường
đều để y như cũ, chỉ cải tên Cửu-Chân làm Ái-Châu, Nhật-Nam làm HoanChâu, đều thiết Thứ-Sử, hoặc đặt Giao-Châu tổng-quản hoặc An-Nam đôđốc để thống trị. Qua đời Đờng mới chia Lĩnh-Nam làm đông tây đạo, đều
đặt Tiết Độ-Sứ, lại đặt ra năm quận: Quế, Quản, Ung, Dung và An-nam, đều
thống thuộc Đông-đạo, về phận Tây-đạo, thì đặt An-nam đô-hộ kiêm cả ngũ
quản. Kinh-Lược-Chiêu-Thảo-Sứ là Trương-Bá-Nghi đắp La-Thành tại Annam, công trình chưa xong, đến năm Nguyên-Hoà thứ 3 (808), đô hộ là
Trương-Chu đắp tiếp thêm mới hoàn công. Lâm-Tư nói rằng: La-Thành chuvi 2000 bước, tốn hết 25 vạn công.
Đến đời vua Tuyên-Tông, niên hiệu Đại-Trung (847-859) có viên đô-hộ cai
trị không được đứng đắn, đãi dân bằng lối bạo ngược, họ bèn liên-kết với rợ
Nam-Chiếu, trở lại đánh phủ An-nam, cuộc rối loạn chém giết kéo dài luôn
mấy năm không thôi. Năm Hàm-Thông thứ 3 của vua Y-Tông, (682), nước
Nam-Chiếu đánh hãm La-Thành; viên Kính-Lược-Sử Thái-Tập bị chết, vua
sai Cao-Biền làm chức đô-hộ, đem quân đánh khôi phục phủ thành, chém
tướng mọi là Đoàn-Tù-Thiên và bọn quân mọi hơn 30.000 cái đầu; rồi tu bổ
La-Thành lại, cải xưng đô-hộ-phủ Tịnh-Hải-Quân. Biền được trao cho làm
chức Tiết-Độ-Sứ.
Kịp dời Ngũ-Đại, các người thố hào ở các Châu Giao, Ái là Khúc-Hạo,
Dương-Diên-Nghệ, Kiều-Công-Tiện, v.v... thay nhau dùng võ lực cướp
quyền.
Tướng cũ của Nghệ là Ngô-Quyền bèn giết Công-Tiện mà tự lập làm vua,
truyền được vài đời, đến khi Ngô-Xương-Văn chết, thì có bộ thuộc là NgôBình (tức Lữ-Xữ-Bình), dành làm vua; Đinh-Bộ-Lĩnh giết Ngô-Bình, lãnh
nước Giao-Chỉ, tự xưng là Vạn-Thắng-Vương, lại tự ý cho con Liễn làm
Tiết-Độ-Sứ.
Đầu nhà Tống, Liễn khiến Sứ nhập cống, Thái-tổ phong Bộ-Lĩnh làm Giaochỉ Quận-Vương và hạ chiếu cho Liễn làm Tiết-Độ-Sứ An-nam đô-hộ. Sau
Liễn và cha đều mất, em là Triền kế lập thì bị Thái-Hiệu Lê-Hoàn phế bỏ và
cướp ngôi. Lê-Hoàn giả làm tờ biểu dâng vua nhà Tống, nói rằng:
Triền khiến Hoàn thay làm vua. Thái-Tông nhà Tống bèn phong Hoàn làm
vua. Nhà Lê truyền được ba đời, cộng ba mươi năm, bị Lý-Công-Uẩn cướp
ngôi. Vua Chân-Tông lại phong Công-Uẩn làm Giao-Chỉ Quận-Vương.
Năm Long-Hưng thứ 2 của Hiếu-Tông (1164), Lý-Thiên-Tộ sai sứ nhập
cống, được vua Tống phong làm An-nam quốc-vương, tên nớc An-nam bắt
đầu từ đó.
Họ Lý truyền ngôi được tám đời, không có con trai, do con gái là ChiêuThánh nối ngôi. Trong năm Canh-Dần niên hiệu Thiệu-Định nhà Tống
(1230), Chiêu-Thánh nhường ngôi cho chồng là Trần-Nhật-Cự (tức TrầnCảnh), vua Tống lại phong Nhật-Cự làm An-nam Quốc-Vương.
Năm Quý-Sửu (1253), Đại-Nguyên đã dẹp yên Vân-Nam, đến mùa đông
năm Đinh-Tỵ (1257), sai Đại-Soái là Ngột-Lương Hợp-Đãi đem quân qua
biên-giới An-nam, do đường Quảng-Tây để hội binh đánh nhà Tống; quânđội nhà Trần chống cự, không được thắng, bèn nạp khoản xưng thần, rồi
khiến bồi-thần dâng lời biểu và thường năm qua cống hiến phẩm vật.
