BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Viếng Lăng Bác - Bài giảng

    Bệnh bứu cổ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 15h:11' 12-03-2024
    Dung lượng: 982.1 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
    Chủ tịch Hội đồng
    Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
    LÊ MẠNH HÙNG
    Phó Chủ tịch Hội đồng
    Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
    PHẠM CHÍ THÀNH
    Thành viên
    VŨ TRỌNG LÂM
    NGUYỄN ĐỨC TÀI
    TRẦN THANH LÂM
    NGUYỄN HOÀI ANH

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN

    Bướu cổ, hay chính xác hơn là bướu giáp, là tên
    gọi chung cho nhiều bệnh tuyến giáp khác nhau:
    bướu cổ đơn thuần, bướu cổ địa phương, Basedow,
    bướu nhân tuyến giáp, ung thư tuyến giáp, v.v..
    Ở nước ta hiện nay, các căn bệnh tuyến giáp
    chiếm tỷ lệ cao với hàng triệu người mắc bệnh ở cả
    khu vực đồng bằng, thành thị lẫn khu vực nông
    thôn và miền núi. Tuy nhiên, việc chẩn đoán và điều
    trị các căn bệnh tuyến giáp lại gặp nhiều khó khăn,
    thêm nữa, thực tế vẫn tồn tại những cách chữa bệnh
    thiếu khoa học trong nhân dân khiến người bệnh
    phải chịu thêm những di chứng nặng nề.
    Với phương châm ngắn gọn, dễ hiểu và thực tế,
    cuốn sách Bệnh bướu cổ do Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn
    Huy Cường biên soạn, cung cấp những thông tin
    về căn bệnh thuộc loại phổ biến hiện nay - bệnh bướu
    giáp, qua đó giúp người dân có thể tự nhận biết một
    số bệnh tuyến giáp, sớm đến gặp Bác sĩ chuyên khoa
    để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
    Dù đã có nhiều cố gắng song nội dung cuốn
    sách khó tránh khỏi hạn chế, Nhà xuất bản và tác
    5

    giả mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc
    để lần xuất bản sau cuốn sách được hoàn thiện hơn.
    Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
    Hà Nội, tháng 6 năm 2019
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

    6

    MỘT SỐ KHÁI NIỆM
    VỀ BỆNH BƯỚU CỔ
    Bướu cổ (bướu giáp) được dùng để chỉ tình
    trạng tuyến giáp to lên có thể nhìn thấy hoặc sờ thấy
    được.
    Bướu cổ địa phương là do thiếu hụt i-ốt trong
    thức ăn và nước uống. Việt Nam được coi là nước có
    tình trạng thiếu hụt i-ốt và theo kết quả điều tra của
    Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2013-2014 tỷ lệ
    trẻ em 8-10 tuổi mắc bướu cổ khá cao xấp xỉ 10%.
    Cường giáp (hyperthyroidism): là tình trạng
    quá thừa nội tiết tố tuyến giáp (do tuyến giáp tăng
    sản xuất/phóng thích nội tiết tố tuyến giáp vào máu)
    gây nên các triệu chứng cường giáp như run tay, tim
    đập nhanh, cảm giác nóng bức và gày sút.
    Nhiễm độc giáp (thyrotoxicosis) là tình trạng
    quá thừa nội tiết tố tuyến giáp do nhiều nguyên
    nhân trong đó bao gồm cả chứng cường giáp. Các
    nguyên nhân đó có thể do tuyến giáp sản xuất dư
    thừa hoặc do quá trình viêm tuyến giáp gây phóng
    thích nhiều nội tiết tố tuyến giáp vào máu hoặc do
    uống quá liều nội tiết tố tuyến giáp, như trước đó đã
    bổ sung nội tiết tố để giảm cân.
    Nội tiết tố là những chất sinh ra từ một cơ quan
    7

    (tuyến nội tiết) và được máu vận chuyển đến một cơ
    quan khác (hay mô đích) mà ở đó chúng gây tác
    dụng kích thích hoặc ức chế hoạt động của cơ quan
    (hay mô) này. Nội tiết tố tuyến giáp có ảnh hưởng
    đến toàn bộ cơ thể.
    Basedow là tên gọi một loại bệnh cường chức
    năng tuyến giáp, nguyên nhân là do các chất tự
    miễn dịch trong cơ thể kích thích tế bào tuyến giáp
    sản xuất nhiều nội tiết tố tuyến giáp. Đây là bệnh
    cường giáp hay gặp nhất và thường ở phụ nữ.
    Trong các tài liệu nước ngoài thường gọi bệnh này
    là bệnh Graves hay bệnh Parry.

    8

    DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

    LATS (Long Acting Thyroid Stimulator): Những
    kháng thể kích thích hoạt động tế bào tuyến giáp.
    TGI (Thyroid Growth Immunoglobulin): Những
    globulin miễn dịch kích thích tăng trưởng tế bào
    tuyến giáp.
    TSH (Thyroid Stimulating Hormon): Nội tiết tố
    tuyến yên có vai trò kích thích tăng trưởng và hoạt
    động tế bào tuyến giáp.
    TBG (Thyroide Binding Globuline): Globulin
    gắn kết với nội tiết tố tuyến giáp.
    TSHR (Thyroid Stimulating Hormon Receptor):
    Thụ thể, nơi gắn kết nội tiết tố tuyến yên kích thích
    tuyến giáp hoạt động (TSH).
    TSAbs (Thyroid Stimulating Antibodies): Kháng
    thể kích thích hoạt động tế bào tuyến giáp.
    TRAbs (TSHR Antibodies): Kháng thể kháng
    thụ thể TSH.
    9

    TBAbs (Antibodies with blocking activity on the
    TSHR): Kháng thể ức chế hoạt động thụ thể TSH,
    thường gây viêm giáp teo, song có thể gặp trong
    bệnh Basedow.
    PTU (Propyl Thio Uracil): Tên một loại thuốc
    kháng giáp trạng tổng hợp.
    TPO-Ab (Thyroperoxidase Autoantibodies): Tự
    kháng thể kháng lại peroxidase của tuyến giáp.

