Viếng Lăng Bác - Bài giảng
Bệnh bứu cổ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:11' 12-03-2024
Dung lượng: 982.1 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:11' 12-03-2024
Dung lượng: 982.1 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
LÊ MẠNH HÙNG
Phó Chủ tịch Hội đồng
Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
VŨ TRỌNG LÂM
NGUYỄN ĐỨC TÀI
TRẦN THANH LÂM
NGUYỄN HOÀI ANH
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Bướu cổ, hay chính xác hơn là bướu giáp, là tên
gọi chung cho nhiều bệnh tuyến giáp khác nhau:
bướu cổ đơn thuần, bướu cổ địa phương, Basedow,
bướu nhân tuyến giáp, ung thư tuyến giáp, v.v..
Ở nước ta hiện nay, các căn bệnh tuyến giáp
chiếm tỷ lệ cao với hàng triệu người mắc bệnh ở cả
khu vực đồng bằng, thành thị lẫn khu vực nông
thôn và miền núi. Tuy nhiên, việc chẩn đoán và điều
trị các căn bệnh tuyến giáp lại gặp nhiều khó khăn,
thêm nữa, thực tế vẫn tồn tại những cách chữa bệnh
thiếu khoa học trong nhân dân khiến người bệnh
phải chịu thêm những di chứng nặng nề.
Với phương châm ngắn gọn, dễ hiểu và thực tế,
cuốn sách Bệnh bướu cổ do Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn
Huy Cường biên soạn, cung cấp những thông tin
về căn bệnh thuộc loại phổ biến hiện nay - bệnh bướu
giáp, qua đó giúp người dân có thể tự nhận biết một
số bệnh tuyến giáp, sớm đến gặp Bác sĩ chuyên khoa
để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Dù đã có nhiều cố gắng song nội dung cuốn
sách khó tránh khỏi hạn chế, Nhà xuất bản và tác
5
giả mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc
để lần xuất bản sau cuốn sách được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Hà Nội, tháng 6 năm 2019
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
MỘT SỐ KHÁI NIỆM
VỀ BỆNH BƯỚU CỔ
Bướu cổ (bướu giáp) được dùng để chỉ tình
trạng tuyến giáp to lên có thể nhìn thấy hoặc sờ thấy
được.
Bướu cổ địa phương là do thiếu hụt i-ốt trong
thức ăn và nước uống. Việt Nam được coi là nước có
tình trạng thiếu hụt i-ốt và theo kết quả điều tra của
Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2013-2014 tỷ lệ
trẻ em 8-10 tuổi mắc bướu cổ khá cao xấp xỉ 10%.
Cường giáp (hyperthyroidism): là tình trạng
quá thừa nội tiết tố tuyến giáp (do tuyến giáp tăng
sản xuất/phóng thích nội tiết tố tuyến giáp vào máu)
gây nên các triệu chứng cường giáp như run tay, tim
đập nhanh, cảm giác nóng bức và gày sút.
Nhiễm độc giáp (thyrotoxicosis) là tình trạng
quá thừa nội tiết tố tuyến giáp do nhiều nguyên
nhân trong đó bao gồm cả chứng cường giáp. Các
nguyên nhân đó có thể do tuyến giáp sản xuất dư
thừa hoặc do quá trình viêm tuyến giáp gây phóng
thích nhiều nội tiết tố tuyến giáp vào máu hoặc do
uống quá liều nội tiết tố tuyến giáp, như trước đó đã
bổ sung nội tiết tố để giảm cân.
Nội tiết tố là những chất sinh ra từ một cơ quan
7
(tuyến nội tiết) và được máu vận chuyển đến một cơ
quan khác (hay mô đích) mà ở đó chúng gây tác
dụng kích thích hoặc ức chế hoạt động của cơ quan
(hay mô) này. Nội tiết tố tuyến giáp có ảnh hưởng
đến toàn bộ cơ thể.
Basedow là tên gọi một loại bệnh cường chức
năng tuyến giáp, nguyên nhân là do các chất tự
miễn dịch trong cơ thể kích thích tế bào tuyến giáp
sản xuất nhiều nội tiết tố tuyến giáp. Đây là bệnh
cường giáp hay gặp nhất và thường ở phụ nữ.
Trong các tài liệu nước ngoài thường gọi bệnh này
là bệnh Graves hay bệnh Parry.
8
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LATS (Long Acting Thyroid Stimulator): Những
kháng thể kích thích hoạt động tế bào tuyến giáp.
TGI (Thyroid Growth Immunoglobulin): Những
globulin miễn dịch kích thích tăng trưởng tế bào
tuyến giáp.
TSH (Thyroid Stimulating Hormon): Nội tiết tố
tuyến yên có vai trò kích thích tăng trưởng và hoạt
động tế bào tuyến giáp.
TBG (Thyroide Binding Globuline): Globulin
gắn kết với nội tiết tố tuyến giáp.
TSHR (Thyroid Stimulating Hormon Receptor):
Thụ thể, nơi gắn kết nội tiết tố tuyến yên kích thích
tuyến giáp hoạt động (TSH).
TSAbs (Thyroid Stimulating Antibodies): Kháng
thể kích thích hoạt động tế bào tuyến giáp.
TRAbs (TSHR Antibodies): Kháng thể kháng
thụ thể TSH.
9
TBAbs (Antibodies with blocking activity on the
TSHR): Kháng thể ức chế hoạt động thụ thể TSH,
thường gây viêm giáp teo, song có thể gặp trong
bệnh Basedow.
PTU (Propyl Thio Uracil): Tên một loại thuốc
kháng giáp trạng tổng hợp.
TPO-Ab (Thyroperoxidase Autoantibodies): Tự
kháng thể kháng lại peroxidase của tuyến giáp.
10
ĐẠI CƯƠNG VỀ TUYẾN GIÁP
1. Giải phẫu
Tuyến giáp nằm ở phía trước cổ, bình thường
cân nặng chừng 20-25g. Tuyến giáp có 2 thùy đối
xứng, nối với nhau bởi eo tuyến vắt ngang qua sụn
khí quản. Tuyến giáp thường ở vị trí rất nông, dễ
dàng khám được bằng sờ nắn khi tuyến to lên
(bướu giáp: quen gọi là bướu cổ). Một số trường
hợp tuyến chìm sâu vào trung thất trong lồng ngực
hoặc ở các vị trí khác cần phải làm xạ hình tuyến
mới quan sát được.
2. Sinh lý
Tuyến giáp được nuôi dưỡng bởi nhiều mạch
máu, trong tuyến có 2 loại tế bào: tế bào C tiết
calcitonine (nội tiết tố làm giảm lượng calci máu) và
rất nhiều tế bào tuyến giáp liền nhau tạo thành
những nang đường kính khoảng 100 - 300 micromet.
Những tế bào này bắt giữ i-ốt ở máu và tổng hợp
tiền nội tiết tố tích trữ trong các nang. Khi có kích
thích bởi TSH (nội tiết tố tuyến yên), các nang giải
phóng một phần nội tiết tố tuyến giáp đã được tích
trữ dưới dạng Tri-iodothyronine (còn gọi là T3,
11
chiếm khoảng 20%), và Thyroxine (còn gọi là T4,
chiếm khoảng 80%).
3. Tác dụng của nội tiết tố tuyến giáp
a) Tác dụng lên sự phát triển cơ thể:
-
Thúc đẩy sự trưởng thành và phát triển não
trong thời kỳ bào thai và cả những năm đầu
sau khi sinh. Nếu không đủ lượng nội tiết tố
tuyến giáp trong giai đoạn này, sự phát triển
và trưởng thành của não sẽ chậm lại. Nếu
không được điều trị kịp thời từ trong bụng
mẹ và ngay sau khi sinh, trí tuệ trẻ sẽ không
phát triển (đần bẩm sinh).
- Làm tăng tốc độ phát triển: Ở trẻ có quá thừa
nội tiết tố tuyến giáp, sự phát triển của
xương nhanh hơn nên trẻ cao sớm hơn so với
tuổi, song, sự cốt hoá cũng sớm hơn nên trẻ
đạt tới chiều cao của người trưởng thành
sớm hơn (không phải trường hợp chiều cao
của người khổng lồ như khi bị cường nội tiết
tố tăng trưởng). Trường hợp thiếu nội tiết tố
tuyến giáp không được phát hiện sớm và
điều trị, trẻ sẽ bị lùn.
b) Tác dụng lên chuyển hoá tế bào:
-
12
Nội tiết tố tuyến giáp làm tăng hoạt động
chuyển hoá của hầu hết các mô trong cơ thể,
tăng tốc độ các phản ứng hoá học, tăng tiêu
thụ và chuyển hoá thức ăn để cung cấp năng
lượng, nhưng không được tích trữ lại mà thải
ra dưới dạng nhiệt nên khi thừa nội tiết tố
tuyến giáp (cường giáp) gây cảm giác nóng
bức, người bệnh ăn nhiều nhưng vẫn gầy sút.
Ngược lại, khi thiếu nội tiết tố tuyến giáp
(suy giáp), bệnh nhân luôn cảm thấy lạnh.
c) Tác dụng lên chuyển hoá đường (glucide):
-
Làm tăng nhẹ đường máu, thậm chí gây đái
tháo đường do nội tiết tố tuyến giáp làm
tăng hấp thu đường glucose từ ruột, tăng
thoái hoá và phân giải glycogen, tăng tạo
đường mới.
d) Tác dụng lên chuyển hoá mỡ (lipide):
-
Cường
giáp
làm
giảm
cholesterol,
triglyceride máu. Ngược lại suy giáp làm
tăng cholesterol máu.
đ) Tác dụng lên chuyển hoá đạm (proteine):
-
Cường giáp nặng làm tiêu proteine giải
phóng acid amine vào máu (gây gầy sút).
e) Tác dụng lên hệ thống tim-mạch:
-
Nội tiết tố tuyến giáp làm tăng nhịp tim,
tăng sức co bóp cơ tim, tăng lưu lượng tim,
tăng huyết áp tâm thu 10 - 15mmHg, ngoài
ra còn làm giãn mạch máu nên người cường
giáp có sắc da đỏ hồng. Ngược lại, người bị
suy giáp có các triệu chứng như da tái, nhịp
tim chậm.
13
g) Tác dụng lên hệ thống thần kinh cơ:
-
Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương:
Cường giáp gây trạng thái căng thẳng, dễ
cáu gắt, lo lắng quá mức. Suy giáp gây tình
trạng ngược lại là phản ứng chậm chạp. Đặc
biệt nếu suy giáp xảy ra sớm trong bào thai
hoặc sau khi sinh mà không được điều trị thì
gây tình trạng thiểu năng trí tuệ nặng nề.
-
Tác dụng lên chức năng cơ: Cường giáp gây
run cơ nhanh, nhẹ với tần số 10 - 15
lần/phút. Có thể quan sát hiện tượng này dễ
hơn khi đặt một tờ giấy lên những ngón tay
xoè rộng.