Đến năm Tân-Dậu niên-hiệu Trung-Thống (1261), vua Thế-Tổ Hoàng-Đế lại
phong họ Trần làm vua An-nam; qua năm Đinh-Sửu, hiệu Chí-Nguyên
(1277), vua Trần mất, Thế-Tử (tức Nhật-Hoảng), không xin sắc-mạng, mà tự
lập làm vua, nên vua sai Thượng-Thư bộ Lễ là Sài-Thung sang mời nhập
triều; vua Trần mượn cớ có tật không đi. Qua năm sau, lại lấy cớ có tật
không đi, sai quốc-thúc là Trần-Di-Ái sang triều-kiến. Thế-Tổ viện cớ vua
có bịnh, bèn lập Di-Ái làm vua.
Năm Tây-Tỵ (1281), sai Sài-Thung nhận chức An-nam-Hành Tuyên-Uý-Sứ
Đô-Nguyên-Soái, xuất binh 1000 người, đưa Di-Ái về nước, đi đến địa-giới
Vĩnh-Bình, An-nam không chịu nhìn nhận, Dị-Ái sợ, ban đêm trốn về, chỉ
sai bồi-thần thay mặt tiếp rước Sài-Công vào nước, tuyên lời dụ chỉ của vua
rồi trở về.
Năm Nhâm-Ngọ, hiệu Chí-Nguyên (1282), quan Hữu-Thừa là Toa-Đô cầm
quân qua đánh thâu Chiêm-Thành, triều-đình sai sứ yêu-cầu vua An-nam cho
mượn đường tiến binh, và giúp quân lương, Thế-Tử (tức vua Trần) không
chịu. Đến mùa đông năm Giáp-Thân, hiệu Chí-Nguyên (1284), vua sai TrấnNam-Vương Thoát-Hoan và quan Bình-Chương là A-Lý-Hải-Nha tiến tới
biên giới, Thế-Tử kháng cự, thua chạy, em là Ích-Tắc, quy thuận vào chầu,
vua thương tình, phong Ích-Tắc làm An-nam quốc-vương, lại phong cậnthần là Trần-Tú-Viên làm Phụ-Nghĩa-Công, các quan lại đi theo cũng đều
cho tước-vị.
Năm Đinh-Hợi, hiệu Chí-Nguyên (1287), Thế-Tổ sai Trấn-Nam-Vương và
quan Bình-Chương là Áo-Lỗ-Xích cầm quân qua bình-định An-nam, khi
quân kéo đến, Thế-Tử đánh thua, chạy trốn ngoài hòn đảo ở giữa biển. Qua
mùa xuân, tháng ba, năm sau, Trấn-Nam-Vương thấy khí-hậu nước An-nam
quá nóng-nực độc-địa, bèn kéo quân về.
Trong năm Quý-Tỵ hiệu Chí-Nguyên (1293), vua lại sai Đại-Vương Ích-CátLiệt-Đải và quan Bình-Chương là Lưu-Nhị-Bạt-Đô, v.v... qua đóng đồn tại
đất Việt, để chờ qua năm là năm Giáp-Ngọ (1294), trong khoảng mùa thu thì
tiến binh. Nhưng tháng giêng năm ấy vua Thế-Tổ băng; qua tháng tư mùa
hạ, Thành-Tông Hoàng-Đế lên ngôi, hạ chiếu bãi binh, lại khiến quan ThịLang bộ Lễ là Lý-Hản, quan Lang-Trung là Tiêu-Thái-Đăng đi sứ qua Annam tha tội cho Thái-Tử An-nam và dẫn sứ-thần An-nam là Đào-Tử-Kỳ về
nước để tuyên lời dụ-chỉ. Lúc đó, Thế-Tử đã mất từ mấy năm, nên con vua
suất các quan liêura đón, đặt bàn xông trầm, trông về cửa khuyết (nước
Nguyên) mà lạy tạ ơn. Lại khiến bồi-thần qua dâng lời biểu chúc mừng, xin
làm phiên-thần vĩnh-viễn, chiếu-lệ thường triều-cống, đến nay vẫn còn.
Nam-Giao đời xưa, nhà Chu gọi là Việt-Thường, nhà Tần gọi là TượngQuận, nhà Hán đặt làm ba quận: Giao-Châu, Cửu-Chân và Nhật-Nam. Nhà
Đường lại cải Giao-Châu làm An-nam phủ, quận Cửu- Chân làm Ái-Châu,
quận Nhật-Nam làm Hoan-Châu, tức là La-Thành, Thanh-Hoá và Nghệ-An
ngày nay vậy.