    10

    ĐẠI CƯƠNG VỀ TUYẾN GIÁP

    1. Giải phẫu
    Tuyến giáp nằm ở phía trước cổ, bình thường
    cân nặng chừng 20-25g. Tuyến giáp có 2 thùy đối
    xứng, nối với nhau bởi eo tuyến vắt ngang qua sụn
    khí quản. Tuyến giáp thường ở vị trí rất nông, dễ
    dàng khám được bằng sờ nắn khi tuyến to lên
    (bướu giáp: quen gọi là bướu cổ). Một số trường
    hợp tuyến chìm sâu vào trung thất trong lồng ngực
    hoặc ở các vị trí khác cần phải làm xạ hình tuyến
    mới quan sát được.
    2. Sinh lý
    Tuyến giáp được nuôi dưỡng bởi nhiều mạch
    máu, trong tuyến có 2 loại tế bào: tế bào C tiết
    calcitonine (nội tiết tố làm giảm lượng calci máu) và
    rất nhiều tế bào tuyến giáp liền nhau tạo thành
    những nang đường kính khoảng 100 - 300 micromet.
    Những tế bào này bắt giữ i-ốt ở máu và tổng hợp
    tiền nội tiết tố tích trữ trong các nang. Khi có kích
    thích bởi TSH (nội tiết tố tuyến yên), các nang giải
    phóng một phần nội tiết tố tuyến giáp đã được tích
    trữ dưới dạng Tri-iodothyronine (còn gọi là T3,
    11

    chiếm khoảng 20%), và Thyroxine (còn gọi là T4,
    chiếm khoảng 80%).
    3. Tác dụng của nội tiết tố tuyến giáp
    a) Tác dụng lên sự phát triển cơ thể:
    -

    Thúc đẩy sự trưởng thành và phát triển não
    trong thời kỳ bào thai và cả những năm đầu
    sau khi sinh. Nếu không đủ lượng nội tiết tố
    tuyến giáp trong giai đoạn này, sự phát triển
    và trưởng thành của não sẽ chậm lại. Nếu
    không được điều trị kịp thời từ trong bụng
    mẹ và ngay sau khi sinh, trí tuệ trẻ sẽ không
    phát triển (đần bẩm sinh).
    - Làm tăng tốc độ phát triển: Ở trẻ có quá thừa
    nội tiết tố tuyến giáp, sự phát triển của
    xương nhanh hơn nên trẻ cao sớm hơn so với
    tuổi, song, sự cốt hoá cũng sớm hơn nên trẻ
    đạt tới chiều cao của người trưởng thành
    sớm hơn (không phải trường hợp chiều cao
    của người khổng lồ như khi bị cường nội tiết
    tố tăng trưởng). Trường hợp thiếu nội tiết tố
    tuyến giáp không được phát hiện sớm và
    điều trị, trẻ sẽ bị lùn.
    b) Tác dụng lên chuyển hoá tế bào:
    -

    12

    Nội tiết tố tuyến giáp làm tăng hoạt động
    chuyển hoá của hầu hết các mô trong cơ thể,
    tăng tốc độ các phản ứng hoá học, tăng tiêu
    thụ và chuyển hoá thức ăn để cung cấp năng

    lượng, nhưng không được tích trữ lại mà thải
    ra dưới dạng nhiệt nên khi thừa nội tiết tố
    tuyến giáp (cường giáp) gây cảm giác nóng
    bức, người bệnh ăn nhiều nhưng vẫn gầy sút.
    Ngược lại, khi thiếu nội tiết tố tuyến giáp
    (suy giáp), bệnh nhân luôn cảm thấy lạnh.
    c) Tác dụng lên chuyển hoá đường (glucide):
    -

    Làm tăng nhẹ đường máu, thậm chí gây đái
    tháo đường do nội tiết tố tuyến giáp làm
    tăng hấp thu đường glucose từ ruột, tăng
    thoái hoá và phân giải glycogen, tăng tạo
    đường mới.
    d) Tác dụng lên chuyển hoá mỡ (lipide):

    -

    Cường
    giáp
    làm
    giảm
    cholesterol,
    triglyceride máu. Ngược lại suy giáp làm
    tăng cholesterol máu.
    đ) Tác dụng lên chuyển hoá đạm (proteine):

    -

    Cường giáp nặng làm tiêu proteine giải
    phóng acid amine vào máu (gây gầy sút).
    e) Tác dụng lên hệ thống tim-mạch:
    -

    Nội tiết tố tuyến giáp làm tăng nhịp tim,
    tăng sức co bóp cơ tim, tăng lưu lượng tim,
    tăng huyết áp tâm thu 10 - 15mmHg, ngoài
    ra còn làm giãn mạch máu nên người cường
    giáp có sắc da đỏ hồng. Ngược lại, người bị
    suy giáp có các triệu chứng như da tái, nhịp
    tim chậm.
    13

    g) Tác dụng lên hệ thống thần kinh cơ:
    -

    Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương:
    Cường giáp gây trạng thái căng thẳng, dễ
    cáu gắt, lo lắng quá mức. Suy giáp gây tình
    trạng ngược lại là phản ứng chậm chạp. Đặc
    biệt nếu suy giáp xảy ra sớm trong bào thai
    hoặc sau khi sinh mà không được điều trị thì
    gây tình trạng thiểu năng trí tuệ nặng nề.

    -

    Tác dụng lên chức năng cơ: Cường giáp gây
    run cơ nhanh, nhẹ với tần số 10 - 15
    lần/phút. Có thể quan sát hiện tượng này dễ
    hơn khi đặt một tờ giấy lên những ngón tay
    xoè rộng.