-
Tác dụng lên sự thức ngủ: Người bị cường
giáp luôn ở trong trạng thái hưng phấn nên
mặc dù rất mệt song khó ngủ. Ngược lại,
người suy giáp ngủ nhiều tới 12 - 14
giờ/ngày.
h) Tác dụng lên cơ quan sinh dục:
-
Nam giới thiếu nội tiết tố tuyến giáp có thể
mất dục tính hoàn toàn; thừa nhiều nội tiết
tố tuyến giáp gây bất lực.
-
Nữ giới thiếu nội tiết tố tuyến giáp thường
gây băng kinh, đa kinh, rối loạn rụng trứng,
vô sinh; khi thừa nội tiết tố tuyến giáp gây
rối loạn kinh nguyệt và giảm dục tính.
14
i) Tác dụng lên các tuyến nội tiết khác:
-
Tăng nội tiết tố tuyến giáp làm tăng mức
bài tiết hầu hết các nội tiết tố khác như
tăng insuline máu, tăng hoóc môn vỏ
thượng thận (ACTH), từ đó làm tăng
cortisol máu.
4. Điều hòa bài tiết nội tiết tố tuyến giáp
-
Do nồng độ TSH của tuyến yên: TSH của
tuyến yên kích thích tuyến giáp bài tiết T3/T4
do vậy nếu TSH tăng thì T3/T4 sẽ được bài
tiết nhiều và ngược lại nếu TSH giảm thì
T3/T4 sẽ được bài tiết ít.
- Khi bị lạnh hoặc bị stress, T3/T4 sẽ được bài
tiết nhiều.
- Cơ chế tự điều hòa:
+ Nồng độ i-ốt vô cơ cao trong tuyến giáp sẽ ức
chế bài tiết T3/T4.
+ Nồng độ i-ốt hữu cơ cao trong tuyến giáp dẫn
tới giảm thu nhận i-ốt và do đó làm giảm tổng hợp
T3/T4.
15
BƯỚU CỔ ĐƠN THUẦN
1. Định nghĩa
Bướu cổ đơn thuần là tình trạng phì đại lan toả
tuyến giáp không do viêm, không do ung thư và
chức năng tuyến giáp hoàn toàn bình thường.
2. Nguyên nhân
Do khoa học còn đang tiếp tục nghiên cứu về
nguyên nhân gây bệnh bướu cổ đơn thuần nên
người ta mới chỉ ra một số nguyên nhân sau:
- Do những bất thường nhỏ trong sinh tổng hợp
nội tiết tố tuyến giáp.
- Do tăng trương lực trục thần kinh-tuyến dưới
đồi-tuyến yên-tuyến giáp.
- Do có kháng thể kích thích tăng trưởng tế bào
tuyến giáp nhưng không chế tiết nội tiết tố (TGI).
- Do sản xuất quá mức những yếu tố tại chỗ điều
hòa tăng trưởng tế bào.
3. Triệu chứng
Bệnh hay gặp ở phụ nữ trẻ, tỷ lệ nữ/nam
khoảng 6/1. Bướu thường được phát hiện ngẫu
nhiên bởi bản thân hoặc người xung quanh hay khi
16
được khám sức khỏe tổng thể. Các triệu chứng cơ
năng không thường gặp như cảm giác nghẹn vùng
cổ, nuốt vướng, tinh thần lo lắng. Bướu nhìn thấy
hoặc sờ được khi khám. Bề mặt bướu nhẵn và đều,
mật độ bướu căng chắc hoặc mềm tuỳ theo thời
gian xuất hiện bướu. Bướu không đau và di động
khi nuốt.
Bảng 1: Phân loại tuyến giáp theo kích thước
Độ 1: Tuyến giáp chỉ sờ thấy nếu cổ ở vị trí bình
thường.
1a: Tuyến giáp không sờ thấy khi cổ quá ngửa ra sau.
1b: Tuyến giáp sờ thấy khi cổ quá ngửa ra sau.
Độ 2: Tuyến giáp nhìn thấy khi đầu ở vị trí bình
thường.
Độ 3: Tuyến giáp to với sự thay đổi vị trí của các tổ
chức xung quanh.
4. Xét nghiệm
- Định lượng nội tiết tố TSH nếu bình thường đủ
để xác định bình giáp.
- Tự kháng thể kháng tuyến giáp thường (-) hoặc
(+) với hiệu giá rất nhỏ.
- Ghi hình tuyến giáp bằng Technetium 99m chỉ
khi tuyến ở vị trí bất thường hoặc có vùng mật độ
bất thường (vùng giảm gắn).
- Siêu âm tuyến giáp khi thấy bướu có mật độ
không đều. Siêu âm còn giúp đo thể tích bướu.
17
5. Tiến triển
Bướu cổ đơn thuần có thể khỏi tự phát, nhất là
loại bướu xuất hiện ở tuổi dậy thì hoặc khi bị bệnh
nặng. Điều trị nội tiết tố tuyến giáp liều ức chế tạo
điều kiện cho bướu nhỏ đi. Song, bướu có thể tồn
tại nhiều năm liền, trong những năm đó bướu có
những đợt to thêm khi có thai, khi mãn kinh hoặc
do các rối loạn tâm sinh lý. Bướu cũng có thể tiến
triển thành bướu đa nhân (xem Bướu đa nhân
tuyến giáp) và biến chứng như:
- Chèn ép tại chỗ đối với: bướu độ 3:
+ Chèn ép vào khí quản: Gây tiếng rít, khó thở.
+ Chèn ép vào thực quản: Gây cảm giác vướng,
khó nuốt.
+ Chèn ép vào dây quặt ngược: Khó phát âm.
- Tự quản hoạt động chức năng tuyến giáp
(Autonomie Thyroidienne Fonctionnelle): Trong
trường hợp cung cấp nhiều i-ốt, có thể có nguy cơ
tiến triển thành cường giáp (ví dụ khi chụp cản
quang có i-ốt).
5. Điều trị
Phương thức điều trị phụ thuộc vào loại bướu
và giai đoạn tiến triển:
a) Điều trị nội khoa:
- Nếu bướu đồng nhất, mới xuất hiện và kích
thước không to: thử điều trị bằng nội tiết tố tuyến
18
giáp liều ức chế (50-125g/ngày L-Thyroxin) ví dụ
dùng Levothyrox 100 microgam. Việc điều trị càng
có hiệu quả nếu được tiến hành sớm, bướu có thể
khỏi hoặc ổn định. Liều điều trị cần được điều chỉnh
cho phù hợp trong trường hợp người bệnh có thai.
- Nếu bướu tồn tại đã lâu, việc điều trị ít khi
mang lại kết quả. Khi kê đơn cần thận trọng, nhất là
đối với người có tuổi.
b) Điều trị ngoại khoa (khi bướu cổ đơn thuần
có biến chứng):
Cắt tuyến giáp bán phần trong trường hợp bướu
giáp to có triệu chứng chèn ép và thất bại khi điều
trị nội khoa bảo tồn; có ổ tự quản chức năng; nghi
ngờ ác tính (nhân lạnh tuyến giáp). Sau phẫu thuật
điều trị dự phòng bằng L-Thyroxin.
- Biến chứng do phẫu thuật: tổn thương dây quặt
ngược gây nói khàn; hiếm gặp hơn là gây cơn tetany
(co cơ không chủ ý do bệnh lý hoặc trường hợp tăng
tần số điện thế hoạt động của các tế bào cơ hoặc các
dây thần kinh chi phối chúng) do tổn thương tuyến
cận giáp làm giảm calci máu.
c) Điều trị i-ốt phóng xạ (khi bướu cổ đơn thuần
có biến chứng):
- Trong trường hợp bướu tái phát, nhiều nhân tự
quản, chống chỉ định hoặc từ chối can thiệp ngoại
khoa, bướu giáp ở người quá già (chỉ được thực
19
hiện ở trung tâm y học phóng xạ có trang bị đặc
biệt; thời gian điều trị 1 - 2 tuần, tác dụng thường
thấy sau 6 tháng).
- Sau điều trị i-ốt phóng xạ: Điều trị bằng
L-Thyroxin khi có suy giáp.
- Biến chứng: Viêm tuyến giáp sau phóng xạ
(5 - 10%).
20
NHỮNG RỐI LOẠN DO THIẾU HỤT I-ỐT
I- TỔNG QUAN
Thiếu hụt i-ốt là nguyên nhân của bệnh bướu cổ
địa phương, suy giáp ở trẻ sơ sinh. Hơn nữa, việc
thiếu hụt i-ốt còn gây ra những rối loạn thể chất, trí
tuệ nặng nề cho cộng đồng mà không thể khắc phục
được như bệnh đần độn bẩm sinh, không phát triển
chiều cao.
Ước tính có chừng 29% dân số thế giới sống
trong khu vực thiếu hụt i-ốt. Điều tra không chính
thức trên 137 nước cho thấy: thiếu hụt i-ốt nặng gặp
ở 29 nước; thiếu hụt trung bình ở 54 nước; nhẹ ở 24
nước; không rõ ràng ở 17 nước và chỉ có 13 nước
không có thiếu hụt i-ốt. Thiếu hụt i-ốt rõ ràng ở 45
nước châu Phi; 16 nước châu Mỹ; 24 nước châu Âu
và Trung Á; 11 nước Nam Á; 10 nước Trung Đông; 8
nước Viễn đông.
Tỷ lệ người mắc bướu cổ tại các nước châu Âu
không có chương trình bổ sung i-ốt (Đức, Hy Lạp,
Italia, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ,
Rumani) từ 18-22%1.
___________
1. Geraldo Medeiros Neto: "Iodine Deficiency Disorders"
Endocrinology, Nxb. W.B. SAUNDERS company USA, xuất bản
lần thứ 4, 2001, tr.1529.
21
Tỷ lệ người mắc bướu cổ tại dãy Hymalaya,
Pakixtan tới 39,7%.
Trung Quốc có khoảng 30 triệu người mắc bướu
cổ và khoảng 200.000 người đần độn do thiếu hụt
i-ốt nặng gây ra1.
Thiếu hụt i-ốt theo vùng - theo Tổ chức Y tế thế giới
Thiếu hụt i-ốt (nồng độ i-ốt niệu<100mcg/l)
Theo vùng địa lý
Trẻ em độ tuổi đi học
Dân số chung
triệu (%)
triệu (%)
Châu Phi
58,5 (41,4)
316,7 (42)
Châu Mỹ
11,6 (10,6)
98,6 (11)
Trung Đông
43,3 (48,8)
259,3 (47,2)
Châu Âu
38,7 (52,4)
459,7 (52)
Đông Nam Á
73,1 (30,3)
503,5 (30)
Tây Thái Bình Dương
41,6 (22,7)
474,7 (21,2)
Chung toàn thế giới
266,8 (31,5)
2.012,6 (30,7)
Nguồn: Andersson, M.et al. Best Pract. Res. Clin.
Endocrinol. Metab. 24, 1-11 (2010).
Xét nghiệm i-ốt trong nước tiểu được coi là chỉ
số thích hợp nhất đánh giá có thiếu hụt i-ốt. Theo số
liệu của Tổ chức Y tế thế giới năm 2007, đánh giá
i-ốt niệu trẻ em trên 130 quốc gia, phát hiện rằng
vẫn còn tới 47 quốc gia có tình trạng thiếu i-ốt; 1/3
___________
1. Geraldo Medeiros Neto: “Iodine Deficiency Disorders”
Endocrinology, Sđd.