Quận-ấp
Đất Nam-Giao xưa, nhà Chu gọi là Việt-Thường, nhà Tần đặt tên là TượngQuận. Đến cuối nhà Tấn, Nam-Hải-Uý là Triệu-Đà đánh tóm thâm đất, tự
lập làm một nước riêng và tiếm xưng vương-hiệu.
Sơ niên Tây-Hán, Cao-Tổ phong Đà làm Nam-Việt-Vương, trải được mấy
đời, thì tướng Nam-Việt là Lữ-Gia làm phản, giết vua Triệu và các sứ-thần
của nhà Hán. Vũ-Đế sai Phục-Ba tướng-quân Lộ-Bác-Đức sang đánh diệt
Nam-Việt, rồi đặt ra chín quận, bổ quan cai trị. Nước An-nam ngày nay tức
là 3 quận Giao-Chỉ, Cửu-Chân và Nhật-Nam ở trong chín quận ấy.
Về sau các triều đại kế tiếp, chế-độ quận huyện không nhứt định.
Qua đời Ngũ-Đại (907-959), người đất Ái-Châu là Ngô-Quyền, chiếm giữ
quận Giao-Chỉ; đời sau các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần, nối nhau tranh quyền,
đều được nhà Tống phong vương tước. Quan-chế, hình-pháp và hành-chính,
ít nhiều học của Trung Hoa, còn về quận-ấp hoặc theo cũ, hoặc đổi mới, nay
lấy đại-khái mà chép lại.
Đại-La Thành-Lộ 1 xưa là nước Giao-Chỉ, đời nhà Hán để như cũ, nhà
Đường đặt làm An-nam đô-hộ-phủ, thành phủ ở tại phía tây bờ sông LưGiang; Trương-Bá-Nghi đời Đường bắt đầu xây thành ấy, Trương-Chu, CaoBiền tiếp-tục sửa sang đắp thêm. Trong thời Chân-Tông nhà Tống, Lý-CôngUẩn người quận ấy, kiến-quốc tại đây. Đến nhà Trần nối theo nhà Lý lấy đất
ấy đạt thêm ba phủ nữa: Long-Hưng, Thiên-Trường và Trường-An.
Long-Hưng-Phủ: tên cũ là Đa-Cương-Hương. Tổ-tiên họ Trần lúc còn hànvi, ban đêm đi qua một cái cầu khe, khi qua rồi, ngoảnh lại, không thấy cầu
nữa. Chẳng bao lâu, họ Trần được nước, người ta gọi khe ấy là Long-Khê,
nên đổi tên Đa-Cương làm Long-Hưng.
Thiên-Trường-Phủ: tên cũ là Tức-Mặc-Hương, nơi phát-đích họ Trần. Đến
khi họ Trần được nước, xây một hành-cung tại đó, mỗi năm đến một lần, để
tỏ ra là không bỏ quân chỗ phát-tích của ông bà, rồi đổi tên làm ThiênTrường-Phủ, chỗ ấy có nước thủy-triều chảy quanh thành, hai bên bờ mọc
nhiều cây hoa, khí thơm ngát người, hoạ-thuyền qua lại, giống như cảnh tiên
vậy.
Trường-An-Phủ: vốn là động Hoa-Lư; chỗ sinh ra Đinh-Bộ-Lĩnh, cuối đời
Ngũ-Quý, họ Đinh lập quốc tại đó.
Qui-Hoá-Giang-Lộ: tiếp với biên-giới Vân-Nam.
Tuyên-Hoá-Giang-Lộ: tiếp giáp đạo Đăc-Ma.
Đà-Giang-Lộ: tiếp với địa-giới Kim-Xỉ.
Lạng-Châu-Giang-Lộ: tiếp với tả-giang và hữu-giang.
Bắc-Giang-Lộ: ở trên đông-ngạn của La-Thành, nước sông Lư-Giang thông
với biển, trên sông có bắc 10 cái cầu đồ sộ và đẹp đẽ.
Như-Nguyệt-Giang-Lộ.
Nam-Sách-Giang-Lộ.
Đại-Hoàng Giang-Lộ.
Hồng-Lộ.
Khoái-Lộ.
Châu
Các châu đều tiếp địa-giới Quảng-Tây và Vân-Nam, tuy gọi là châu huyện,
nhưng sự thật là động vậy.
Quốc-Oai-Châu: ở phía nam thành Đại-La.
Cổ-Châu: ở Bắc-Giang.
Tiên-Châu: xưa gọi là Long-Biên.
Phú-Lương-Châu.
Tư-Nông-Châu: một tên khác gọi là Dương-Xá.
Định-Biên-Châu: một tên khác gọi là Minh-Mỵ.