    -

    Tác dụng lên sự thức ngủ: Người bị cường
    giáp luôn ở trong trạng thái hưng phấn nên
    mặc dù rất mệt song khó ngủ. Ngược lại,
    người suy giáp ngủ nhiều tới 12 - 14
    giờ/ngày.

    h) Tác dụng lên cơ quan sinh dục:
    -

    Nam giới thiếu nội tiết tố tuyến giáp có thể
    mất dục tính hoàn toàn; thừa nhiều nội tiết
    tố tuyến giáp gây bất lực.

    -

    Nữ giới thiếu nội tiết tố tuyến giáp thường
    gây băng kinh, đa kinh, rối loạn rụng trứng,
    vô sinh; khi thừa nội tiết tố tuyến giáp gây
    rối loạn kinh nguyệt và giảm dục tính.

    14

    i) Tác dụng lên các tuyến nội tiết khác:
    -

    Tăng nội tiết tố tuyến giáp làm tăng mức
    bài tiết hầu hết các nội tiết tố khác như
    tăng insuline máu, tăng hoóc môn vỏ
    thượng thận (ACTH), từ đó làm tăng
    cortisol máu.

    4. Điều hòa bài tiết nội tiết tố tuyến giáp
    -

    Do nồng độ TSH của tuyến yên: TSH của
    tuyến yên kích thích tuyến giáp bài tiết T3/T4
    do vậy nếu TSH tăng thì T3/T4 sẽ được bài
    tiết nhiều và ngược lại nếu TSH giảm thì
    T3/T4 sẽ được bài tiết ít.
    - Khi bị lạnh hoặc bị stress, T3/T4 sẽ được bài
    tiết nhiều.
    - Cơ chế tự điều hòa:
    + Nồng độ i-ốt vô cơ cao trong tuyến giáp sẽ ức
    chế bài tiết T3/T4.
    + Nồng độ i-ốt hữu cơ cao trong tuyến giáp dẫn
    tới giảm thu nhận i-ốt và do đó làm giảm tổng hợp
    T3/T4.

    15

    BƯỚU CỔ ĐƠN THUẦN
    1. Định nghĩa
    Bướu cổ đơn thuần là tình trạng phì đại lan toả
    tuyến giáp không do viêm, không do ung thư và
    chức năng tuyến giáp hoàn toàn bình thường.
    2. Nguyên nhân
    Do khoa học còn đang tiếp tục nghiên cứu về
    nguyên nhân gây bệnh bướu cổ đơn thuần nên
    người ta mới chỉ ra một số nguyên nhân sau:
    - Do những bất thường nhỏ trong sinh tổng hợp
    nội tiết tố tuyến giáp.
    - Do tăng trương lực trục thần kinh-tuyến dưới
    đồi-tuyến yên-tuyến giáp.
    - Do có kháng thể kích thích tăng trưởng tế bào
    tuyến giáp nhưng không chế tiết nội tiết tố (TGI).
    - Do sản xuất quá mức những yếu tố tại chỗ điều
    hòa tăng trưởng tế bào.
    3. Triệu chứng
    Bệnh hay gặp ở phụ nữ trẻ, tỷ lệ nữ/nam
    khoảng 6/1. Bướu thường được phát hiện ngẫu
    nhiên bởi bản thân hoặc người xung quanh hay khi
    16

    được khám sức khỏe tổng thể. Các triệu chứng cơ
    năng không thường gặp như cảm giác nghẹn vùng
    cổ, nuốt vướng, tinh thần lo lắng. Bướu nhìn thấy
    hoặc sờ được khi khám. Bề mặt bướu nhẵn và đều,
    mật độ bướu căng chắc hoặc mềm tuỳ theo thời
    gian xuất hiện bướu. Bướu không đau và di động
    khi nuốt.
    Bảng 1: Phân loại tuyến giáp theo kích thước
    Độ 1: Tuyến giáp chỉ sờ thấy nếu cổ ở vị trí bình
    thường.
    1a: Tuyến giáp không sờ thấy khi cổ quá ngửa ra sau.
    1b: Tuyến giáp sờ thấy khi cổ quá ngửa ra sau.
    Độ 2: Tuyến giáp nhìn thấy khi đầu ở vị trí bình
    thường.
    Độ 3: Tuyến giáp to với sự thay đổi vị trí của các tổ
    chức xung quanh.
    4. Xét nghiệm
    - Định lượng nội tiết tố TSH nếu bình thường đủ
    để xác định bình giáp.
    - Tự kháng thể kháng tuyến giáp thường (-) hoặc
    (+) với hiệu giá rất nhỏ.
    - Ghi hình tuyến giáp bằng Technetium 99m chỉ
    khi tuyến ở vị trí bất thường hoặc có vùng mật độ
    bất thường (vùng giảm gắn).
    - Siêu âm tuyến giáp khi thấy bướu có mật độ
    không đều. Siêu âm còn giúp đo thể tích bướu.
    17

    5. Tiến triển
    Bướu cổ đơn thuần có thể khỏi tự phát, nhất là
    loại bướu xuất hiện ở tuổi dậy thì hoặc khi bị bệnh
    nặng. Điều trị nội tiết tố tuyến giáp liều ức chế tạo
    điều kiện cho bướu nhỏ đi. Song, bướu có thể tồn
    tại nhiều năm liền, trong những năm đó bướu có
    những đợt to thêm khi có thai, khi mãn kinh hoặc
    do các rối loạn tâm sinh lý. Bướu cũng có thể tiến
    triển thành bướu đa nhân (xem Bướu đa nhân
    tuyến giáp) và biến chứng như:
    - Chèn ép tại chỗ đối với: bướu độ 3:
    + Chèn ép vào khí quản: Gây tiếng rít, khó thở.
    + Chèn ép vào thực quản: Gây cảm giác vướng,
    khó nuốt.
    + Chèn ép vào dây quặt ngược: Khó phát âm.
    - Tự quản hoạt động chức năng tuyến giáp
    (Autonomie Thyroidienne Fonctionnelle): Trong
    trường hợp cung cấp nhiều i-ốt, có thể có nguy cơ
    tiến triển thành cường giáp (ví dụ khi chụp cản
    quang có i-ốt).
    5. Điều trị
    Phương thức điều trị phụ thuộc vào loại bướu
    và giai đoạn tiến triển:
    a) Điều trị nội khoa:
    - Nếu bướu đồng nhất, mới xuất hiện và kích
    thước không to: thử điều trị bằng nội tiết tố tuyến
    18