22
quốc gia không có chương trình nghiên cứu ước
lượng thiếu hụt i-ốt.
Mạng lưới i-ốt toàn cầu xếp Việt Nam nằm
trong số 19 nước còn lại trên thế giới có tình trạng
thiếu i-ốt nghiêm trọng. Khi cơ thể không nhận đủ
i-ốt, tuyến giáp không thể tổng hợp đủ lượng
hóc-môn tuyến giáp cần thiết1.
Ở Việt Nam, theo điều tra của Bệnh viện Nội tiết,
năm 1993, trên 3062 học sinh thì thấy 94% trường hợp
thiếu hụt i-ốt. Tỷ lệ bướu cổ ở trẻ em tại Hà Nội, Hải
Phòng, Hải Hưng, Thái Bình (điều tra năm 1995) vẫn
còn từ 10-20%2. Tỷ lệ người mắc bướu cổ chung trên
toàn quốc đến năm 2000 ước đoán còn trên 10% trẻ
em từ 8-12 tuổi. Tình trạng thiếu hụt iốt còn chiếm
tới 32,9%3. Theo kết quả điều tra của Bệnh viện Nội
tiết trung ương năm 2013, 2014 thì tỷ lệ bướu cổ trẻ
em từ 8-10 tuổi là 9,8%4.
Một vùng được coi là thiếu hụt i-ốt nhẹ nếu
định lượng i-ốt niệu 50-100 microgam/ngày; thiếu
hụt trung bình nếu lượng i-ốt niệu 25 - 49
___________
1. https://infonet.vn/lien-tiep-phau-thuat-nhung-ca-mac-utuyen-giap-khung-post286806.info.
2. Theo Nguyễn Quang Vinh: "Tình trạng thiếu i-ốt ở học sinh
PTCS và hiệu quả một số biện pháp can thiệp tại Vũ Thư - Thái Bình",
Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học 11/2001; tr. 180.
3. Chương trình quốc gia phòng chống các rối loạn thiếu iốt.
Tài liệu Tổng kết hoạt động năm 2000, Hà Nội, 3/2001.
4. https://hanoimoi.com.vn/tin-tuc/suc-khoe/921648/noluc-ngan-chan-tinh-trang-thieu-i-ot-tai-viet-nam.
23
microgam/ngày; thiếu hụt mức độ nặng nếu chỉ có
dưới 25 microgam/ngày.
Một vùng được coi là vùng mắc bướu cổ địa
phương khi tỷ lệ 5% trẻ em từ 6-12 tuổi có bướu cổ.
Tỷ lệ mắc bướu cổ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố
độ tuổi và giới tính. Tỷ lệ này tăng lên đều đặn từ
nhỏ cho đến tuổi dậy thì, sau tuổi dậy thì tỷ lệ bướu
cổ tăng cao hơn ở nữ giới. Tỷ lệ mắc bướu cổ cao
nhất ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản.
Bướu cổ chỉ là “phần nổi” của “tảng băng” bệnh
tật do thiếu i-ốt gây ra, mà “phần chìm” là những
rối loạn nguy hiểm do thiếu hụt i-ốt được liệt kê ở
bảng sau:
Bảng 2. Những rối loạn do thiếu hụt i-ốt gây ra
Đối tượng
Thai nhi
Hậu quả do thiếu hụt i-ốt
Sảy thai.
Thai chết lưu.
Dị tật bẩm sinh.
Tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và
chu sinh.
Đần độn thể thần kinh: Thiểu năng
trí tuệ, câm điếc, liệt cứng 2 bên chi.
Đần độn thể phù niêm: Lùn, thiểu
năng trí tuệ.
Trẻ sơ sinh
Mất điều hoà và sự tập trung chú ý.
Bướu cổ ở trẻ sơ sinh.
Suy giáp ở trẻ sơ sinh.
24
Trẻ em và Suy giáp ở thanh, thiếu niên có
trẻ vị thành bướu giáp.
niên
Chức năng trí tuệ giảm.
Chậm phát triển thể chất.
Người lớn
Bướu cổ và các biến chứng do
bướu cổ.
Suy giáp.
Chức năng trí tuệ giảm.
Theo Hetzel BS: Dunn JT, Stanbury JB; The
prevention and control of Iodine Deficiency
Disorder. Elsevier, pp.135-138, 1987.
1. Bệnh bướu cổ địa phương
a) Nguyên nhân
Nguyên nhân chủ yếu của bệnh bướu cổ địa
phương là do thiếu hụt i-ốt trong thực phẩm, trong
nước uống và trong không khí. Ở những vùng thiếu
hụt i-ốt thường xuất hiện bướu cổ địa phương và
khi được bổ sung i-ốt thì tỷ lệ người mắc bướu cổ sẽ
giảm xuống.
- Trong một số trường hợp đặc biệt, có vùng
thiếu hụt i-ốt nhưng không có bệnh bướu cổ địa
phương hoặc ngược lại có vùng không có thiếu
hụt i-ốt song vẫn có tỷ lệ người mắc bướu cổ cao.
- Bên cạnh nguyên nhân thiếu hụt i-ốt còn có
nguyên nhân từ các chất gây bướu cổ. Ví dụ: chất
thioglucoside có trong các cây họ cải như cải bắp,
súp-lơ, củ cải đã được chứng minh gây bệnh bướu
25
cổ ở các nước Bắc Âu, Trung Âu và Ôxtrâylia; chất
sinh ra cyanure có trong sắn: linamarine trong sắn
thuỷ phân tạo cyanure. Trong cơ thể người, cyanure
được giải độc tạo ra thiocyanate. Thiocyanate một
mặt ức chế bơm i-ốt của tế bào tuyến giáp, mặt khác
thiocyanate làm tăng thải i-ốt qua đường tiết niệu,
do đó gây ra bệnh bướu cổ địa phương ở những
nước châu Phi,...
- Ngoài sắn, cây họ cải, một số thực phẩm có
khả năng gây bướu cổ địa phương (nếu được sử
dụng nhiều) như: kê; đậu nành và sữa đậu nành. Lưu ý
tảo biển cũng là một thực phẩm có thể gây bướu cổ
(vì có quá nhiều i-ốt).
- Tình trạng suy dinh dưỡng thiếu vitamin A; ô
nhiễm nguồn nước; một số vi khuẩn (E.coli) cũng được
coi là những yếu tố có thể gây nên bệnh bướu cổ ở
vùng không thiếu hụt i-ốt hoặc chỉ thiếu hụt i-ốt nhẹ.
b) Triệu chứng
Các triệu chứng của bệnh bướu cổ địa phương
tương tự như của bệnh bướu cổ đơn thuần. Trẻ em
thường có biểu hiện bướu phì đại lan toả. Bướu
dần to lên, có nhân bên trong. Phụ nữ mắc bệnh
nhiều hơn nam giới. Khoảng 15% người mắc bệnh
biểu hiện bướu đa nhân rất to, tới 150g hoặc hơn
(bình thường bướu có trọng lượng khoảng 25g),
khi bướu to gây chèn ép khí quản (cảm giác nghẹt
thở, khó thở), nhưng nhiều khi bướu có trọng
26
lượng nhỏ hơn cũng có thể gây nên các triệu chứng
chèn ép. Khi bướu rất to có thể có biến chứng chảy
máu trong bướu với biểu hiện như đau, viêm vùng
cổ, kích thước bướu tăng nhanh.
- Khi được bổ sung i-ốt, dù với liều lượng rất
nhỏ, một số người biểu hiện triệu chứng cường giáp
do có nhân tự quản chức năng gây ra (Xem Cường
giáp trạng và Bướu đa nhân tuyến giáp).
- Một số dạng ung thư tuyến giáp (anaplastic
carcinoma, follicular carcinoma, sarcoma) được ghi
nhận gặp nhiều hơn và tiên lượng xấu hơn ở vùng
bướu cổ địa phương so với vùng không có bệnh
bướu cổ địa phương.
2. Bệnh đần độn địa phương
Bệnh đần độn địa phương vẫn còn phổ biến ở
các vùng sâu, vùng xa thuộc các nước Ấn Độ, Trung
Quốc,... Bệnh xuất hiện khi lượng cung cấp i-ốt hằng
ngày dưới 25microgam và ở khoảng 10% số người
sống trong điều kiện thiếu i-ốt nặng.
Bệnh đần độn địa phương có 2 thể:
- Đần độn thể thần kinh:
- Hội chứng thần kinh nổi trội: Giảm khả năng
nghe, nói có kèm theo hoặc không kèm theo rối loạn
thế đứng, dáng đi.
- Lùn.
- Thiểu năng trí tuệ.
27
- Suy giáp nặng có kèm theo bướu cổ hoặc
không có bướu cổ.
- Đần độn thể phù niêm:
- Có triệu chứng điển hình của suy giáp nặng
như: chậm chạp, sợ lạnh, mạch chậm, da và niêm
mạc thâm nhiễm... (xem Bệnh suy giáp).
3. Suy giáp ở trẻ sơ sinh trong vùng thiếu
i-ốt nặng
Suy giáp trẻ sơ sinh ở vùng thiếu i-ốt nặng có tỷ
lệ khoảng 4 - 10% trẻ (gấp 200-500 lần so với vùng
không thiếu i-ốt). Sau khi sinh, tình trạng suy giáp
có thể qua đi, nhưng các di chứng thần kinh vẫn tồn
tại mãi. Nếu tình trạng suy giáp còn tồn tại tới độ
tuổi 5 - 7 thì cần xem xét đến sự thiếu hụt i-ốt
trường diễn hoặc các yếu tố gây bướu cổ khác như
ăn nhiều sắn, kê, thiếu hụt selenium, v.v..
Để tránh suy giáp ở trẻ sơ sinh, bắt buộc phải
cung cấp đủ i-ốt trước khi người mẹ có thai, vì dầu i-ốt
đưa vào cơ thể mẹ trong 3 tháng đầu của thai kỳ cũng
không ngăn cản được sự xuất hiện của hội chứng đần
độn địa phương.
II. DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN DO
THIẾU I-ỐT
Phòng, chống bệnh bướu cổ và đần độn địa
phương bằng cách bổ sung i-ốt trong chế độ ăn
28
hằng ngày được áp dụng rộng rãi từ đầu thế kỷ XX
chủ yếu bằng muối i-ốt và dầu i-ốt.
1. Muối i-ốt
Lượng i-ốt trộn vào muối khác nhau tuỳ thuộc
mức độ thiếu hụt i-ốt từng vùng, tuỳ theo thói quen
ăn mặn, nhạt khác nhau nên. Tỷ lệ trộn 30 phần triệu
(30ppm) sẽ cung cấp lượng i-ốt tối thiểu khoảng
100microgam/ngày. Ở Việt Nam, hiện nay tỷ lệ trộn
là 50 phần triệu (50ppm) tức là có 500microgam trong
10g muối ăn, song i-ốt bị hao hụt tới 20 - 50% trong
quá trình vận chuyển, chế biến thức ăn nên lượng i-ốt
thực sự được đưa vào cơ thể chỉ vào khoảng 100200microgam/ngày (theo khuyến cáo của Tổ chức Y
tế thế giới, mỗi người cần khoảng 150 - 300microgam
i-ốt/ngày).