Vạn-Nhai-Châu: một tên khác gọi là Minh-Hoàng.
Văn-Châu: một tên khác gọi là Môn-Châu.
Thất-Nguyên-Châu.
Tư-Lang-Châu.
Thái-Nguyên-Châu: một tên khác gọi là Hoàng-Nguyên.
Thông-Nông-Châu.
Vị-Long-Châu: một tên khác gọi là Ất-xá.
Quang-Châu.
La-Thuận-Châu: một tên khác gọi là Lai-thần.
Hoàng-Đạo-Châu: tức Bình-Lâm-Trường.
Dư nữa, loại như thế, không chép.
Tên Châu Thời Xưa
(Nhiều tên đã thay đổi, chỉ còn lại số ít)
Phong-Châu: nhà Ngô gọi Tân-Châu.
Tô-Mậu-Châu.
Tô-Vật-Châu.
Trường-Châu.
Nga-Châu.
Đường-Châu: một tên khác gọi là Phương-Lâm.
Các Huyện
Võ-Ninh Huyện, Vạn-Tải Huyện, Khâu-Ôn Huyện, Tân-Lập Huyện, Hoảng
Huyện, Chỉ Huyện, Lịch Huyện, Lan-Kiều Huyện, Truy-Diên Huyện, CổDũng Huyện, Cung Huyện, Quẫn Huyện (Nguyên-sử chép là Quật),
Thượng-Pha Huyện, Môn Huyện.
Dư nữa không chép
Tên Huyện Thời Xưa
Long-Biên: Cuối đời Tây-Hán, trị-sở của Thứ-sử quận Giao-Châu tên là
Long-Uyên, sau vì có Giao-Long hay lên nằm khoanh trên mặt nước, mới cải
tên là Long-Biên 2
Chu-Diên: Huyện của đời Hán; đời Đường cải làm Diên-Châu, đặt ra hai
huyện Cao-Lăng và AnĐịnh.
Liên-Lâu: Âm chữ trên là "liên", âm chữ dưới là "lâu". Thời Hán là tri sở
của thứ-sử Giao-Châu.
My-Linh: Trị-sở của quan Đô-Uý quận Giao-Chỉ đời Hán.
Khúc-Dương: Âm là "Dương".
Câu-Lậu: Hồi trước Cát-Hồng làm huyện lệnh ở đây.
An-Thuận: Đời nhà Đường gọi là Thuận-Châu.
Sùng-Bình: Đời Đường là An-Bình.
Hải-Bình: Đời Đường là Ninh-Hải.
Cổ-Đô
An-Định
Phủ-Lộ Thanh Hoá
Đời Tây-Hán là quận Cửu-Chân, đời Tuỳ, Đường là Ái-Châu, những thuộc
ấp của châu ấy hiện nay, gọi là giang 3 , trường, giáp và xã, kê như sau:
Lương-giang, Ba-lung-giang, Trà-giang, Cống-giang, Thái-xa-giang, Antiêm-trường, Văn-trường, Cổ-đằng-giáp, Chi-minh-giáp, Cổ-hoằng-giáp, Cổchiến-giáp, Duyên-giáp, Điền-sử-giáp, Kiết-thuế-giáp.
Tên Huyện Thời Xưa
Đồ-Bàng: Chữ "bàng" theo Nhan-Sư-cổ-âm là "lung".
Cư-Phong: Là nơi Mã-Viện bắt được dư-đảng của Trưng-Trắc.
Vô-Công: Trị sở của Đô-Uý quận Cửu-Chân đời Hán.
Việt-Thường: Một tên khác là Cửu-Đức.
Nghệ An Phủ Lộ
Trong thời Tây-Hán là Quận Nhật-Nam, đời Tuỳ, Đường gọi là Hoan-Châu.
Ấu-Tân-Giang - Minh-Đạo-Giang.
Kệ-Giang - Thương-Lộ-Giang.
Đường-Gia-Giang - Trương-Xá-Giang.
Dư nữa không chép.
Diễn-Châu lộ
Vốn là thuộc huyện của quận Nhật-Nam, gọi là Phù-Diễn và An-Nhân, nhà
Đường đổi tên là Diễn-Châu.
Cự-Lại-Giang- Tha-Viên-Giang.
Hiếu-Giang - Đa-Bích-Trường.
Cự-Lam-Xã.- Cao-Gia-Xã.
Ban-Bát-Xã.
Dư nữa không chép.
Bố-Chánh phủ lộ
Nguyên là huyện Tượng-Lâm, quận Nhật-Nam đời Tây-Hán.
Cuối đời nhà Hán, có người trong ấp giết huyện lệnh, tự lập thành nước, gọi
là Lâm-ấp.