    giáp liều ức chế (50-125g/ngày L-Thyroxin) ví dụ
    dùng Levothyrox 100 microgam. Việc điều trị càng
    có hiệu quả nếu được tiến hành sớm, bướu có thể
    khỏi hoặc ổn định. Liều điều trị cần được điều chỉnh
    cho phù hợp trong trường hợp người bệnh có thai.
    - Nếu bướu tồn tại đã lâu, việc điều trị ít khi
    mang lại kết quả. Khi kê đơn cần thận trọng, nhất là
    đối với người có tuổi.
    b) Điều trị ngoại khoa (khi bướu cổ đơn thuần
    có biến chứng):
    Cắt tuyến giáp bán phần trong trường hợp bướu
    giáp to có triệu chứng chèn ép và thất bại khi điều
    trị nội khoa bảo tồn; có ổ tự quản chức năng; nghi
    ngờ ác tính (nhân lạnh tuyến giáp). Sau phẫu thuật
    điều trị dự phòng bằng L-Thyroxin.
    - Biến chứng do phẫu thuật: tổn thương dây quặt
    ngược gây nói khàn; hiếm gặp hơn là gây cơn tetany
    (co cơ không chủ ý do bệnh lý hoặc trường hợp tăng
    tần số điện thế hoạt động của các tế bào cơ hoặc các
    dây thần kinh chi phối chúng) do tổn thương tuyến
    cận giáp làm giảm calci máu.
    c) Điều trị i-ốt phóng xạ (khi bướu cổ đơn thuần
    có biến chứng):
    - Trong trường hợp bướu tái phát, nhiều nhân tự
    quản, chống chỉ định hoặc từ chối can thiệp ngoại
    khoa, bướu giáp ở người quá già (chỉ được thực
    19

    hiện ở trung tâm y học phóng xạ có trang bị đặc
    biệt; thời gian điều trị 1 - 2 tuần, tác dụng thường
    thấy sau 6 tháng).
    - Sau điều trị i-ốt phóng xạ: Điều trị bằng
    L-Thyroxin khi có suy giáp.
    - Biến chứng: Viêm tuyến giáp sau phóng xạ
    (5 - 10%).

    20

    NHỮNG RỐI LOẠN DO THIẾU HỤT I-ỐT
    I- TỔNG QUAN
    Thiếu hụt i-ốt là nguyên nhân của bệnh bướu cổ
    địa phương, suy giáp ở trẻ sơ sinh. Hơn nữa, việc
    thiếu hụt i-ốt còn gây ra những rối loạn thể chất, trí
    tuệ nặng nề cho cộng đồng mà không thể khắc phục
    được như bệnh đần độn bẩm sinh, không phát triển
    chiều cao.
    Ước tính có chừng 29% dân số thế giới sống
    trong khu vực thiếu hụt i-ốt. Điều tra không chính
    thức trên 137 nước cho thấy: thiếu hụt i-ốt nặng gặp
    ở 29 nước; thiếu hụt trung bình ở 54 nước; nhẹ ở 24
    nước; không rõ ràng ở 17 nước và chỉ có 13 nước
    không có thiếu hụt i-ốt. Thiếu hụt i-ốt rõ ràng ở 45
    nước châu Phi; 16 nước châu Mỹ; 24 nước châu Âu
    và Trung Á; 11 nước Nam Á; 10 nước Trung Đông; 8
    nước Viễn đông.
    Tỷ lệ người mắc bướu cổ tại các nước châu Âu
    không có chương trình bổ sung i-ốt (Đức, Hy Lạp,
    Italia, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ,
    Rumani) từ 18-22%1.
    ___________
    1. Geraldo Medeiros Neto: "Iodine Deficiency Disorders"
    Endocrinology, Nxb. W.B. SAUNDERS company USA, xuất bản
    lần thứ 4, 2001, tr.1529.

    21

    Tỷ lệ người mắc bướu cổ tại dãy Hymalaya,
    Pakixtan tới 39,7%.
    Trung Quốc có khoảng 30 triệu người mắc bướu
    cổ và khoảng 200.000 người đần độn do thiếu hụt
    i-ốt nặng gây ra1.
    Thiếu hụt i-ốt theo vùng - theo Tổ chức Y tế thế giới
    Thiếu hụt i-ốt (nồng độ i-ốt niệu<100mcg/l)
    Theo vùng địa lý

    Trẻ em độ tuổi đi học

    Dân số chung

    triệu (%)

    triệu (%)

    Châu Phi

    58,5 (41,4)

    316,7 (42)

    Châu Mỹ

    11,6 (10,6)

    98,6 (11)

    Trung Đông

    43,3 (48,8)

    259,3 (47,2)

    Châu Âu

    38,7 (52,4)

    459,7 (52)

    Đông Nam Á

    73,1 (30,3)

    503,5 (30)

    Tây Thái Bình Dương

    41,6 (22,7)

    474,7 (21,2)

    Chung toàn thế giới

    266,8 (31,5)

    2.012,6 (30,7)

    Nguồn: Andersson, M.et al. Best Pract. Res. Clin.
    Endocrinol. Metab. 24, 1-11 (2010).

    Xét nghiệm i-ốt trong nước tiểu được coi là chỉ
    số thích hợp nhất đánh giá có thiếu hụt i-ốt. Theo số
    liệu của Tổ chức Y tế thế giới năm 2007, đánh giá
    i-ốt niệu trẻ em trên 130 quốc gia, phát hiện rằng
    vẫn còn tới 47 quốc gia có tình trạng thiếu i-ốt; 1/3
    ___________
    1. Geraldo Medeiros Neto: “Iodine Deficiency Disorders”
    Endocrinology, Sđd.