2. Dầu i-ốt
- Được dùng dưới dạng dầu i-ốt tiêm và dầu iốt uống. Lượng i-ốt trong 1ml dầu là 475 - 540mg
(475.000 - 540.000microgam).
Liều lượng: 0,5-1ml cho trẻ em.
0,5-2ml cho người lớn.
- Sau khi uống hoặc tiêm, dầu i-ốt sẽ được giải
phóng dần dần nhưng với tốc độ khác nhau: 6 tháng
đầu lượng i-ốt phóng thích ra lớn, hiệu lực phòng
ngừa thiếu hụt i-ốt trong khoảng 2-5 năm.
3. Các cách bổ sung i-ốt khác
I-ốt có thể được bổ sung dưới các hình thức như
29
cho vào giếng nước ở các làng hoặc cho vào bánh
mỳ (như ở Hà Lan).
Lưu ý: Tai biến do i-ốt (Tuyến giáp và thừa i-ốt)
Sau khi bổ sung i-ốt, nhất là với lượng lớn như
trong trường hợp dùng dầu i-ốt, một số người có
biểu hiện cường chức năng tuyến giáp (nóng bức, gầy
sút, nhịp tim nhanh, run tay...). Sở dĩ có hiện tượng
này vì hai lý do:
(1) Ở người thiếu i-ốt lâu ngày trong tuyến
giáp hình thành những vùng tự quản chức năng
nhằm tăng cường sản xuất nội tiết tố tuyến giáp
(khả năng thích nghi với tình trạng thiếu i-ốt). Nay
được cung cấp đủ i-ốt, các vùng tự quản chức năng
này có đủ nguyên liệu nên sản xuất dư thừa nội tiết
tố tuyến giáp dẫn đến tình trạng cường giáp. Hiện
tượng này thường gặp ở người trên 40 tuổi, bướu
giáp có nhiều nhân, mật độ không đều. Hiện tượng
cường giáp này thường tự qua đi sau 6 - 12 tháng
và không cần điều trị (trừ những trường hợp có
bệnh tim mạch và các biến chứng liên quan).
(2) Trong vùng thiếu i-ốt, tuyến giáp của những
người mắc bệnh Basedow do không đủ i-ốt nên
không tạo đủ lượng nội tiết tố tuyến giáp gây nên
triệu chứng cường giáp. Nếu được cung cấp đủ
lượng i-ốt cần thiết, người bệnh sẽ biểu hiện đầy đủ
triệu chứng bệnh và khi đó việc điều trị được tiến
hành như đối với bệnh Basedow thông thường khác.
30
BỆNH SUY GIÁP
1. Định nghĩa
Tuyến giáp nằm ở cổ trước khí quản (khi to lên
thường gọi là bệnh bướu cổ), là một tuyến tuy nhỏ
nhưng đóng vai trò sinh tồn đối với cơ thể.
Suy giáp là sự thiếu hụt nội tiết tố (hormon)
tuyến giáp cho các tế bào của cơ thể và thường do
sản xuất không đủ nội tiết tố. Tuyến giáp có thể to
hoặc không.
2. Phân loại, nguyên nhân, dịch tễ học
a) Phân loại, nguyên nhân
a1) Suy giáp tiên phát (do tuyến giáp):
- Căn nguyên miễn dịch: Ví dụ viêm tuyến giáp
Hashimoto.
- Sau phẫu thuật cắt tuyến giáp hoặc sau điều trị
bằng i-ốt phóng xạ (kể cả phóng xạ vùng cổ). Đây là
căn nguyên rất thường gặp ở Việt Nam do bệnh
nhân cho rằng sẽ khỏi hoàn toàn bệnh bướu cổ sau
khi mổ và điều trị phóng xạ.
- Do sử dụng thuốc: Thuốc kháng giáp trạng tổng
hợp điều trị bệnh Basedow (PTU, MTU, NeoMercazole,
Thyrozol, Novacarb, Lithium...); thuốc điều trị loạn
nhịp tim (Cordarone); thuốc chụp cản quang có i-ốt.
31
- Thiếu hụt i-ốt nặng, nhất là ở vùng miền núi.
- Suy giáp ở trẻ mới sinh: Bẩm sinh hoặc mắc
phải khi còn trong bụng mẹ.
a2) Suy giáp thứ phát (do tuyến yên): Suy thuỳ
trước tuyến yên (trường hợp này hiếm gặp).
a3) Suy giáp do vùng dưới đồi (rất hiếm gặp).
a4) Suy giáp dưới lâm sàng (Xem Tuổi già và bệnh
tuyến giáp).
b) Dịch tễ học
Tỷ lệ suy giáp khoảng 2% dân số, trong đó phụ
nữ chiếm ưu thế tuyệt đối và càng cao tuổi càng có
khả năng mắc suy giáp. Ở vùng thiếu i-ốt, tỷ lệ suy
giáp gia tăng hơn vùng đủ i-ốt.
Suy giáp là bệnh thường gặp và nguy hiểm
nhưng rất dễ bị bỏ qua vì các triệu chứng ban đầu
mơ hồ, không đặc hiệu. Để chẩn đoán được bệnh
cần làm xét nghiệm cho những đối tượng có nguy
cơ cao 2 hoặc 3 năm/lần. Chi phí chữa bệnh sẽ đỡ
tốn kém vì chẩn đoán điều trị sớm tránh các biến
chứng do các bệnh tim mạch và chuyển hoá gây ra.
3. Triệu chứng
Bệnh suy giáp có thể phát hiện dễ dàng trong
trường hợp bệnh diễn biến lâu ngày với các triệu
chứng điển hình. Song phần lớn bệnh nhân chỉ có các
triệu chứng mờ nhạt (mệt mỏi, táo bón...) nên thường
được phát hiện muộn hoặc phát hiện khi làm xét
nghiệm máu cho những người trong diện có nguy cơ
cao như người có tiền sử bệnh tuyến giáp, bệnh tuyến
yên, người thiếu máu, tăng cholesterol, hạ Na+ máu.
32
a) Các triệu chứng điển hình:
- Mệt mỏi, giảm khả năng gắng sức, có khi
tăng cân.
- Sợ lạnh, da khô và thô, da tái và lạnh; da vàng sáp
do ứ đọng caroten nhất là ở lòng bàn tay, bàn chân; dễ
rụng tóc, rụng lông mày, lông nách, lông mu thưa.
- Phù niêm toàn thể, da mỡ (trông láng bóng),
thâm nhiễm mi mắt (nặng mí mắt), thâm nhiễm lưỡi
(lưỡi to đầy), thâm nhiễm thanh quản (nói khàn,
khó thở), thâm nhiễm cơ gây giả phì đại cơ.
- Dễ táo bón.
- Nhịp tim chậm, tim to, tràn dịch màng tim, cá
biệt có thể tới 2-3 lít, nếu suy giáp nặng có thể có suy
tim nhất là khi có thiếu máu đi kèm. Xơ vữa mạch
vành do rối loạn chuyển hoá mỡ trong suy giáp trạng
có thể dẫn đến suy vành, song thường không có triệu
chứng cho đến khi xuất hiện nhồi máu cơ tim.
- Dị cảm ở tay, chân tăng lên vào ban đêm. Yếu
cơ, chuột rút, cảm giác co cứng cơ bắp, nhất là cơ
vùng thắt lưng. Khối cơ có thể teo hoặc ngược lại là
phì đại. Dáng đi có thể loạng choạng, khó vận động.
- Khả năng suy nghĩ và vận động chậm chạp,
nói chậm, trí nhớ giảm.
- Rối loạn kinh nguyệt: Ít kinh, mất kinh, rong
kinh, mất khoái cảm tình dục, vô sinh. Đối với nam
giới thường gặp liệt dương và biến đổi sinh tinh.
- Tràn dịch đa màng: Màng tim, màng phổi,
màng bụng, màng khớp. Xét nghiệm dịch chọc dò
có nhiều cholesterol và mucopolysaccharide.
b) Ở người có tuổi, các triệu chứng mờ nhạt hơn
33
nên dễ được cho là do tuổi tác: biểu hiện thường
gặp là mệt mỏi, táo bón, sợ lạnh, sa sút trí tuệ, v.v..
c) Trường hợp suy giáp rất nặng có thể gặp hôn
mê suy giáp:
- Hôn mê diễn biến từ từ không có dấu hiệu thần
kinh khu trú, nhưng cũng có thể xuất hiện cơn động
kinh. Có bệnh nhân chỉ biểu hiện tình trạng ngủ gà.
- Hạ thân nhiệt nặng (< 35oC) có thể xuống tới
24oC, trong trường hợp nhiễm khuẩn, bệnh nhân có
thể không sốt và không rét run.
- Hạ đường huyết.
- Giảm hô hấp gây tăng khí CO2 trong máu. Thở
chậm, có khi có cơn ngừng thở hoặc thở nhanh do
nhiễm khuẩn phổi.
- Nhịp tim chậm, thường tăng huyết áp, hạ
huyết áp cũng có thể xảy ra.
- Điện tim: Nhịp xoang chậm, điện thế thấp, kéo
dài khoảng QT, cũng có thể gặp dấu hiệu thiếu máu
cơ tim, nhồi máu cơ tim.
- X - quang: Hình tim to, tràn dịch màng tim,
tràn dịch màng phổi.
4. Xét nghiệm và chẩn đoán
- Nội tiết tố tuyến giáp (FT4, FT3 giảm). Nội tiết
tố tuyến yên (TSH) kích thích tuyến giáp tăng. Nếu
TSH bình thường có thể loại trừ suy giáp tiên phát.
- Thiếu máu gặp 25 - 50% trường hợp. Hồng cầu
có thể to, nhỏ hoặc bình thường.
- Tăng cholesterol đơn thuần hoặc kèm tăng
triglyceride máu.
34
Sơ đồ chẩn đoán suy giáp
Nghi ngờ suy giáp
Loại trừ suy giáp.
(Lưu ý suy giáp
Thấp/hoặc bình thường
thứ phát)
TSH cơ sở
tăng
Suy giáp tiên phát
(do tuyến giáp)
Giảm
Tiền sử điều trị
phóng xạ hoặc
phẫu thuật. Điều trị
thuốc kháng giáp
FT4
Bình thường
Suy giáp dưới
lâm sàng
Suy giáp do
thầy thuốc
Có
Không
Mới có thai gần đây
Suy giáp sau sinh
Có
Không
Kháng thể kháng giáp ?
Viêm tuyến giáp
tự miễn không có
kháng thể
Bình
Tăng cao
Siêu âm tuyến giáp: bướu giáp?
Có
Viêm giáp Hashimoto
Không
Viêm giáp teo
35
5. Điều trị
Tuỳ theo nguyên nhân gây ra suy giáp mà có
chế độ điều trị thích hợp. Nếu suy giáp tạm thời do
dùng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp quá liều thì
cần giảm thuốc; nếu suy giáp do thiếu hụt i-ốt cần
bổ sung thêm i-ốt; nếu suy giáp do suy thuỳ trước
tuyến yên cần bổ sung thêm các nội tiết tố khác do
suy nhiều tuyến cùng lúc; nếu suy tuyến giáp vĩnh
viễ...
