Viếng Lăng Bác - Bài giảng
Chiến tranh Việt Nam và trò chơi nguy hiểm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:26' 07-04-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:26' 07-04-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
THOMAS A. BASS
ĐIỆP VIÊN YÊU CHÚNG TA. CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ TRÒ
CHƠI NGUY HIỂM CỦA PHẠM XUÂN ẨN
ĐỖ TUẤN KIỆT dịch
BÙI XUÂN BÁCH bổ sung và hiệu đính
https://thuviensach.vn
“Đây là câu chuyện xuất sắc về một con người và thời đại của
ông. Nó càng củng cố thêm cho cảm giác của tôi khi gặp ông trong
giai đoạn cuối đời của ông rằng Phạm Xuân Ẩn là một trong những
người ấn tượng nhất mà tôi từng gặp. Ông là con người của trí tuệ,
lòng can đảm và tình yêu đất nước nồng nàn. Ông cũng là - mặc dù
có vẻ thật trớ trêu khi nói ra điều này trong hoàn cảnh hiện nay một con người của sự chính trực phi thường. Ông yêu chúng ta ở
khía cạnh tốt đẹp nhất trong khi lại đối đầu với chúng ta ở khía cạnh
tồi tệ nhất.”
- Daniel Ellsberg, tác giả của Secrets: A Memoir of Vietnam and the
Pentagon Papers (Những bí mật: hồi ức về Việt Nam và tài liệu mật
của Lầu Năm Góc)
“Thomas Bass kể một câu chuyện tuyệt vời về mưu mô[1], nghề
gián điệp và tình bạn. Cuốn sách của ông được viết như thể nó đến
từ những bến bờ xa xôi nhất của sự hư cấu, và hẳn tôi sẽ không bao
giờ tin nổi lấy một từ nào nếu như chính tôi không gặp rất nhiều
nhân vật trong đó và không biết câu chuyện để tin rằng nó có thực
và không biết câu chuyện đó có thực hay không.”
- H. D. S. Greenway, biên tập viên, The Boston Globe, và là phóng
viên chiến tranh Việt Nam cho tạp chí Time và báo Washington Post
“Mỗi cựu binh, mỗi học giả, mỗi sinh viên, bất kỳ ai từng sống
qua cuộc chiến tranh Việt Nam đều được khuyên đọc cuốn sách này
và suy ngẫm về thông điệp của nó. Trong cuốn tiểu sử rất sâu sắc và
kích thích này về một trong những điệp viên thành công nhất trong
lịch sử, Thomas Bass thách thức một vài giả định cơ bản nhất của
chúng ta về những gì đã thực sự xảy ra ở Việt Nam và về ý nghĩa
của nó đối với chúng ta trong hiện tại.”
- John Laurence, phóng viên chiến tranh Việt Nam cho CBS News
và là tác giả cuốn The Cat from Huế: A Vietnam War Story (Con mèo
Huế: một câu chuyện chiến tranh Việt Nam).
*
https://thuviensach.vn
Gã cảm thấy mình đang vĩnh viễn quay lưng lại với sự thanh
thản. Mắt mở to, ý thức rõ hậu quả, gã đi vào lãnh địa của sự dối trá
không mang theo tấm hộ chiếu cho ngày quay trở lại.