Đầu niên hiệu Nguyên-Hoà (806-820) nhà Đường, lại thuộc về An-nam phủ,
nay tên là Bố-Chính.
Trong xứ ấy, núi trùng-điệp, cho nên Liễu-Tử-Hậu có câu thơ rằng: "Lâm-ấp
đông hồi sơn tợ kính", nghĩa là "từ phía đông quanh lại xứ Lâm-ấp, núi dựng
như cây giáo".
Đồ-Lê-Giang: (Tiếp giới Chiêm-Thành).
Núi
Núi Phật-Tích: vì trên đá có dấu chân, nên đặt tên là Phật-Tích.
Núi Tản-Viên: hình núi như cái tán.
Núi Tiên-Du: có hòn đá bàn-thạch, dợn có đường gạch như bàn cờ, tương
truyền rằng: xưa có tiên đánh cờ vây ở đó. Bọn con gái đi hái củi thường đến
giao-hợp ở trên đá bàn cờ, nên hòn đá ấy đổ xuống và nứt vỡ.
Núi Võ-Ninh: Tục truyền rằng ở dưới núi có mộ của Triệu-Việt-Vương.
Núi Phổ-Lại: Năm Đinh-Vị, Chí-Nguyên, (có lẽ chép nhầm năm Đinh-Hợi
Chí-Nguyên tức năm 1287 A.D.), quan binh có tới làm hang rào cây, để chứa
lương thực ở đó.
Núi Vạn-Kiếp: Trở mặt ra một con sông lớn, sau lưng có núi muôn trùng,
rừng rậm tre cao, dưới nước trên cầu, phong cảnh rất đẹp. Hưng-Đ̐ờng tắt
vào núi thì thấy hoa và cây rậm rạp tốt đẹp, có suối ngọc chảy mòn đá, lửa
đóm rước người (vào chơi), mát mẽ lạ lùng, cõi đời không có.
Núi Yên-Tử: Gọi là Yên-Sơn hoặc là Tượng Sơn, bề cao lên quá từng mây.
Đầu niên hiệu Hoàng-Hựu, nhà Tống (1049-1053), gọi là Xứ-Châu, hồi giữa
niên-hiệu Đại-Trung Trường-Phù (1008-1016), triều đình lại ban tên là TửY-Đông-Uyên. Đại-Sư là Lý-Tư-Thông có dâng lên vua hải-nhạc danhsơnđồ và vịnh thơ tán: Phúc-Địa thứ tư tại Giao-Châu là Yên-Tử-Sơn.
Tân kỳ chóp núi nêu vài nụ,
Yểu-điệu hình khe trổ một ngành.
Tiên cỡi loan qua ngồi cảnh tịnh,
Người xem rồng xuống giỡn đầm xanh.
Tắc Sơn: Có động Yên-La, đỉnh núi Tý-ngọ, đều xinh đẹp lạ kỳ. Thiện-LạcVương thường dắt đệ-tử vào đó.
Núi Địa-Cận: Núi ấy rất cao và hiểm trở, có cây tùng đã lâu đời, tục truyền
có rồng khoanh ở trên cây ấy. Trần-Thái-Vương có làm hành-cung tại đó.
Núi Thiên-Dưỡng: Tốt đẹp mà hiểm, khi thủy-triều lên xuống mới chèo ghe
đi tới được. Họ nhà vua xây dựng nhà cửa ở trong, để tránh quốc-nạn.
Động Võ-Lâm: Xưa nước An-nam, đời vua thứ tư của nhà Trần là TrầnNhân-Vương, bỏ ngôi vào ẩn ở đó để thành đạo, hiệu là Trúc-Lâm đạo-sĩ, có
làm Hương-hải-ấn-thi tập, truyền lại đời sau.
Núi Thần-Đầu: Núi ấy làm ranh giới cho hai quận La-Thành và Thanh-Hoá.
Thế núi liền nhau có hai bờ, nước thủy-triều ngoài biển chạy vào ở giữa.
Thời xưa người ta tới đục mở ba hòn núi ở bờ phía nam để tiện sự qua lại.
Hồi trước Thánh-Vương nhà Lý, đánh nước Chiêm-Thành, ý muốn vượt qua
biển, nhưng gặp mù và sóng lớn, đi không được, mới cầu thần ở núi ấy, rồi
đi được, khi về lập đền thờ ở đó, từ đó về sau, các hòn núi đều thuộc về
Thanh-Hoá cả.
Long Đại-Nham: Gọi là Bửu-Đài, sầm uất mà tốt đẹp đặc biệt, trong vách
đá có khoảng trống làm chỗ thờ phật, ở ngoài như treo những hoành đối, trổ
dáng nhà cửa, giàn trước có con sông trong, bọc sau lưng có hồ sen đỏ, cây
thông bóng mát vài dặm, núi non liên tiếp muôn trùng. Xưa có truyền lại
rằng có con chuột rất lớn ở trong hang núi, nên tục gọi là hòn lèn "Con dơi".