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
LÊ MẠNH HÙNG
Phó Chủ tịch Hội đồng
Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
VŨ TRỌNG LÂM
NGUYỄN ĐỨC TÀI
TRẦN THANH LÂM
NGUYỄN HOÀI ANH
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Bướu cổ, hay chính xác hơn là bướu giáp, là tên
gọi chung cho nhiều bệnh tuyến giáp khác nhau:
bướu cổ đơn thuần, bướu cổ địa phương, Basedow,
bướu nhân tuyến giáp, ung thư tuyến giáp, v.v..
Ở nước ta hiện nay, các căn bệnh tuyến giáp
chiếm tỷ lệ cao với hàng triệu người mắc bệnh ở cả
khu vực đồng bằng, thành thị lẫn khu vực nông
thôn và miền núi. Tuy nhiên, việc chẩn đoán và điều
trị các căn bệnh tuyến giáp lại gặp nhiều khó khăn,
thêm nữa, thực tế vẫn tồn tại những cách chữa bệnh
thiếu khoa học trong nhân dân khiến người bệnh
phải chịu thêm những di chứng nặng nề.
Với phương châm ngắn gọn, dễ hiểu và thực tế,
cuốn sách Bệnh bướu cổ do Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn
Huy Cường biên soạn, cung cấp những thông tin
về căn bệnh thuộc loại phổ biến hiện nay - bệnh bướu
giáp, qua đó giúp người dân có thể tự nhận biết một
số bệnh tuyến giáp, sớm đến gặp Bác sĩ chuyên khoa
để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Dù đã có nhiều cố gắng song nội dung cuốn
sách khó tránh khỏi hạn chế, Nhà xuất bản và tác
5
giả mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc
để lần xuất bản sau cuốn sách được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Hà Nội, tháng 6 năm 2019
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
MỘT SỐ KHÁI NIỆM
VỀ BỆNH BƯỚU CỔ
Bướu cổ (bướu giáp) được dùng để chỉ tình
trạng tuyến giáp to lên có thể nhìn thấy hoặc sờ thấy
được.
Bướu cổ địa phương là do thiếu hụt i-ốt trong
thức ăn và nước uống. Việt Nam được coi là nước có
tình trạng thiếu hụt i-ốt và theo kết quả điều tra của
Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2013-2014 tỷ lệ
trẻ em 8-10 tuổi mắc bướu cổ khá cao xấp xỉ 10%.
Cường giáp (hyperthyroidism): là tình trạng
quá thừa nội tiết tố tuyến giáp (do tuyến giáp tăng
sản xuất/phóng thích nội tiết tố tuyến giáp vào máu)
gây nên các triệu chứng cường giáp như run tay, tim
đập nhanh, cảm giác nóng bức và gày sút.
Nhiễm độc giáp (thyrotoxicosis) là tình trạng
quá thừa nội tiết tố tuyến giáp do nhiều nguyên
nhân trong đó bao gồm cả chứng cường giáp. Các
nguyên nhân đó có thể do tuyến giáp sản xuất dư
thừa hoặc do quá trình viêm tuyến giáp gây phóng
thích nhiều nội tiết tố tuyến giáp vào máu hoặc do
uống quá liều nội tiết tố tuyến giáp, như trước đó đã
bổ sung nội tiết tố để giảm cân.
Nội tiết tố là những chất sinh ra từ một cơ quan
7
(tuyến nội tiết) và được máu vận chuyển đến một cơ
quan khác (hay mô đích) mà ở đó chúng gây tác
dụng kích thích hoặc ức chế hoạt động của cơ quan
(hay mô) này. Nội tiết tố tuyến giáp có ảnh hưởng
đến toàn bộ cơ thể.
Basedow là tên gọi một loại bệnh cường chức
năng tuyến giáp, nguyên nhân là do các chất tự
miễn dịch trong cơ thể kích thích tế bào tuyến giáp
sản xuất nhiều nội tiết tố tuyến giáp. Đây là bệnh
cường giáp hay gặp nhất và thường ở phụ nữ.
Trong các tài liệu nước ngoài thường gọi bệnh này
là bệnh Graves hay bệnh Parry.
8
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LATS (Long Acting Thyroid Stimulator): Những
kháng thể kích thích hoạt động tế bào tuyến giáp.
TGI (Thyroid Growth Immunoglobulin): Những
globulin miễn dịch kích thích tăng trưởng tế bào
tuyến giáp.
TSH (Thyroid Stimulating Hormon): Nội tiết tố
tuyến yên có vai trò kích thích tăng trưởng và hoạt
động tế bào tuyến giáp.
TBG (Thyroide Binding Globuline): Globulin
gắn kết với nội tiết tố tuyến giáp.
TSHR (Thyroid Stimulating Hormon Receptor):
Thụ thể, nơi gắn kết nội tiết tố tuyến yên kích thích
tuyến giáp hoạt động (TSH).
TSAbs (Thyroid Stimulating Antibodies): Kháng
thể kích thích hoạt động tế bào tuyến giáp.
TRAbs (TSHR Antibodies): Kháng thể kháng
thụ thể TSH.
9
TBAbs (Antibodies with blocking activity on the
TSHR): Kháng thể ức chế hoạt động thụ thể TSH,
thường gây viêm giáp teo, song có thể gặp trong
bệnh Basedow.
PTU (Propyl Thio Uracil): Tên một loại thuốc
kháng giáp trạng tổng hợp.
TPO-Ab (Thyroperoxidase Autoantibodies): Tự
kháng thể kháng lại peroxidase của tuyến giáp.
10
ĐẠI CƯƠNG VỀ TUYẾN GIÁP
1. Giải phẫu
Tuyến giáp nằm ở phía trước cổ, bình thường
cân nặng chừng 20-25g. Tuyến giáp có 2 thùy đối
xứng, nối với nhau bởi eo tuyến vắt ngang qua sụn
khí quản. Tuyến giáp thường ở vị trí rất nông, dễ
dàng khám được bằng sờ nắn khi tuyến to lên
(bướu giáp: quen gọi là bướu cổ). Một số trường
hợp tuyến chìm sâu vào trung thất trong lồng ngực
hoặc ở các vị trí khác cần phải làm xạ hình tuyến
mới quan sát được.
2. Sinh lý
Tuyến giáp được nuôi dưỡng bởi nhiều mạch
máu, trong tuyến có 2 loại tế bào: tế bào C tiết
calcitonine (nội tiết tố làm giảm lượng calci máu) và
rất nhiều tế bào tuyến giáp liền nhau tạo thành
những nang đường kính khoảng 100 - 300 micromet.
Những tế bào này bắt giữ i-ốt ở máu và tổng hợp
tiền nội tiết tố tích trữ trong các nang. Khi có kích
thích bởi TSH (nội tiết tố tuyến yên), các nang giải
phóng một phần nội tiết tố tuyến giáp đã được tích
trữ dưới dạng Tri-iodothyronine (còn gọi là T3,
11
chiếm khoảng 20%), và Thyroxine (còn gọi là T4,
chiếm khoảng 80%).
3. Tác dụng của nội tiết tố tuyến giáp
a) Tác dụng lên sự phát triển cơ thể:
-
Thúc đẩy sự trưởng thành và phát triển não
trong thời kỳ bào thai và cả những năm đầu
sau khi sinh. Nếu không đủ lượng nội tiết tố
tuyến giáp trong giai đoạn này, sự phát triển
và trưởng thành của não sẽ chậm lại. Nếu
không được điều trị kịp thời từ trong bụng
mẹ và ngay sau khi sinh, trí tuệ trẻ sẽ không
phát triển (đần bẩm sinh).
- Làm tăng tốc độ phát triển: Ở trẻ có quá thừa
nội tiết tố tuyến giáp, sự phát triển của
xương nhanh hơn nên trẻ cao sớm hơn so với
tuổi, song, sự cốt hoá cũng sớm hơn nên trẻ
đạt tới chiều cao của người trưởng thành
sớm hơn (không phải trường hợp chiều cao
của người khổng lồ như khi bị cường nội tiết
tố tăng trưởng). Trường hợp thiếu nội tiết tố
tuyến giáp không được phát hiện sớm và
điều trị, trẻ sẽ bị lùn.
b) Tác dụng lên chuyển hoá tế bào:
-
12
Nội tiết tố tuyến giáp làm tăng hoạt động
chuyển hoá của hầu hết các mô trong cơ thể,
tăng tốc độ các phản ứng hoá học, tăng tiêu
thụ và chuyển hoá thức ăn để cung cấp năng
lượng, nhưng không được tích trữ lại mà thải
ra dưới dạng nhiệt nên khi thừa nội tiết tố
tuyến giáp (cường giáp) gây cảm giác nóng
bức, người bệnh ăn nhiều nhưng vẫn gầy sút.
Ngược lại, khi thiếu nội tiết tố tuyến giáp
(suy giáp), bệnh nhân luôn cảm thấy lạnh.
c) Tác dụng lên chuyển hoá đường (glucide):
-
Làm tăng nhẹ đường máu, thậm chí gây đái
tháo đường do nội tiết tố tuyến giáp làm
tăng hấp thu đường glucose từ ruột, tăng
thoái hoá và phân giải glycogen, tăng tạo
đường mới.
d) Tác dụng lên chuyển hoá mỡ (lipide):
-
Cường
giáp
làm
giảm
cholesterol,
triglyceride máu. Ngược lại suy giáp làm
tăng cholesterol máu.
đ) Tác dụng lên chuyển hoá đạm (proteine):
-
Cường giáp nặng làm tiêu proteine giải
phóng acid amine vào máu (gây gầy sút).
e) Tác dụng lên hệ thống tim-mạch:
-
Nội tiết tố tuyến giáp làm tăng nhịp tim,
tăng sức co bóp cơ tim, tăng lưu lượng tim,
tăng huyết áp tâm thu 10 - 15mmHg, ngoài
ra còn làm giãn mạch máu nên người cường
giáp có sắc da đỏ hồng. Ngược lại, người bị
suy giáp có các triệu chứng như da tái, nhịp
tim chậm.
13
g) Tác dụng lên hệ thống thần kinh cơ:
-
Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương:
Cường giáp gây trạng thái căng thẳng, dễ
cáu gắt, lo lắng quá mức. Suy giáp gây tình
trạng ngược lại là phản ứng chậm chạp. Đặc
biệt nếu suy giáp xảy ra sớm trong bào thai
hoặc sau khi sinh mà không được điều trị thì
gây tình trạng thiểu năng trí tuệ nặng nề.
-
Tác dụng lên chức năng cơ: Cường giáp gây
run cơ nhanh, nhẹ với tần số 10 - 15
lần/phút. Có thể quan sát hiện tượng này dễ
hơn khi đặt một tờ giấy lên những ngón tay
xoè rộng.
-
Tác dụng lên sự thức ngủ: Người bị cường
giáp luôn ở trong trạng thái hưng phấn nên
mặc dù rất mệt song khó ngủ. Ngược lại,
người suy giáp ngủ nhiều tới 12 - 14
giờ/ngày.
h) Tác dụng lên cơ quan sinh dục:
-
Nam giới thiếu nội tiết tố tuyến giáp có thể
mất dục tính hoàn toàn; thừa nhiều nội tiết
tố tuyến giáp gây bất lực.