GRAHAM GREENE
Cốt lõi của vấn đề (The Heart of Matter)
https://thuviensach.vn
Mục lục
Lời nói đầu
Đôi lời cảnh báo về điệp viên Z.21
Cuộc thử lửa đầu tiên
Công việc của bầy chó săn
Ghép não
Những chuyến đi ở nước Mỹ
Trò lợi dụng lòng tin
Những nguồn tin đáng tin cậy
Tết
Một đất nước do Salvador Dali tạo ra
Một thế giới tươi sáng hơn
Ghi nhận
Chú thích
Chú thích
https://thuviensach.vn
Lời nói đầu
“Nước Mỹ chỉ giỏi tiến hành những cuộc thập tự chinh,” tướng
David Petraeus viết trong luận án tiến sĩ của mình về đề tài “Quân
đội Mỹ và những bài học từ chiến tranh Việt Nam”. Được đưa ra
bảo vệ tại Đại học Princeton năm 1987, luận án của Petraeus công
kích những gì đã trở thành quan niệm được giới nhà binh chấp nhận
một cách rộng rãi về những bài học từ Việt Nam. Ông coi đây là một
“lối suy nghĩ kiểu được ăn cả ngã về không”, mà chung quy là xuất
phát từ học thuyết cho rằng nước Mỹ chỉ nên tiến hành những cuộc
chiến tranh thông thường với sự ủng hộ áp đảo của một công chúng
mang tinh thần thập tự chinh. Petraeus bác bỏ quan điểm “làm ăn
như lối suy nghĩ bình thường” này. Thay vào đó, ông lập luận rằng
nước Mỹ có nhiều khả năng là thấy mình sa vào những cuộc chiến
tranh phi chính quy khác, đôi khi phải chống trả hai, ba, hay nhiều
trận chiến kiểu Việt Nam. Sau này Petraeus tiếp tục biên soạn cẩm
nang tác chiến cho lục quân về chống nổi dậy được ban hành ấn
hành năm 2006. Năm sau, được trao cơ hội tiến hành công tác thực
địa về chuyên ngành học thuật của mình, ông được bổ nhiệm vào vị
trí tư lệnh lực lượng Mỹ tại Iraq.
Chiến tranh không chỉ là những cuộc thập tự chinh; chúng còn là
những cuộc dan díu của con tim. Chiến tranh được phát động vì
tình yêu, điều này thì chúng ta đã biết từ thời nàng Helen của thành
Troy[2] khiến cho cả nghìn chiến thuyền chở đầy những chàng trai
mê mẩn sẵn sàng chết vì nàng xung trận. Nhà văn hài hước người
Mỹ P. J. O'Rourke đã nhận ra chân lý này trong một bài tiểu luận
ông viết về Việt Nam năm 1992. “Ở Huế, cứ chiều đến, những nữ
sinh trung học trở về nhà sau khi tan học, từng đoàn nữ sinh đạp xe
trên con phố, tất cả đều tha thướt trong những tà áo dài trắng tinh,
một kiểu trang phục gồm áo dài may ôm sát người mặc trùm lên
quần rộng. Không phải vô cớ mà những nhà thờ Công giáo còn lại
https://thuviensach.vn
gióng lên hồi chuông cầu kinh Đức Bà vào thời điểm này trong
ngày. Tôi không hiểu ở một nơi mà cái đẹp đã trở nên quá đỗi bình
dị như thế có thể thay đổi được bản chất của một xã hội hay không.”
Sau khi trầm trồ trước “tỷ lệ khổng lồ những mỹ nhân ngư và
giai nhân tuyệt sắc” ở cái đất nước Địa đàng này, O'Rourke viết:
“Giờ thì tôi hiểu tại sao chúng ta lại can dự vào Việt Nam. Chúng ta
đã phải lòng… [Chúng ta] đã ngây ngất bởi nơi này. Tất cả mọi
người, từ những cố vấn đầu tiên mà Ike3 gửi tới đây năm 1955 cho
đến Henry Kissinger ở bàn đàm phán hòa bình Paris, thảy đều mê
mệt đến phát cuồng vì Việt Nam. Nó làm tan vỡ trái tim họ. Họ cứ
tiếp tục đến thăm và gửi hoa mãi không thôi. Họ không thể tin nổi
rằng đây là lần chia tay cuối cùng.”
Trước khi bắt đầu câu chuyện của mình về Việt Nam và nước Mỹ
(với đôi nét điểm qua về nước Pháp và những khu vực khác trên thế
giới), tôi xin phép được nói rằng cuốn sách này nói về chiến tranh và
tình yêu, về những bài học Việt Nam, tác chiến chống nổi dậy và
những cuộc xung đột khác bị gọi là phi chính quy. Nó cũng nói về
những điệp viên và phóng viên cùng sự lẫn lộn giữa hai nghề này.