Núi Văn-Trường: Đá núi ấy rất tinh khiết mà trắng, làm hạt châu-thủy-tinh
được.
Biện-Sơn: Ở ngoài bể khơi, xưa có những thú-vật thình-lình hoá kiếp những
võ và xương tấp vào, xuyên qua hang đá, nay vẫn còn.
Núi An-Hoạch: Sản-xuất đá làm bia, làm đỉa nghiên. Sách cũ có chép: DựChương Thái-Thú Phạm-Nịnh sai sứ tới quận Cửu-Chân lấy đá làm khánh để
dùng ở trong trường học.
Núi Đông-Sơn: Chạy tới sông Chi-Minh, đã cao lại tốt, trên núi có hang,
trèo lên mà trông, sắc nước in trời thật là một cảnh rất đẹp. Phụ-thân tôi, (LêTắc) thời trung-niên, thôi làm quan, tự hiệu là Tư-Duy cư-sĩ, thường ẩn-cư
trong hang núi ấy.
Núi Khu-Na: Cao, rộng, nhiều ma, những con ma nầy mỗi khi ra khỏi núi
lại đốt nhà của người ta. Nhân có nhà sư tên là Phụng-Phù, cứ ngày đêm đọc
bài chú đại-bi, ma sợ tránh đi xa, người ta mới khỏi bị hại. Núi ấy có nhiều
trái cây ăn được, ai đến tha hồ mà ăn, nhưng hễ đem về thì lạc mất đường.
Núi Lập-Thạch: Là một hòn đá đứng sững vậy. Tương truyền rằng thuở xưa
có ông thần dựng một hòn đá to lớn để vạch địa hạt Ái-Châu và Diễn-Châu.
Núi Đà-Kỹ: Có một khoảng đất vườn, ở sát bờ biển, sinh ra thứ đá đen như
hình con cờ, hình sắc thật đẹp, đáng yêu. Ta thường ra chơi, gặp ông già nói
rằng: "cách đây hơn một trăm dặm, lại có sản-xuất con cờ đá trắng". Tục
truyền rằng: người tiên thường đánh cờ vây ở đó.
Núi Hương-Tượng: Rất cao rộng, sản-xuất gỗ thơm, tê-ngu và voi.
Sùng-Sơn: Thẩm-thuyên-Kỳ, đời nhà Đường bị đày qua đất Hoan-Châu, có
làm bài Sùng-Sơn hướng Việt-Thường thi:
Buổi mai leo đến núi Sùng,
Việt-Thường xế đến, ngồi trông bóng chiều.
Hang Sam-Cốc theo chiều bóng lặn,
Từ Trúc-Khê ra thẳng Bắc-Phương.
Trúc-Khê, Minh-Thủy thông-thương,
Rày Hang Sam-Cốc, xưa đường Sùng-Sơn.
Núi so le, cây ngàn thưa nhặt,
Quấn quít nhau ràng mắc thành chùm.
Đầy gò lá quế xanh um,
Hoa đằng nẩy nở trong lùm đá ngăn.
Trời lồng lộng còn dăng cửa sổ,
Cảnh âm thầm đá trổ hang mây.
Thợ trời dường lắm công xây,
Bao nhiêu thẳng-tích người rày tới nơi.
Không phải muốn tìm nơi quái dị,
Khoan thai chưa quyết chí lui về.
Phân Sơn: Lại còn gọi là Liệt-Sơn, hai nước An-nam và Chiêm-Thành, lấy
núi này làm ranh-giới, tục truyền rằng cây cỏ ở trên núi ấy cũng chia hai: bên
ngã về Nam, bên ngã về Bắc.
Núi Kim-Ngưu: Sách xưa chép đá núi ấy đều sắc đỏ, trong đá có chất vàng,
đêm lại thì sáng như con đom-đóm.
Núi Đô-Long: Nơi Lưu-Phương đánh bại Lâm-ấp.
Sông
Sách xưa chép các con sông như Yêm-Thủy, Lô-Du-Thủy, Lậu-Thủy, TâyTuỳ-Thủy đều từ Đông nam đất Tuấn-Việt chảy đến Long-Môn đất GiaoChỉ.
Dương-Hùng (đời nhà Hán) nói rằng: "các xứ hoang nhàn ở giải đất GiaoChỉ, nước tiếp giáp với trời".
Lô-Giang: Sông Tam-Đái (ba giải) chảy tới La-Thành, lại từ sông Lô thông
ra biển.