-
Nữ giới thiếu nội tiết tố tuyến giáp thường
gây băng kinh, đa kinh, rối loạn rụng trứng,
vô sinh; khi thừa nội tiết tố tuyến giáp gây
rối loạn kinh nguyệt và giảm dục tính.
14
i) Tác dụng lên các tuyến nội tiết khác:
-
Tăng nội tiết tố tuyến giáp làm tăng mức
bài tiết hầu hết các nội tiết tố khác như
tăng insuline máu, tăng hoóc môn vỏ
thượng thận (ACTH), từ đó làm tăng
cortisol máu.
4. Điều hòa bài tiết nội tiết tố tuyến giáp
-
Do nồng độ TSH của tuyến yên: TSH của
tuyến yên kích thích tuyến giáp bài tiết T3/T4
do vậy nếu TSH tăng thì T3/T4 sẽ được bài
tiết nhiều và ngược lại nếu TSH giảm thì
T3/T4 sẽ được bài tiết ít.
- Khi bị lạnh hoặc bị stress, T3/T4 sẽ được bài
tiết nhiều.
- Cơ chế tự điều hòa:
+ Nồng độ i-ốt vô cơ cao trong tuyến giáp sẽ ức
chế bài tiết T3/T4.
+ Nồng độ i-ốt hữu cơ cao trong tuyến giáp dẫn
tới giảm thu nhận i-ốt và do đó làm giảm tổng hợp
T3/T4.
15
BƯỚU CỔ ĐƠN THUẦN
1. Định nghĩa
Bướu cổ đơn thuần là tình trạng phì đại lan toả
tuyến giáp không do viêm, không do ung thư và
chức năng tuyến giáp hoàn toàn bình thường.
2. Nguyên nhân
Do khoa học còn đang tiếp tục nghiên cứu về
nguyên nhân gây bệnh bướu cổ đơn thuần nên
người ta mới chỉ ra một số nguyên nhân sau:
- Do những bất thường nhỏ trong sinh tổng hợp
nội tiết tố tuyến giáp.
- Do tăng trương lực trục thần kinh-tuyến dưới
đồi-tuyến yên-tuyến giáp.
- Do có kháng thể kích thích tăng trưởng tế bào
tuyến giáp nhưng không chế tiết nội tiết tố (TGI).
- Do sản xuất quá mức những yếu tố tại chỗ điều
hòa tăng trưởng tế bào.
3. Triệu chứng
Bệnh hay gặp ở phụ nữ trẻ, tỷ lệ nữ/nam
khoảng 6/1. Bướu thường được phát hiện ngẫu
nhiên bởi bản thân hoặc người xung quanh hay khi
16
được khám sức khỏe tổng thể. Các triệu chứng cơ
năng không thường gặp như cảm giác nghẹn vùng
cổ, nuốt vướng, tinh thần lo lắng. Bướu nhìn thấy
hoặc sờ được khi khám. Bề mặt bướu nhẵn và đều,
mật độ bướu căng chắc hoặc mềm tuỳ theo thời
gian xuất hiện bướu. Bướu không đau và di động
khi nuốt.
Bảng 1: Phân loại tuyến giáp theo kích thước
Độ 1: Tuyến giáp chỉ sờ thấy nếu cổ ở vị trí bình
thường.
1a: Tuyến giáp không sờ thấy khi cổ quá ngửa ra sau.
1b: Tuyến giáp sờ thấy khi cổ quá ngửa ra sau.
Độ 2: Tuyến giáp nhìn thấy khi đầu ở vị trí bình
thường.
Độ 3: Tuyến giáp to với sự thay đổi vị trí của các tổ
chức xung quanh.
4. Xét nghiệm
- Định lượng nội tiết tố TSH nếu bình thường đủ
để xác định bình giáp.
- Tự kháng thể kháng tuyến giáp thường (-) hoặc
(+) với hiệu giá rất nhỏ.
- Ghi hình tuyến giáp bằng Technetium 99m chỉ
khi tuyến ở vị trí bất thường hoặc có vùng mật độ
bất thường (vùng giảm gắn).
- Siêu âm tuyến giáp khi thấy bướu có mật độ
không đều. Siêu âm còn giúp đo thể tích bướu.
17
5. Tiến triển
Bướu cổ đơn thuần có thể khỏi tự phát, nhất là
loại bướu xuất hiện ở tuổi dậy thì hoặc khi bị bệnh
nặng. Điều trị nội tiết tố tuyến giáp liều ức chế tạo
điều kiện cho bướu nhỏ đi. Song, bướu có thể tồn
tại nhiều năm liền, trong những năm đó bướu có
những đợt to thêm khi có thai, khi mãn kinh hoặc
do các rối loạn tâm sinh lý. Bướu cũng có thể tiến
triển thành bướu đa nhân (xem Bướu đa nhân
tuyến giáp) và biến chứng như:
- Chèn ép tại chỗ đối với: bướu độ 3:
+ Chèn ép vào khí quản: Gây tiếng rít, khó thở.
+ Chèn ép vào thực quản: Gây cảm giác vướng,
khó nuốt.
+ Chèn ép vào dây quặt ngược: Khó phát âm.
- Tự quản hoạt động chức năng tuyến giáp
(Autonomie Thyroidienne Fonctionnelle): Trong
trường hợp cung cấp nhiều i-ốt, có thể có nguy cơ
tiến triển thành cường giáp (ví dụ khi chụp cản
quang có i-ốt).
5. Điều trị
Phương thức điều trị phụ thuộc vào loại bướu
và giai đoạn tiến triển:
a) Điều trị nội khoa:
- Nếu bướu đồng nhất, mới xuất hiện và kích
thước không to: thử điều trị bằng nội tiết tố tuyến
18
giáp liều ức chế (50-125g/ngày L-Thyroxin) ví dụ
dùng Levothyrox 100 microgam. Việc điều trị càng
có hiệu quả nếu được tiến hành sớm, bướu có thể
khỏi hoặc ổn định. Liều điều trị cần được điều chỉnh
cho phù hợp trong trường hợp người bệnh có thai.
- Nếu bướu tồn tại đã lâu, việc điều trị ít khi
mang lại kết quả. Khi kê đơn cần thận trọng, nhất là
đối với người có tuổi.
b) Điều trị ngoại khoa (khi bướu cổ đơn thuần
có biến chứng):
Cắt tuyến giáp bán phần trong trường hợp bướu
giáp to có triệu chứng chèn ép và thất bại khi điều
trị nội khoa bảo tồn; có ổ tự quản chức năng; nghi
ngờ ác tính (nhân lạnh tuyến giáp). Sau phẫu thuật
điều trị dự phòng bằng L-Thyroxin.
- Biến chứng do phẫu thuật: tổn thương dây quặt
ngược gây nói khàn; hiếm gặp hơn là gây cơn tetany
(co cơ không chủ ý do bệnh lý hoặc trường hợp tăng
tần số điện thế hoạt động của các tế bào cơ hoặc các
dây thần kinh chi phối chúng) do tổn thương tuyến
cận giáp làm giảm calci máu.
c) Điều trị i-ốt phóng xạ (khi bướu cổ đơn thuần
có biến chứng):
- Trong trường hợp bướu tái phát, nhiều nhân tự
quản, chống chỉ định hoặc từ chối can thiệp ngoại
khoa, bướu giáp ở người quá già (chỉ được thực
19
hiện ở trung tâm y học phóng xạ có trang bị đặc
biệt; thời gian điều trị 1 - 2 tuần, tác dụng thường
thấy sau 6 tháng).
- Sau điều trị i-ốt phóng xạ: Điều trị bằng
L-Thyroxin khi có suy giáp.
- Biến chứng: Viêm tuyến giáp sau phóng xạ
(5 - 10%).
20
NHỮNG RỐI LOẠN DO THIẾU HỤT I-ỐT
I- TỔNG QUAN
Thiếu hụt i-ốt là nguyên nhân của bệnh bướu cổ
địa phương, suy giáp ở trẻ sơ sinh. Hơn nữa, việc
thiếu hụt i-ốt còn gây ra những rối loạn thể chất, trí
tuệ nặng nề cho cộng đồng mà không thể khắc phục
được như bệnh đần độn bẩm sinh, không phát triển
chiều cao.
Ước tính có chừng 29% dân số thế giới sống
trong khu vực thiếu hụt i-ốt. Điều tra không chính
thức trên 137 nước cho thấy: thiếu hụt i-ốt nặng gặp
ở 29 nước; thiếu hụt trung bình ở 54 nước; nhẹ ở 24
nước; không rõ ràng ở 17 nước và chỉ có 13 nước
không có thiếu hụt i-ốt. Thiếu hụt i-ốt rõ ràng ở 45
nước châu Phi; 16 nước châu Mỹ; 24 nước châu Âu
và Trung Á; 11 nước Nam Á; 10 nước Trung Đông; 8
nước Viễn đông.
Tỷ lệ người mắc bướu cổ tại các nước châu Âu
không có chương trình bổ sung i-ốt (Đức, Hy Lạp,
Italia, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ,
Rumani) từ 18-22%1.
___________
1. Geraldo Medeiros Neto: "Iodine Deficiency Disorders"
Endocrinology, Nxb. W.B. SAUNDERS company USA, xuất bản
lần thứ 4, 2001, tr.1529.
21
Tỷ lệ người mắc bướu cổ tại dãy Hymalaya,
Pakixtan tới 39,7%.
Trung Quốc có khoảng 30 triệu người mắc bướu
cổ và khoảng 200.000 người đần độn do thiếu hụt
i-ốt nặng gây ra1.
Thiếu hụt i-ốt theo vùng - theo Tổ chức Y tế thế giới
Thiếu hụt i-ốt (nồng độ i-ốt niệu<100mcg/l)
Theo vùng địa lý
Trẻ em độ tuổi đi học
Dân số chung
triệu (%)
triệu (%)
Châu Phi
58,5 (41,4)
316,7 (42)
Châu Mỹ
11,6 (10,6)
98,6 (11)
Trung Đông
43,3 (48,8)
259,3 (47,2)
Châu Âu
38,7 (52,4)
459,7 (52)
Đông Nam Á
73,1 (30,3)
503,5 (30)
Tây Thái Bình Dương
41,6 (22,7)
474,7 (21,2)
Chung toàn thế giới
266,8 (31,5)
2.012,6 (30,7)
Nguồn: Andersson, M.et al. Best Pract. Res. Clin.
Endocrinol. Metab. 24, 1-11 (2010).
Xét nghiệm i-ốt trong nước tiểu được coi là chỉ
số thích hợp nhất đánh giá có thiếu hụt i-ốt. Theo số
liệu của Tổ chức Y tế thế giới năm 2007, đánh giá
i-ốt niệu trẻ em trên 130 quốc gia, phát hiện rằng
vẫn còn tới 47 quốc gia có tình trạng thiếu i-ốt; 1/3
___________
1. Geraldo Medeiros Neto: “Iodine Deficiency Disorders”
Endocrinology, Sđd.