    22

    quốc gia không có chương trình nghiên cứu ước
    lượng thiếu hụt i-ốt.
    Mạng lưới i-ốt toàn cầu xếp Việt Nam nằm
    trong số 19 nước còn lại trên thế giới có tình trạng
    thiếu i-ốt nghiêm trọng. Khi cơ thể không nhận đủ
    i-ốt, tuyến giáp không thể tổng hợp đủ lượng
    hóc-môn tuyến giáp cần thiết1.
    Ở Việt Nam, theo điều tra của Bệnh viện Nội tiết,
    năm 1993, trên 3062 học sinh thì thấy 94% trường hợp
    thiếu hụt i-ốt. Tỷ lệ bướu cổ ở trẻ em tại Hà Nội, Hải
    Phòng, Hải Hưng, Thái Bình (điều tra năm 1995) vẫn
    còn từ 10-20%2. Tỷ lệ người mắc bướu cổ chung trên
    toàn quốc đến năm 2000 ước đoán còn trên 10% trẻ
    em từ 8-12 tuổi. Tình trạng thiếu hụt iốt còn chiếm
    tới 32,9%3. Theo kết quả điều tra của Bệnh viện Nội
    tiết trung ương năm 2013, 2014 thì tỷ lệ bướu cổ trẻ
    em từ 8-10 tuổi là 9,8%4.
    Một vùng được coi là thiếu hụt i-ốt nhẹ nếu
    định lượng i-ốt niệu 50-100 microgam/ngày; thiếu
    hụt trung bình nếu lượng i-ốt niệu 25 - 49
    ___________
    1. https://infonet.vn/lien-tiep-phau-thuat-nhung-ca-mac-utuyen-giap-khung-post286806.info.
    2. Theo Nguyễn Quang Vinh: "Tình trạng thiếu i-ốt ở học sinh
    PTCS và hiệu quả một số biện pháp can thiệp tại Vũ Thư - Thái Bình",
    Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học 11/2001; tr. 180.
    3. Chương trình quốc gia phòng chống các rối loạn thiếu iốt.
    Tài liệu Tổng kết hoạt động năm 2000, Hà Nội, 3/2001.
    4. https://hanoimoi.com.vn/tin-tuc/suc-khoe/921648/noluc-ngan-chan-tinh-trang-thieu-i-ot-tai-viet-nam.

    23

    microgam/ngày; thiếu hụt mức độ nặng nếu chỉ có
    dưới 25 microgam/ngày.
    Một vùng được coi là vùng mắc bướu cổ địa
    phương khi tỷ lệ  5% trẻ em từ 6-12 tuổi có bướu cổ.
    Tỷ lệ mắc bướu cổ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố
    độ tuổi và giới tính. Tỷ lệ này tăng lên đều đặn từ
    nhỏ cho đến tuổi dậy thì, sau tuổi dậy thì tỷ lệ bướu
    cổ tăng cao hơn ở nữ giới. Tỷ lệ mắc bướu cổ cao
    nhất ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản.
    Bướu cổ chỉ là “phần nổi” của “tảng băng” bệnh
    tật do thiếu i-ốt gây ra, mà “phần chìm” là những
    rối loạn nguy hiểm do thiếu hụt i-ốt được liệt kê ở
    bảng sau:
    Bảng 2. Những rối loạn do thiếu hụt i-ốt gây ra
    Đối tượng
    Thai nhi

    Hậu quả do thiếu hụt i-ốt
    Sảy thai.
    Thai chết lưu.
    Dị tật bẩm sinh.
    Tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và
    chu sinh.
    Đần độn thể thần kinh: Thiểu năng
    trí tuệ, câm điếc, liệt cứng 2 bên chi.
    Đần độn thể phù niêm: Lùn, thiểu
    năng trí tuệ.

    Trẻ sơ sinh

    Mất điều hoà và sự tập trung chú ý.
    Bướu cổ ở trẻ sơ sinh.
    Suy giáp ở trẻ sơ sinh.

    24

    Trẻ em và Suy giáp ở thanh, thiếu niên có
    trẻ vị thành bướu giáp.
    niên
    Chức năng trí tuệ giảm.
    Chậm phát triển thể chất.
    Người lớn

    Bướu cổ và các biến chứng do
    bướu cổ.
    Suy giáp.
    Chức năng trí tuệ giảm.

    Theo Hetzel BS: Dunn JT, Stanbury JB; The
    prevention and control of Iodine Deficiency
    Disorder. Elsevier, pp.135-138, 1987.
    1. Bệnh bướu cổ địa phương
    a) Nguyên nhân
    Nguyên nhân chủ yếu của bệnh bướu cổ địa
    phương là do thiếu hụt i-ốt trong thực phẩm, trong
    nước uống và trong không khí. Ở những vùng thiếu
    hụt i-ốt thường xuất hiện bướu cổ địa phương và
    khi được bổ sung i-ốt thì tỷ lệ người mắc bướu cổ sẽ
    giảm xuống.
    - Trong một số trường hợp đặc biệt, có vùng
    thiếu hụt i-ốt nhưng không có bệnh bướu cổ địa
    phương hoặc ngược lại có vùng không có thiếu
    hụt i-ốt song vẫn có tỷ lệ người mắc bướu cổ cao.
    - Bên cạnh nguyên nhân thiếu hụt i-ốt còn có
    nguyên nhân từ các chất gây bướu cổ. Ví dụ: chất
    thioglucoside có trong các cây họ cải như cải bắp,
    súp-lơ, củ cải đã được chứng minh gây bệnh bướu
    25