Tô-Lịch-Giang: Chảy quanh La-Thành, trên sông có năm cái cầu, đều làm
rất đẹp. Hiệu Chí-Nguyên năm Bính Tý (1276), nhà Tống mất, Tăng-UyểnTử trốn sang An-nam, đi chơi qua cầu Lịch-Giang có ngâm bài thơ rằng:
Đầu bạc chàng Tô 4 , trời một góc,
Theo tiên vua Võ, nhạn về Nam.
Trên cầu sông Lịch trông về Bắc,
Trải mấy lằn thu thấy chẳng nhàm.
Tam-Đái-Giang: Nước sông Qui-Hóa từ Vân-Nam chảy về, nước sông
Tuyên-Quang từ Đặc-Ma Đạo chảy tới, nước sông Đà từ nguồn Chàng-Long
chảy về, nhân có ngã ba, nên đặt tên như vậy.
Phú-Lương-Giang: Là nơi Quách-Quỳ đời Tống đánh bại Giao-Chỉ.
Đại-Hoàng-Giang: Trong năm Giáp-Thân hiệu Chí-Nguyên (1284), là nơi
quan quân đánh phá An-nam.
Đại-Ác-Giang: Một tên khác gọi là Đại-An.
Bà-Lữ-Uyên: (vực) nước sâu có nhiều thủy quái.
Từ-Liêm-Thủy: Theo sách Cửu-Vực-Chí chép rằng: Từ-Liêm-Thủy ở tại
Giao-Chỉ. Xưa ở bên sông ấy, Lý-Nhân-Tổ có mười anh em đều từ hiếu cả,
nhân đó, mới đặt tên như vậy.
Long-Môn-Thủy: Sách xưa chép: "huyện Phong-Khê, quận Giao-Chỉ có
Long-Môn-Thủy, nước sâu trăm tầm, cá con nào lớn vượt lên suối ấy được,
thì hóa rồng, nếu lên không được, thì bị thương nơi trán và bày mang ra".
Việt-Thường-Uyển: Cứ sách Phò-Nam-Ký, khoảng đất giữa khe núi, gọi là
uyển. Vườn Cửu Đắc, có tên là Bổ-Uyển.
Cổ-Tích
Việt-Vương-Thành, tục gọi là thành Khả-Lũ, có một cái ao cổ, Quốc-vơng
mỗi năm lấy ngọc châu, dùng nước ao ấy rửa thì sắc ngọc tươi đẹp. GiaoChâu Ngoại-Vực-Ký chép: hồi xưa, chưa có quận huyện, thì Lạc-điền tuỳ
theo thủy-triều lên xuống mà cày cấy. Người cày ruộng ấy gọi là Lạc-Dân,
người cai-quản dân gọi là Lạc-Vương, người phó là Lạc-Tướng, đều có ấn
bằng đồng và dải sắc xanh làm huy hiệu. Vua nước Thục, thường sai con
đem ba vạn binh, đi chinh phục các Lạc-Tướng, nhân đó cử giữ đất Lạc mà
tự xưng là An-Dương-Vương. Triệu-Đà cử binh sang đánh. Lúc ấy có một vị
thần tên là Cao-Thông xuống giúp An-Dương-Vương, làm ra cái nỏ thần,
bắn một phát giết được muôn người.
Triệu Đà biết địch không lại với An-Dương-Vương, nhân đó trú lại huyện
Võ-Ninh, khiến Thái-Tử Thủy làm chước tá hàng để tính kế về sau.
Lúc Cảo-Thông đi, nói với vua An-Dương-Vương rằng: "Hễ giữ được cái nỏ
của ta, thì còn nước, không giữ được thì mất nước".
An-Dương-Vương có con gái tên là Mỵ-Châu, thấy Thái-Tử Thủy lấy làm
đẹp lòng, rồi hai người lấy nhau. Mỵ-Châu lấy cái nỏ thần cho Thái-Tử Thủy
xem, Thủy xem rồi lấy trộm cái lẩy nỏ mà đổi đi. Về sau Triệu-Đà kéo quân
tới đánh thì An-Dương-Vương bại trận, cầm cái sừng tê vẹt được nước vào
biển đi trốn, nên Triệu-Đà chiếm cả đất của An-Dương-Vương. Nay ở huyện
Bình-Địa 5, dấu tích cung điện và thành trì của An-Dương-Vương hãy còn.