22
quốc gia không có chương trình nghiên cứu ước
lượng thiếu hụt i-ốt.
Mạng lưới i-ốt toàn cầu xếp Việt Nam nằm
trong số 19 nước còn lại trên thế giới có tình trạng
thiếu i-ốt nghiêm trọng. Khi cơ thể không nhận đủ
i-ốt, tuyến giáp không thể tổng hợp đủ lượng
hóc-môn tuyến giáp cần thiết1.
Ở Việt Nam, theo điều tra của Bệnh viện Nội tiết,
năm 1993, trên 3062 học sinh thì thấy 94% trường hợp
thiếu hụt i-ốt. Tỷ lệ bướu cổ ở trẻ em tại Hà Nội, Hải
Phòng, Hải Hưng, Thái Bình (điều tra năm 1995) vẫn
còn từ 10-20%2. Tỷ lệ người mắc bướu cổ chung trên
toàn quốc đến năm 2000 ước đoán còn trên 10% trẻ
em từ 8-12 tuổi. Tình trạng thiếu hụt iốt còn chiếm
tới 32,9%3. Theo kết quả điều tra của Bệnh viện Nội
tiết trung ương năm 2013, 2014 thì tỷ lệ bướu cổ trẻ
em từ 8-10 tuổi là 9,8%4.
Một vùng được coi là thiếu hụt i-ốt nhẹ nếu
định lượng i-ốt niệu 50-100 microgam/ngày; thiếu
hụt trung bình nếu lượng i-ốt niệu 25 - 49
___________
1. https://infonet.vn/lien-tiep-phau-thuat-nhung-ca-mac-utuyen-giap-khung-post286806.info.
2. Theo Nguyễn Quang Vinh: "Tình trạng thiếu i-ốt ở học sinh
PTCS và hiệu quả một số biện pháp can thiệp tại Vũ Thư - Thái Bình",
Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học 11/2001; tr. 180.
3. Chương trình quốc gia phòng chống các rối loạn thiếu iốt.
Tài liệu Tổng kết hoạt động năm 2000, Hà Nội, 3/2001.
4. https://hanoimoi.com.vn/tin-tuc/suc-khoe/921648/noluc-ngan-chan-tinh-trang-thieu-i-ot-tai-viet-nam.
23
microgam/ngày; thiếu hụt mức độ nặng nếu chỉ có
dưới 25 microgam/ngày.
Một vùng được coi là vùng mắc bướu cổ địa
phương khi tỷ lệ 5% trẻ em từ 6-12 tuổi có bướu cổ.
Tỷ lệ mắc bướu cổ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố
độ tuổi và giới tính. Tỷ lệ này tăng lên đều đặn từ
nhỏ cho đến tuổi dậy thì, sau tuổi dậy thì tỷ lệ bướu
cổ tăng cao hơn ở nữ giới. Tỷ lệ mắc bướu cổ cao
nhất ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản.
Bướu cổ chỉ là “phần nổi” của “tảng băng” bệnh
tật do thiếu i-ốt gây ra, mà “phần chìm” là những
rối loạn nguy hiểm do thiếu hụt i-ốt được liệt kê ở
bảng sau:
Bảng 2. Những rối loạn do thiếu hụt i-ốt gây ra
Đối tượng
Thai nhi
Hậu quả do thiếu hụt i-ốt
Sảy thai.
Thai chết lưu.
Dị tật bẩm sinh.
Tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và
chu sinh.
Đần độn thể thần kinh: Thiểu năng
trí tuệ, câm điếc, liệt cứng 2 bên chi.
Đần độn thể phù niêm: Lùn, thiểu
năng trí tuệ.
Trẻ sơ sinh
Mất điều hoà và sự tập trung chú ý.
Bướu cổ ở trẻ sơ sinh.
Suy giáp ở trẻ sơ sinh.
24
Trẻ em và Suy giáp ở thanh, thiếu niên có
trẻ vị thành bướu giáp.
niên
Chức năng trí tuệ giảm.
Chậm phát triển thể chất.
Người lớn
Bướu cổ và các biến chứng do
bướu cổ.
Suy giáp.
Chức năng trí tuệ giảm.
Theo Hetzel BS: Dunn JT, Stanbury JB; The
prevention and control of Iodine Deficiency
Disorder. Elsevier, pp.135-138, 1987.
1. Bệnh bướu cổ địa phương
a) Nguyên nhân
Nguyên nhân chủ yếu của bệnh bướu cổ địa
phương là do thiếu hụt i-ốt trong thực phẩm, trong
nước uống và trong không khí. Ở những vùng thiếu
hụt i-ốt thường xuất hiện bướu cổ địa phương và
khi được bổ sung i-ốt thì tỷ lệ người mắc bướu cổ sẽ
giảm xuống.
- Trong một số trường hợp đặc biệt, có vùng
thiếu hụt i-ốt nhưng không có bệnh bướu cổ địa
phương hoặc ngược lại có vùng không có thiếu
hụt i-ốt song vẫn có tỷ lệ người mắc bướu cổ cao.
- Bên cạnh nguyên nhân thiếu hụt i-ốt còn có
nguyên nhân từ các chất gây bướu cổ. Ví dụ: chất
thioglucoside có trong các cây họ cải như cải bắp,
súp-lơ, củ cải đã được chứng minh gây bệnh bướu
25
cổ ở các nước Bắc Âu, Trung Âu và Ôxtrâylia; chất
sinh ra cyanure có trong sắn: linamarine trong sắn
thuỷ phân tạo cyanure. Trong cơ thể người, cyanure
được giải độc tạo ra thiocyanate. Thiocyanate một
mặt ức chế bơm i-ốt của tế bào tuyến giáp, mặt khác
thiocyanate làm tăng thải i-ốt qua đường tiết niệu,
do đó gây ra bệnh bướu cổ địa phương ở những
nước châu Phi,...
- Ngoài sắn, cây họ cải, một số thực phẩm có
khả năng gây bướu cổ địa phương (nếu được sử
dụng nhiều) như: kê; đậu nành và sữa đậu nành. Lưu ý
tảo biển cũng là một thực phẩm có thể gây bướu cổ
(vì có quá nhiều i-ốt).
- Tình trạng suy dinh dưỡng thiếu vitamin A; ô
nhiễm nguồn nước; một số vi khuẩn (E.coli) cũng được
coi là những yếu tố có thể gây nên bệnh bướu cổ ở
vùng không thiếu hụt i-ốt hoặc chỉ thiếu hụt i-ốt nhẹ.
b) Triệu chứng
Các triệu chứng của bệnh bướu cổ địa phương
tương tự như của bệnh bướu cổ đơn thuần. Trẻ em
thường có biểu hiện bướu phì đại lan toả. Bướu
dần to lên, có nhân bên trong. Phụ nữ mắc bệnh
nhiều hơn nam giới. Khoảng 15% người mắc bệnh
biểu hiện bướu đa nhân rất to, tới 150g hoặc hơn
(bình thường bướu có trọng lượng khoảng 25g),
khi bướu to gây chèn ép khí quản (cảm giác nghẹt
thở, khó thở), nhưng nhiều khi bướu có trọng
26
lượng nhỏ hơn cũng có thể gây nên các triệu chứng
chèn ép. Khi bướu rất to có thể có biến chứng chảy
máu trong bướu với biểu hiện như đau, viêm vùng
cổ, kích thước bướu tăng nhanh.
- Khi được bổ sung i-ốt, dù với liều lượng rất
nhỏ, một số người biểu hiện triệu chứng cường giáp
do có nhân tự quản chức năng gây ra (Xem Cường
giáp trạng và Bướu đa nhân tuyến giáp).
- Một số dạng ung thư tuyến giáp (anaplastic
carcinoma, follicular carcinoma, sarcoma) được ghi
nhận gặp nhiều hơn và tiên lượng xấu hơn ở vùng
bướu cổ địa phương so với vùng không có bệnh
bướu cổ địa phương.
2. Bệnh đần độn địa phương
Bệnh đần độn địa phương vẫn còn phổ biến ở
các vùng sâu, vùng xa thuộc các nước Ấn Độ, Trung
Quốc,... Bệnh xuất hiện khi lượng cung cấp i-ốt hằng
ngày dưới 25microgam và ở khoảng 10% số người
sống trong điều kiện thiếu i-ốt nặng.
Bệnh đần độn địa phương có 2 thể:
- Đần độn thể thần kinh:
- Hội chứng thần kinh nổi trội: Giảm khả năng
nghe, nói có kèm theo hoặc không kèm theo rối loạn
thế đứng, dáng đi.
- Lùn.
- Thiểu năng trí tuệ.
27
- Suy giáp nặng có kèm theo bướu cổ hoặc
không có bướu cổ.
- Đần độn thể phù niêm:
- Có triệu chứng điển hình của suy giáp nặng
như: chậm chạp, sợ lạnh, mạch chậm, da và niêm
mạc thâm nhiễm... (xem Bệnh suy giáp).
3. Suy giáp ở trẻ sơ sinh trong vùng thiếu
i-ốt nặng
Suy giáp trẻ sơ sinh ở vùng thiếu i-ốt nặng có tỷ
lệ khoảng 4 - 10% trẻ (gấp 200-500 lần so với vùng
không thiếu i-ốt). Sau khi sinh, tình trạng suy giáp
có thể qua đi, nhưng các di chứng thần kinh vẫn tồn
tại mãi. Nếu tình trạng suy giáp còn tồn tại tới độ
tuổi 5 - 7 thì cần xem xét đến sự thiếu hụt i-ốt
trường diễn hoặc các yếu tố gây bướu cổ khác như
ăn nhiều sắn, kê, thiếu hụt selenium, v.v..
Để tránh suy giáp ở trẻ sơ sinh, bắt buộc phải
cung cấp đủ i-ốt trước khi người mẹ có thai, vì dầu i-ốt
đưa vào cơ thể mẹ trong 3 tháng đầu của thai kỳ cũng
không ngăn cản được sự xuất hiện của hội chứng đần
độn địa phương.
II. DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN DO
THIẾU I-ỐT
Phòng, chống bệnh bướu cổ và đần độn địa
phương bằng cách bổ sung i-ốt trong chế độ ăn
28
hằng ngày được áp dụng rộng rãi từ đầu thế kỷ XX
chủ yếu bằng muối i-ốt và dầu i-ốt.
1. Muối i-ốt
Lượng i-ốt trộn vào muối khác nhau tuỳ thuộc
mức độ thiếu hụt i-ốt từng vùng, tuỳ theo thói quen
ăn mặn, nhạt khác nhau nên. Tỷ lệ trộn 30 phần triệu
(30ppm) sẽ cung cấp lượng i-ốt tối thiểu khoảng
100microgam/ngày. Ở Việt Nam, hiện nay tỷ lệ trộn
là 50 phần triệu (50ppm) tức là có 500microgam trong
10g muối ăn, song i-ốt bị hao hụt tới 20 - 50% trong
quá trình vận chuyển, chế biến thức ăn nên lượng i-ốt
thực sự được đưa vào cơ thể chỉ vào khoảng 100200microgam/ngày (theo khuyến cáo của Tổ chức Y
tế thế giới, mỗi người cần khoảng 150 - 300microgam
i-ốt/ngày).