    cổ ở các nước Bắc Âu, Trung Âu và Ôxtrâylia; chất
    sinh ra cyanure có trong sắn: linamarine trong sắn
    thuỷ phân tạo cyanure. Trong cơ thể người, cyanure
    được giải độc tạo ra thiocyanate. Thiocyanate một
    mặt ức chế bơm i-ốt của tế bào tuyến giáp, mặt khác
    thiocyanate làm tăng thải i-ốt qua đường tiết niệu,
    do đó gây ra bệnh bướu cổ địa phương ở những
    nước châu Phi,...
    - Ngoài sắn, cây họ cải, một số thực phẩm có
    khả năng gây bướu cổ địa phương (nếu được sử
    dụng nhiều) như: kê; đậu nành và sữa đậu nành. Lưu ý
    tảo biển cũng là một thực phẩm có thể gây bướu cổ
    (vì có quá nhiều i-ốt).
    - Tình trạng suy dinh dưỡng thiếu vitamin A; ô
    nhiễm nguồn nước; một số vi khuẩn (E.coli) cũng được
    coi là những yếu tố có thể gây nên bệnh bướu cổ ở
    vùng không thiếu hụt i-ốt hoặc chỉ thiếu hụt i-ốt nhẹ.
    b) Triệu chứng
    Các triệu chứng của bệnh bướu cổ địa phương
    tương tự như của bệnh bướu cổ đơn thuần. Trẻ em
    thường có biểu hiện bướu phì đại lan toả. Bướu
    dần to lên, có nhân bên trong. Phụ nữ mắc bệnh
    nhiều hơn nam giới. Khoảng 15% người mắc bệnh
    biểu hiện bướu đa nhân rất to, tới 150g hoặc hơn
    (bình thường bướu có trọng lượng khoảng 25g),
    khi bướu to gây chèn ép khí quản (cảm giác nghẹt
    thở, khó thở), nhưng nhiều khi bướu có trọng
    26

    lượng nhỏ hơn cũng có thể gây nên các triệu chứng
    chèn ép. Khi bướu rất to có thể có biến chứng chảy
    máu trong bướu với biểu hiện như đau, viêm vùng
    cổ, kích thước bướu tăng nhanh.
    - Khi được bổ sung i-ốt, dù với liều lượng rất
    nhỏ, một số người biểu hiện triệu chứng cường giáp
    do có nhân tự quản chức năng gây ra (Xem Cường
    giáp trạng và Bướu đa nhân tuyến giáp).
    - Một số dạng ung thư tuyến giáp (anaplastic
    carcinoma, follicular carcinoma, sarcoma) được ghi
    nhận gặp nhiều hơn và tiên lượng xấu hơn ở vùng
    bướu cổ địa phương so với vùng không có bệnh
    bướu cổ địa phương.
    2. Bệnh đần độn địa phương
    Bệnh đần độn địa phương vẫn còn phổ biến ở
    các vùng sâu, vùng xa thuộc các nước Ấn Độ, Trung
    Quốc,... Bệnh xuất hiện khi lượng cung cấp i-ốt hằng
    ngày dưới 25microgam và ở khoảng 10% số người
    sống trong điều kiện thiếu i-ốt nặng.
    Bệnh đần độn địa phương có 2 thể:
    - Đần độn thể thần kinh:
    - Hội chứng thần kinh nổi trội: Giảm khả năng
    nghe, nói có kèm theo hoặc không kèm theo rối loạn
    thế đứng, dáng đi.
    - Lùn.
    - Thiểu năng trí tuệ.
    27

    - Suy giáp nặng có kèm theo bướu cổ hoặc
    không có bướu cổ.
    - Đần độn thể phù niêm:
    - Có triệu chứng điển hình của suy giáp nặng
    như: chậm chạp, sợ lạnh, mạch chậm, da và niêm
    mạc thâm nhiễm... (xem Bệnh suy giáp).
    3. Suy giáp ở trẻ sơ sinh trong vùng thiếu
    i-ốt nặng
    Suy giáp trẻ sơ sinh ở vùng thiếu i-ốt nặng có tỷ
    lệ khoảng 4 - 10% trẻ (gấp 200-500 lần so với vùng
    không thiếu i-ốt). Sau khi sinh, tình trạng suy giáp
    có thể qua đi, nhưng các di chứng thần kinh vẫn tồn
    tại mãi. Nếu tình trạng suy giáp còn tồn tại tới độ
    tuổi 5 - 7 thì cần xem xét đến sự thiếu hụt i-ốt
    trường diễn hoặc các yếu tố gây bướu cổ khác như
    ăn nhiều sắn, kê, thiếu hụt selenium, v.v..
    Để tránh suy giáp ở trẻ sơ sinh, bắt buộc phải
    cung cấp đủ i-ốt trước khi người mẹ có thai, vì dầu i-ốt
    đưa vào cơ thể mẹ trong 3 tháng đầu của thai kỳ cũng
    không ngăn cản được sự xuất hiện của hội chứng đần
    độn địa phương.
    II. DỰ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN DO
    THIẾU I-ỐT
    Phòng, chống bệnh bướu cổ và đần độn địa
    phương bằng cách bổ sung i-ốt trong chế độ ăn
    28

    hằng ngày được áp dụng rộng rãi từ đầu thế kỷ XX
    chủ yếu bằng muối i-ốt và dầu i-ốt.
    1. Muối i-ốt
    Lượng i-ốt trộn vào muối khác nhau tuỳ thuộc
    mức độ thiếu hụt i-ốt từng vùng, tuỳ theo thói quen
    ăn mặn, nhạt khác nhau nên. Tỷ lệ trộn 30 phần triệu
    (30ppm) sẽ cung cấp lượng i-ốt tối thiểu khoảng
    100microgam/ngày. Ở Việt Nam, hiện nay tỷ lệ trộn
    là 50 phần triệu (50ppm) tức là có 500microgam trong
    10g muối ăn, song i-ốt bị hao hụt tới 20 - 50% trong
    quá trình vận chuyển, chế biến thức ăn nên lượng i-ốt
    thực sự được đưa vào cơ thể chỉ vào khoảng 100200microgam/ngày (theo khuyến cáo của Tổ chức Y
    tế thế giới, mỗi người cần khoảng 150 - 300microgam
    i-ốt/ngày).
    2. Dầu i-ốt
    - Được dùng dưới dạng dầu i-ốt tiêm và dầu iốt uống. Lượng i-ốt trong 1ml dầu là 475 - 540mg
    (475.000 - 540.000microgam).
    Liều lượng: 0,5-1ml cho trẻ em.
    0,5-2ml cho người lớn.
    - Sau khi uống hoặc tiêm, dầu i-ốt sẽ được giải
    phóng dần dần nhưng với tốc độ khác nhau: 6 tháng
    đầu lượng i-ốt phóng thích ra lớn, hiệu lực phòng
    ngừa thiếu hụt i-ốt trong khoảng 2-5 năm.
    3. Các cách bổ sung i-ốt khác
    I-ốt có thể được bổ sung dưới các hình thức như
    29