Một số người sẽ cho rằng các phóng viên góp phần làm cuộc chiến
(của chúng ta) tại Việt Nam thất bại. Trong trường hợp này, tôi xin
khẳng định rằng có một phóng viên đã góp phần mang đến chiến
thắng trong cuộc chiến - cho phía người Việt. Cuốn sách phiền
muộn này nói về thông tin và hỏa mù cùng sự mơ hồ không thể
tránh khỏi trong việc xác định ranh giới nơi hai yếu tố này hòa nhập
vào nhau. Cuốn sách không đưa ra thêm chân lý nào có thể được
đúc rút thành những bài học mới về chiến tranh Việt Nam. Nó nói
về cuộc sống đơn giản của một con người phức tạp. Sự thật nằm
trong các chi tiết. Chúng ta hãy bắt đầu.
https://thuviensach.vn
Đôi lời cảnh báo về điệp viên Z.21
“Đây, Phạm Xuân Ẩn đây,” người phóng viên cuối cùng của tờ
Time (Thời đại) tại Việt Nam đánh điện về tòa soạn tạp chí ở New
York ngày 30 tháng 4 năm 1975. “Tất cả các phóng viên người Mỹ
đều đã di tản do tình hình khẩn cấp. Văn phòng của Time giờ do
mình tôi, Phạm Xuân Ẩn điều hành.” Phạm Xuân Ẩn gửi đi thêm ba
bản báo cáo khác nữa từ Sài Gòn trong khi quân đội Bắc Việt Nam
đang tiến sát đến thành phố. Rồi đường dây bị đứt hẳn. Trong một
năm sau đó, với Phạm Xuân Ẩn đóng vai trò là phóng viên duy nhất
của tờ Time tại Việt Nam thời hậu chiến, tạp chí này đăng những bài
viết về “Lời vĩnh biệt tàn nhẫn”, “Phe thắng: Những người làm nên
chiến thắng”, và “Một tuần thanh bình dưới chế độ cộng sản”. Phạm
Xuân Ẩn là một trong số 39 phóng viên người nước ngoài làm việc
cho tờ Time khi văn phòng tại Sài Gòn đóng cửa và tên ông biến mất
khỏi măng sét báo này ngày 10 tháng 5 năm 1976.
Được biết đến như là một nhà phân tích chính trị sắc sảo, khởi
đầu làm việc cho hãng Reuters trong những năm 1960 và sau đó là
cho tờ New York Herald Tribune (Diễn đàn thông tin New York) và
Christian Science Monitor (Người theo dõi khoa học Kitô giáo), rồi,
cuối cùng, là một phóng viên của tờ Time trong 11
năm, dường như công việc xuất sắc nhất của Phạm Xuân Ẩn là
trao đổi chuyện trò với những đồng nghiệp ở Givral, một tiệm cà
phê trên đường Catinat cũ. Chiều nào ông cũng chủ trì tin vỉa hè tại
đây như là nguồn tin tốt nhất ở Sài Gòn. Ông được gọi là “trưởng
đoàn báo chí Việt Nam” và “tiếng nói của đài Catinat” - lò tin đồn.
Với khiếu hài hước tự trào sẵn có, ông thích gọi mình bằng những
tên khác, ví dụ như “docteur de sexologie” (tiến sĩ tình dục học),
“professeur coup d'état” (giáo sư đảo chính), “tư lệnh huấn luyện quân
khuyển” (ngụ ý đến con chó béc giê Đức lúc nào cũng kè kè bên
https://thuviensach.vn
ông), “tiến sĩ chuyên về cách mạng”, hoặc đơn giản chỉ là ông tướng
Givral.