Lưu-Chiêu nói: Giao-Chỉ tức là nước An-Dương. Mã-Phục-Ba đời Hán dẹp
yên giặc ở Giao-Chỉ, rồi dựng trụ đồng để làm giới hạn cho nhà Hán. Đời
nhà Đường, Mã-Tống làm chức An-nam đô-hộ, lại dựng hai cái trụ đồng, vì
Tống là con cháu của Phục-Ba. Xưa có truyền lại rằng: ở nơi động Cổ-Sum,
tại Khâm- Châu có cái cột đồng của Mã-Viện và lời thề rằng: "Hễ cái trụ
đồng nầy gãy, thì nước Giao-Chỉ tiêu-diệt", vì thế, người Giao-Châu, mỗi
khi đi ngang qua đều lấy đá, ngói, ném vào dưới chân cột đồng, nên
chẳngbao lâu, nơi ấy hóa thành gò.
Đổ-Phủ có câu thơ rằng: "Vũ lai đồng trụ bắc, ý tẩy Phục-Ba quân" nghĩa là:
"mưa phía Bắc đồng trụ, muốn rửa quân Phục-Ba".
Ở cương-giới nước Chiêm-Thành cũng có cột đồng. Mạnh-Hạo-Nhiên có
câu thi: "Đồng trụ Nhật-Nam đoan", nghĩa là cột đồng đứng đầu đất NhậtNam.
Sách Cửu-Vực-Chí nói: "cái giếng tại Giao-Châu không phải người đào".
Mã-Viện khi đã dẹp yên Giao-Chỉ, có làm trâu bò, lọc rượu để đãi quân-sĩ,
trong lúc yến tiệc, Viện thong thả nói với liêu thuộc rằng: "Người em họ của
ta tên là Thiếu-Du thường hay thương tôi khẳng khái có chí lớn và nói: "kẻ sĩ
sinh ở đời, miễn sao vừa đủ ăn mặc, đi cái xe tầm thường, cỡi con ngựa xấu
xí, làm chức lại thuộc trong quận, giữ phần mộ của tổ-tiên, làng xóm cho là
người hiền-lành, như vậy thì đủ rồi. Còn như ham muốn cho dư dũ, thì chỉ là
tự mình làm khổ cho mình đó thôi". Hồi ta ở giữa Lãng-Bạc và Tây-Lý, chưa
diệt được giặc, dưới thì nước lụt, trên thì khói mù, khí độc hừng hực, xem
lên thấy diều bay là là xuống nước, nhớ lại lời nói bình thời của Thiếu-Du, ta
tiếc không làm sao được như vậy".
Uy-Vũ-Miếu: Tô-Đông-Pha chép rằng: "nhà Hán có hai ông Phục-Ba đối
với dân Lĩnh-Nam đều có công-đức. Ông Phục-Ba trước là Bì-Ly Lộ-Hầu,
ông Phục-Ba sau là Tân-Tức Mã-Hầu. Nước Nam-Việt từ đời Tam-Đại trở
xuống, không đời nào dẹp yên cả. Đời Tần (246-207 trước công nguyên), tuy
có đặt quan-chức cai-trị, song rồi trở lại tình trạng man-di. Bì-ly mới diệt
được nước ấy và chia làm chín quận.
Nhưng đến đời Đông-Hán, lại có người con gái là Trưng-Trắc, khởi binh
rung động hơn sáu mươi thành. Đương thời vua Thế-Tổ mới dẹp yên thiên
hạ, thấy dân đã mõi mệt và chán việc dụng binh, bèn đóng cửa Ngọc-Quan
từ tạ Tây-Vực. Phương chi Nam-Việt là chỗ hoang viễn, không đáng phiềnlụy đến quân đội nhà vua, nếu không phải Tân-Tức (hầu) chịu khó đánh dẹp
thì dân chín quận vẫn khoác áo bên trái đến bây giờ. Do đấy hai Phục-Ba
đáng được miếu thờ tại Lĩnh-Nam.
"Ở trên bể có nhà thờ Phục-Ba, trong niên-hiệu Nguyên-Phong (1078-1085),
có lời chiếu chỉ của vua (Thần-Tông nhà Tống), phong làm Trung-HiểnVương. Hễ có ghe thuyền qua biển đều tới chỗ ấy mà bói, khi nào quẻ bói
tốt, nói đi được, mới đi, hễ quẻ xấu thì thôi, sự linh ứng khiến người ta phải
tin, đúng đắn như đo-lường, cân chỉ thăng bằng, không hề sai chạy.
"Than-ôi! không phải là người có đức cao dày, thì đâu được như thế? Tôi
nhân có tội bị đày qua Đàm-Nhĩ ba năm, nay lại trở về bể Bắc, qua lại đều
gặp gió xuôi, không lấy gì đền đáp ơn thần, bèn lập bia và làm bài minh như
sau:
"Sóng gió khôn lường nỗi hiểm nguy,
Cá rồng lặng lẽ dữ hơn chi,
Tin cậy hai ông đã phù trì,
Nước sâu muôn sải thuyền tỉ-ti.
Từ ...
 