    cho vào giếng nước ở các làng hoặc cho vào bánh
    mỳ (như ở Hà Lan).
    Lưu ý: Tai biến do i-ốt (Tuyến giáp và thừa i-ốt)
    Sau khi bổ sung i-ốt, nhất là với lượng lớn như
    trong trường hợp dùng dầu i-ốt, một số người có
    biểu hiện cường chức năng tuyến giáp (nóng bức, gầy
    sút, nhịp tim nhanh, run tay...). Sở dĩ có hiện tượng
    này vì hai lý do:
    (1) Ở người thiếu i-ốt lâu ngày trong tuyến
    giáp hình thành những vùng tự quản chức năng
    nhằm tăng cường sản xuất nội tiết tố tuyến giáp
    (khả năng thích nghi với tình trạng thiếu i-ốt). Nay
    được cung cấp đủ i-ốt, các vùng tự quản chức năng
    này có đủ nguyên liệu nên sản xuất dư thừa nội tiết
    tố tuyến giáp dẫn đến tình trạng cường giáp. Hiện
    tượng này thường gặp ở người trên 40 tuổi, bướu
    giáp có nhiều nhân, mật độ không đều. Hiện tượng
    cường giáp này thường tự qua đi sau 6 - 12 tháng
    và không cần điều trị (trừ những trường hợp có
    bệnh tim mạch và các biến chứng liên quan).
    (2) Trong vùng thiếu i-ốt, tuyến giáp của những
    người mắc bệnh Basedow do không đủ i-ốt nên
    không tạo đủ lượng nội tiết tố tuyến giáp gây nên
    triệu chứng cường giáp. Nếu được cung cấp đủ
    lượng i-ốt cần thiết, người bệnh sẽ biểu hiện đầy đủ
    triệu chứng bệnh và khi đó việc điều trị được tiến
    hành như đối với bệnh Basedow thông thường khác.

    30

    BỆNH SUY GIÁP
    1. Định nghĩa
    Tuyến giáp nằm ở cổ trước khí quản (khi to lên
    thường gọi là bệnh bướu cổ), là một tuyến tuy nhỏ
    nhưng đóng vai trò sinh tồn đối với cơ thể.
    Suy giáp là sự thiếu hụt nội tiết tố (hormon)
    tuyến giáp cho các tế bào của cơ thể và thường do
    sản xuất không đủ nội tiết tố. Tuyến giáp có thể to
    hoặc không.
    2. Phân loại, nguyên nhân, dịch tễ học
    a) Phân loại, nguyên nhân
    a1) Suy giáp tiên phát (do tuyến giáp):
    - Căn nguyên miễn dịch: Ví dụ viêm tuyến giáp
    Hashimoto.
    - Sau phẫu thuật cắt tuyến giáp hoặc sau điều trị
    bằng i-ốt phóng xạ (kể cả phóng xạ vùng cổ). Đây là
    căn nguyên rất thường gặp ở Việt Nam do bệnh
    nhân cho rằng sẽ khỏi hoàn toàn bệnh bướu cổ sau
    khi mổ và điều trị phóng xạ.
    - Do sử dụng thuốc: Thuốc kháng giáp trạng tổng
    hợp điều trị bệnh Basedow (PTU, MTU, NeoMercazole,
    Thyrozol, Novacarb, Lithium...); thuốc điều trị loạn
    nhịp tim (Cordarone); thuốc chụp cản quang có i-ốt.
    31

    - Thiếu hụt i-ốt nặng, nhất là ở vùng miền núi.
    - Suy giáp ở trẻ mới sinh: Bẩm sinh hoặc mắc
    phải khi còn trong bụng mẹ.
    a2) Suy giáp thứ phát (do tuyến yên): Suy thuỳ
    trước tuyến yên (trường hợp này hiếm gặp).
    a3) Suy giáp do vùng dưới đồi (rất hiếm gặp).
    a4) Suy giáp dưới lâm sàng (Xem Tuổi già và bệnh
    tuyến giáp).
    b) Dịch tễ học
    Tỷ lệ suy giáp khoảng 2% dân số, trong đó phụ
    nữ chiếm ưu thế tuyệt đối và càng cao tuổi càng có
    khả năng mắc suy giáp. Ở vùng thiếu i-ốt, tỷ lệ suy
    giáp gia tăng hơn vùng đủ i-ốt.
    Suy giáp là bệnh thường gặp và nguy hiểm
    nhưng rất dễ bị bỏ qua vì các triệu chứng ban đầu
    mơ hồ, không đặc hiệu. Để chẩn đoán được bệnh
    cần làm xét nghiệm cho những đối tượng có nguy
    cơ cao 2 hoặc 3 năm/lần. Chi phí chữa bệnh sẽ đỡ
    tốn kém vì chẩn đoán điều trị sớm tránh các biến
    chứng do các bệnh tim mạch và chuyển hoá gây ra.
    3. Triệu chứng
    Bệnh suy giáp có thể phát hiện dễ dàng trong
    trường hợp bệnh diễn biến lâu ngày với các triệu
    chứng điển hình. Song phần lớn bệnh nhân chỉ có các
    triệu chứng mờ nhạt (mệt mỏi, táo bón...) nên thường
    được phát hiện muộn hoặc phát hiện khi làm xét
    nghiệm máu cho những người trong diện có nguy cơ
    cao như người có tiền sử bệnh tuyến giáp, bệnh tuyến
    yên, người thiếu máu, tăng cholesterol, hạ Na+ máu.
    32