Giờ đây chúng ta biết đó mới chỉ là một nửa công việc Phạm
Xuân Ẩn đã làm trên cương vị một nhà báo, mà lại không phải là
nửa chính. Phạm Xuân Ẩn đều đặn gửi cho chính phủ cộng sản ở
Hà Nội những tài liệu quân sự mật và những bức điện viết bằng
mực vô hình, nhưng, không còn nghi ngờ gì nữa, chính những báo
cáo được đánh máy của ông, hiện đang được khóa kỹ trong kho lưu
trữ của tình báo Việt Nam tại Hà Nội, mới được coi là chef d'oeuvre
(kiệt tác) của ông. Phạm Xuân Ẩn đã viết 498 báo cáo tin tình báo
(con số chính thức được chính phủ Việt Nam công bố năm 2007),
trung bình mỗi tháng một báo cáo, trong suốt sự nghiệp 55 năm của
ông trên cương vị một điệp viên tình báo.
Sử dụng một chiếc máy đánh chữ Hermes được cơ quan tình báo
Bắc Việt Nam mua riêng cho mình, Phạm Xuân Ẩn viết những báo
cáo tin tình báo, có bản dài cả trăm trang, vào ban đêm. Được chụp
lại và chuyển đi dưới dạng những cuốn phim chưa rửa, thông tin
của Phạm Xuân Ẩn được liên lạc viên đưa ra mạng lưới địa đạo Củ
Chi, nơi được dùng làm cơ quan đầu não bí mật của những người
cộng sản. Cứ vài tuần một lần, bắt đầu từ năm 1952, Phạm Xuân Ẩn
lại rời khỏi văn phòng của mình ở Sài Gòn, đi khoảng 20 dặm theo
hướng Tây Bắc về phía rừng Hố Bò, rồi chui xuống địa đạo để hoạch
định chiến lược cộng sản. Từ Củ Chi, những báo cáo của Phạm
Xuân Ẩn được khẩn trương chuyển đi dưới sự bảo vệ đặc biệt tới
núi Bà Đen, sát tận biên giới Campuchia, rồi được đưa bằng xe hơi
đến Phnom Penh, bằng máy bay tới Quảng Châu ở miền Nam
Trung Quốc, và rồi được trình ngay cho Bộ Chính trị tại Hà Nội. Tin
tức của Phạm Xuân Ẩn sống động và chi tiết đến nỗi người ta kể
rằng Tướng Giáp và Hồ Chí Minh đã phải xoa tay sung sướng khi
nhận được những báo cáo này từ Trần Văn Trung - bí danh của
Phạm Xuân Ẩn. “Chúng ta đang ở trong phòng tác chiến của Hoa
https://thuviensach.vn
Kỳ!” họ thốt lên, theo lời vài thành viên trong Bộ Chính trị Việt
Nam.
Khi Sài Gòn rơi vào tay những người cộng sản, Phạm Xuân Ẩn hy
vọng sẽ được di tản sang Mỹ. Không phải vì ông lo sợ sự trả thù của
cộng sản, như mọi người vẫn tưởng, mà bởi vì tình báo Việt Nam có
kế hoạch để ông tiếp tục hoạt động tại Mỹ. Họ biết sẽ có một cuộc
chiến hậu chiến, một giai đoạn ác liệt của những thủ đoạn chính trị,
trong đó Mỹ có thể sẽ tiến hành những hoạt động quân sự ngấm
ngầm và áp đặt lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam. Còn ai
có thể báo cáo về những ý đồ của Mỹ tốt hơn Phạm Xuân Ẩn? Trong
những ngày cuối cùng của cuộc chiến, vợ ông cùng bốn đứa con của
họ được đưa bằng máy bay ra khỏi Việt Nam và bố trí ở tại
Washington, D.C. Ông Ẩn đang nóng lòng chờ đợi chỉ thị đi theo họ
thì nhận được lệnh từ Bộ Chính trị miền Bắc là ông sẽ không được
phép rời khỏi đất nước.