2. Dầu i-ốt
- Được dùng dưới dạng dầu i-ốt tiêm và dầu iốt uống. Lượng i-ốt trong 1ml dầu là 475 - 540mg
(475.000 - 540.000microgam).
Liều lượng: 0,5-1ml cho trẻ em.
0,5-2ml cho người lớn.
- Sau khi uống hoặc tiêm, dầu i-ốt sẽ được giải
phóng dần dần nhưng với tốc độ khác nhau: 6 tháng
đầu lượng i-ốt phóng thích ra lớn, hiệu lực phòng
ngừa thiếu hụt i-ốt trong khoảng 2-5 năm.
3. Các cách bổ sung i-ốt khác
I-ốt có thể được bổ sung dưới các hình thức như
29
cho vào giếng nước ở các làng hoặc cho vào bánh
mỳ (như ở Hà Lan).
Lưu ý: Tai biến do i-ốt (Tuyến giáp và thừa i-ốt)
Sau khi bổ sung i-ốt, nhất là với lượng lớn như
trong trường hợp dùng dầu i-ốt, một số người có
biểu hiện cường chức năng tuyến giáp (nóng bức, gầy
sút, nhịp tim nhanh, run tay...). Sở dĩ có hiện tượng
này vì hai lý do:
(1) Ở người thiếu i-ốt lâu ngày trong tuyến
giáp hình thành những vùng tự quản chức năng
nhằm tăng cường sản xuất nội tiết tố tuyến giáp
(khả năng thích nghi với tình trạng thiếu i-ốt). Nay
được cung cấp đủ i-ốt, các vùng tự quản chức năng
này có đủ nguyên liệu nên sản xuất dư thừa nội tiết
tố tuyến giáp dẫn đến tình trạng cường giáp. Hiện
tượng này thường gặp ở người trên 40 tuổi, bướu
giáp có nhiều nhân, mật độ không đều. Hiện tượng
cường giáp này thường tự qua đi sau 6 - 12 tháng
và không cần điều trị (trừ những trường hợp có
bệnh tim mạch và các biến chứng liên quan).
(2) Trong vùng thiếu i-ốt, tuyến giáp của những
người mắc bệnh Basedow do không đủ i-ốt nên
không tạo đủ lượng nội tiết tố tuyến giáp gây nên
triệu chứng cường giáp. Nếu được cung cấp đủ
lượng i-ốt cần thiết, người bệnh sẽ biểu hiện đầy đủ
triệu chứng bệnh và khi đó việc điều trị được tiến
hành như đối với bệnh Basedow thông thường khác.
30
BỆNH SUY GIÁP
1. Định nghĩa
Tuyến giáp nằm ở cổ trước khí quản (khi to lên
thường gọi là bệnh bướu cổ), là một tuyến tuy nhỏ
nhưng đóng vai trò sinh tồn đối với cơ thể.
Suy giáp là sự thiếu hụt nội tiết tố (hormon)
tuyến giáp cho các tế bào của cơ thể và thường do
sản xuất không đủ nội tiết tố. Tuyến giáp có thể to
hoặc không.
2. Phân loại, nguyên nhân, dịch tễ học
a) Phân loại, nguyên nhân
a1) Suy giáp tiên phát (do tuyến giáp):
- Căn nguyên miễn dịch: Ví dụ viêm tuyến giáp
Hashimoto.
- Sau phẫu thuật cắt tuyến giáp hoặc sau điều trị
bằng i-ốt phóng xạ (kể cả phóng xạ vùng cổ). Đây là
căn nguyên rất thường gặp ở Việt Nam do bệnh
nhân cho rằng sẽ khỏi hoàn toàn bệnh bướu cổ sau
khi mổ và điều trị phóng xạ.
- Do sử dụng thuốc: Thuốc kháng giáp trạng tổng
hợp điều trị bệnh Basedow (PTU, MTU, NeoMercazole,
Thyrozol, Novacarb, Lithium...); thuốc điều trị loạn
nhịp tim (Cordarone); thuốc chụp cản quang có i-ốt.
31
- Thiếu hụt i-ốt nặng, nhất là ở vùng miền núi.
- Suy giáp ở trẻ mới sinh: Bẩm sinh hoặc mắc
phải khi còn trong bụng mẹ.
a2) Suy giáp thứ phát (do tuyến yên): Suy thuỳ
trước tuyến yên (trường hợp này hiếm gặp).
a3) Suy giáp do vùng dưới đồi (rất hiếm gặp).
a4) Suy giáp dưới lâm sàng (Xem Tuổi già và bệnh
tuyến giáp).
b) Dịch tễ học
Tỷ lệ suy giáp khoảng 2% dân số, trong đó phụ
nữ chiếm ưu thế tuyệt đối và càng cao tuổi càng có
khả năng mắc suy giáp. Ở vùng thiếu i-ốt, tỷ lệ suy
giáp gia tăng hơn vùng đủ i-ốt.
Suy giáp là bệnh thường gặp và nguy hiểm
nhưng rất dễ bị bỏ qua vì các triệu chứng ban đầu
mơ hồ, không đặc hiệu. Để chẩn đoán được bệnh
cần làm xét nghiệm cho những đối tượng có nguy
cơ cao 2 hoặc 3 năm/lần. Chi phí chữa bệnh sẽ đỡ
tốn kém vì chẩn đoán điều trị sớm tránh các biến
chứng do các bệnh tim mạch và chuyển hoá gây ra.
3. Triệu chứng
Bệnh suy giáp có thể phát hiện dễ dàng trong
trường hợp bệnh diễn biến lâu ngày với các triệu
chứng điển hình. Song phần lớn bệnh nhân chỉ có các
triệu chứng mờ nhạt (mệt mỏi, táo bón...) nên thường
được phát hiện muộn hoặc phát hiện khi làm xét
nghiệm máu cho những người trong diện có nguy cơ
cao như người có tiền sử bệnh tuyến giáp, bệnh tuyến
yên, người thiếu máu, tăng cholesterol, hạ Na+ máu.
32
a) Các triệu chứng điển hình:
- Mệt mỏi, giảm khả năng gắng sức, có khi
tăng cân.
- Sợ lạnh, da khô và thô, da tái và lạnh; da vàng sáp
do ứ đọng caroten nhất là ở lòng bàn tay, bàn chân; dễ
rụng tóc, rụng lông mày, lông nách, lông mu thưa.
- Phù niêm toàn thể, da mỡ (trông láng bóng),
thâm nhiễm mi mắt (nặng mí mắt), thâm nhiễm lưỡi
(lưỡi to đầy), thâm nhiễm thanh quản (nói khàn,
khó thở), thâm nhiễm cơ gây giả phì đại cơ.
- Dễ táo bón.
- Nhịp tim chậm, tim to, tràn dịch màng tim, cá
biệt có thể tới 2-3 lít, nếu suy giáp nặng có thể có suy
tim nhất là khi có thiếu máu đi kèm. Xơ vữa mạch
vành do rối loạn chuyển hoá mỡ trong suy giáp trạng
có thể dẫn đến suy vành, song thường không có triệu
chứng cho đến khi xuất hiện nhồi máu cơ tim.
- Dị cảm ở tay, chân tăng lên vào ban đêm. Yếu
cơ, chuột rút, cảm giác co cứng cơ bắp, nhất là cơ
vùng thắt lưng. Khối cơ có thể teo hoặc ngược lại là
phì đại. Dáng đi có thể loạng choạng, khó vận động.
- Khả năng suy nghĩ và vận động chậm chạp,
nói chậm, trí nhớ giảm.
- Rối loạn kinh nguyệt: Ít kinh, mất kinh, rong
kinh, mất khoái cảm tình dục, vô sinh. Đối với nam
giới thường gặp liệt dương và biến đổi sinh tinh.
- Tràn dịch đa màng: Màng tim, màng phổi,
màng bụng, màng khớp. Xét nghiệm dịch chọc dò
có nhiều cholesterol và mucopolysaccharide.
b) Ở người có tuổi, các triệu chứng mờ nhạt hơn
33
nên dễ được cho là do tuổi tác: biểu hiện thường
gặp là mệt mỏi, táo bón, sợ lạnh, sa sút trí tuệ, v.v..
c) Trường hợp suy giáp rất nặng có thể gặp hôn
mê suy giáp:
- Hôn mê diễn biến từ từ không có dấu hiệu thần
kinh khu trú, nhưng cũng có thể xuất hiện cơn động
kinh. Có bệnh nhân chỉ biểu hiện tình trạng ngủ gà.
- Hạ thân nhiệt nặng (< 35oC) có thể xuống tới
24oC, trong trường hợp nhiễm khuẩn, bệnh nhân có
thể không sốt và không rét run.
- Hạ đường huyết.
- Giảm hô hấp gây tăng khí CO2 trong máu. Thở
chậm, có khi có cơn ngừng thở hoặc thở nhanh do
nhiễm khuẩn phổi.
- Nhịp tim chậm, thường tăng huyết áp, hạ
huyết áp cũng có thể xảy ra.
- Điện tim: Nhịp xoang chậm, điện thế thấp, kéo
dài khoảng QT, cũng có thể gặp dấu hiệu thiếu máu
cơ tim, nhồi máu cơ tim.
- X - quang: Hình tim to, tràn dịch màng tim,
tràn dịch màng phổi.
4. Xét nghiệm và chẩn đoán
- Nội tiết tố tuyến giáp (FT4, FT3 giảm). Nội tiết
tố tuyến yên (TSH) kích thích tuyến giáp tăng. Nếu
TSH bình thường có thể loại trừ suy giáp tiên phát.
- Thiếu máu gặp 25 - 50% trường hợp. Hồng cầu
có thể to, nhỏ hoặc bình thường.
- Tăng cholesterol đơn thuần hoặc kèm tăng
triglyceride máu.
34
Sơ đồ chẩn đoán suy giáp
Nghi ngờ suy giáp
Loại trừ suy giáp.
(Lưu ý suy giáp
Thấp/hoặc bình thường
thứ phát)
TSH cơ sở
tăng
Suy giáp tiên phát
(do tuyến giáp)
Giảm
Tiền sử điều trị
phóng xạ hoặc
phẫu thuật. Điều trị
thuốc kháng giáp
FT4
Bình thường
Suy giáp dưới
lâm sàng
Suy giáp do
thầy thuốc
Có
Không
Mới có thai gần đây
Suy giáp sau sinh
Có
Không
Kháng thể kháng giáp ?
Viêm tuyến giáp
tự miễn không có
kháng thể
Bình
Tăng cao
Siêu âm tuyến giáp: bướu giáp?
Có
Viêm giáp Hashimoto
Không
Viêm giáp teo
35
5. Điều trị
Tuỳ theo nguyên nhân gây ra suy giáp mà có
chế độ điều trị thích hợp. Nếu suy giáp tạm thời do
dùng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp quá liều thì
cần giảm thuốc; nếu suy giáp do thiếu hụt i-ốt cần
bổ sung thêm i-ốt; nếu suy giáp do suy thuỳ trước
tuyến yên cần bổ sung thêm các nội tiết tố khác do
suy nhiều tuyến cùng lúc; nếu suy tuyến giáp vĩnh
viễ...
 