    a) Các triệu chứng điển hình:
    - Mệt mỏi, giảm khả năng gắng sức, có khi
    tăng cân.
    - Sợ lạnh, da khô và thô, da tái và lạnh; da vàng sáp
    do ứ đọng caroten nhất là ở lòng bàn tay, bàn chân; dễ
    rụng tóc, rụng lông mày, lông nách, lông mu thưa.
    - Phù niêm toàn thể, da mỡ (trông láng bóng),
    thâm nhiễm mi mắt (nặng mí mắt), thâm nhiễm lưỡi
    (lưỡi to đầy), thâm nhiễm thanh quản (nói khàn,
    khó thở), thâm nhiễm cơ gây giả phì đại cơ.
    - Dễ táo bón.
    - Nhịp tim chậm, tim to, tràn dịch màng tim, cá
    biệt có thể tới 2-3 lít, nếu suy giáp nặng có thể có suy
    tim nhất là khi có thiếu máu đi kèm. Xơ vữa mạch
    vành do rối loạn chuyển hoá mỡ trong suy giáp trạng
    có thể dẫn đến suy vành, song thường không có triệu
    chứng cho đến khi xuất hiện nhồi máu cơ tim.
    - Dị cảm ở tay, chân tăng lên vào ban đêm. Yếu
    cơ, chuột rút, cảm giác co cứng cơ bắp, nhất là cơ
    vùng thắt lưng. Khối cơ có thể teo hoặc ngược lại là
    phì đại. Dáng đi có thể loạng choạng, khó vận động.
    - Khả năng suy nghĩ và vận động chậm chạp,
    nói chậm, trí nhớ giảm.
    - Rối loạn kinh nguyệt: Ít kinh, mất kinh, rong
    kinh, mất khoái cảm tình dục, vô sinh. Đối với nam
    giới thường gặp liệt dương và biến đổi sinh tinh.
    - Tràn dịch đa màng: Màng tim, màng phổi,
    màng bụng, màng khớp. Xét nghiệm dịch chọc dò
    có nhiều cholesterol và mucopolysaccharide.
    b) Ở người có tuổi, các triệu chứng mờ nhạt hơn
    33

    nên dễ được cho là do tuổi tác: biểu hiện thường
    gặp là mệt mỏi, táo bón, sợ lạnh, sa sút trí tuệ, v.v..
    c) Trường hợp suy giáp rất nặng có thể gặp hôn
    mê suy giáp:
    - Hôn mê diễn biến từ từ không có dấu hiệu thần
    kinh khu trú, nhưng cũng có thể xuất hiện cơn động
    kinh. Có bệnh nhân chỉ biểu hiện tình trạng ngủ gà.
    - Hạ thân nhiệt nặng (< 35oC) có thể xuống tới
    24oC, trong trường hợp nhiễm khuẩn, bệnh nhân có
    thể không sốt và không rét run.
    - Hạ đường huyết.
    - Giảm hô hấp gây tăng khí CO2 trong máu. Thở
    chậm, có khi có cơn ngừng thở hoặc thở nhanh do
    nhiễm khuẩn phổi.
    - Nhịp tim chậm, thường tăng huyết áp, hạ
    huyết áp cũng có thể xảy ra.
    - Điện tim: Nhịp xoang chậm, điện thế thấp, kéo
    dài khoảng QT, cũng có thể gặp dấu hiệu thiếu máu
    cơ tim, nhồi máu cơ tim.
    - X - quang: Hình tim to, tràn dịch màng tim,
    tràn dịch màng phổi.
    4. Xét nghiệm và chẩn đoán
    - Nội tiết tố tuyến giáp (FT4, FT3 giảm). Nội tiết
    tố tuyến yên (TSH) kích thích tuyến giáp tăng. Nếu
    TSH bình thường có thể loại trừ suy giáp tiên phát.
    - Thiếu máu gặp 25 - 50% trường hợp. Hồng cầu
    có thể to, nhỏ hoặc bình thường.
    - Tăng cholesterol đơn thuần hoặc kèm tăng
    triglyceride máu.
    34

    Sơ đồ chẩn đoán suy giáp
    Nghi ngờ suy giáp

    Loại trừ suy giáp.
    (Lưu ý suy giáp
    Thấp/hoặc bình thường
    thứ phát)

    TSH cơ sở

    tăng
    Suy giáp tiên phát
    (do tuyến giáp)

    Giảm

    Tiền sử điều trị
    phóng xạ hoặc
    phẫu thuật. Điều trị
    thuốc kháng giáp

    FT4

    Bình thường

    Suy giáp dưới
    lâm sàng

    Suy giáp do
    thầy thuốc



    Không
    Mới có thai gần đây

    Suy giáp sau sinh


    Không
    Kháng thể kháng giáp ?

    Viêm tuyến giáp
    tự miễn không có
    kháng thể

    Bình

    Tăng cao
    Siêu âm tuyến giáp: bướu giáp?

    Viêm giáp Hashimoto

    Không
    Viêm giáp teo

    35

    5. Điều trị
    Tuỳ theo nguyên nhân gây ra suy giáp mà có
    chế độ điều trị thích hợp. Nếu suy giáp tạm thời do
    dùng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp quá liều thì
    cần giảm thuốc; nếu suy giáp do thiếu hụt i-ốt cần
    bổ sung thêm i-ốt; nếu suy giáp do suy thuỳ trước
    tuyến yên cần bổ sung thêm các nội tiết tố khác do
    suy nhiều tuyến cùng lúc; nếu suy tuyến giáp vĩnh
    viễ...
     
    Gửi ý kiến

    “Nếu bạn muốn đạt được bất cứ điều gì trong cuộc sống, bạn phải đọc rất nhiều sách.” – Roald Dahl

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TRUNG HỌC THỰC HÀNH SÀI GÒN !