Phạm Xuân Ẩn được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân, được thưởng hơn chục huân huy chương quân
sự, và được thăng lên quân hàm thiếu tướng. Ông cũng được gửi
đến nơi mà thỉnh thoảng ông gọi đùa là một “trại cải tạo”[3] và bị
cấm tiếp xúc với khách phương Tây. Vợ và các con ông được đưa
trở lại Việt Nam một năm sau ngày họ ra đi. Vấn đề đối với Phạm
Xuân Ẩn, theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, là ở chỗ
ông yêu nước Mỹ và người Mỹ, những giá trị dân chủ, và tính khách
quan trong nghề báo. Ông coi nước Mỹ là một kẻ thù ngẫu nhiên,
những người Mỹ sẽ quay trở lại thành bạn bè một khi dân tộc của
ông giành được độc lập. Phạm Xuân Ẩn là Người Việt Nam trầm
lặng, người đứng giữa, nhân vật đại diện, vừa suốt đời là một chiến
sĩ cách mạng vừa là một người nhiệt thành ngưỡng mộ nước Mỹ.
Ông khẳng định rằng chưa bao giờ nói dối bất kỳ ai, rằng những
phân tích chính trị mà ông gửi cho tờ Time cũng giống hệt những gì
ông gửi cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông là một con người bị phân
https://thuviensach.vn
thân bởi tính chính trực tối cao, một con người sống trong dối trá
nhưng luôn nói sự thật.
“Câu chuyện của Phạm Xuân Ẩn làm tôi nghĩ ngay đến những gì
được lấy ra từ Graham Greene,” David Halberstam, người từng kết
bạn với Phạm Xuân Ẩn khi còn làm phóng viên của New York Times
(Thời báo New York) ở Việt Nam, nói. “Nó liên hệ đến tất cả những
câu hỏi cơ bản nhất. Trung thành là gì? Yêu nước là gì? Sự thật là gì?
Anh là ai khi anh nói ra những sự thật đó? Ở Phạm Xuân Ẩn có một
sự lưỡng phân tình cảm mà chúng ta gần như không thể hình dung
nổi. Khi nhìn lại, tôi nhận ra ông là một con người bị xẻ làm đôi ở
chính giữa.”
Trong cuốn sách năm 1965 viết về Việt Nam, The Making of a
Quagmire (Sa lầy), tác giả Halberstam, với sự châm biếm hoàn toàn
không có chủ ý, miêu tả Phạm Xuân Ẩn là cái đinh chốt của một
“mạng lưới tình báo nhỏ nhưng hạng nhất” gồm các nhà báo và nhà
văn. Phạm Xuân Ẩn, ông viết, “có những mối quan hệ với giới quân
sự tốt nhất trong nước ”. Sau khi Halberstam đã biết về câu chuyện
của Phạm Xuân Ẩn, ông có cảm thấy chút thù hận nào không?
“Không,” ông nói với tôi, khi tôi gọi cho ông để trao đổi về cuộc
sống hai mặt của Phạm Xuân Ẩn trong chiến tranh. “Đó là một câu
chuyện đầy rẫy những mưu mẹo, khói mờ và những tấm gương,
nhưng tôi vẫn nghĩ về Phạm Xuân Ẩn một cách thiện cảm. Khi ông
nhắc đến tên ông ấy, một nụ cười đã hiện lên trên mặt tôi. Tôi chưa
bao giờ cảm thấy bị Phạm Xuân Ẩn phản bội. Ông ấy buộc phải
thích ứng với việc là một người Việt Nam ở giai đoạn đau thương
đó trong lịch sử của dân tộc mình, khi lan tràn khắp nơi chẳng có
gì khác ngoài sự phản bội .”
Năm 2005, tôi cho đăng một bài viết về Phạm Xuân Ẩn trên tờ The
New Yorker . Ngay sau khi bài báo được đăng, tôi ký hợp đồng phát
triển bài viết này thành một cuốn sách. Cái mà tôi tưởng sẽ là một
công việc dễ dàng cuối cùng lại trở nên khó khăn khi tôi bị sa thêm
vào nhiều mưu mẹo, khói mờ và những tấm gương. Tôi bắt đầu ngờ
https://thuviensach.vn
rằng chính mình đã rơi vào đúng chiếc bẫy giống như những đồng
nghiệp cũ của Phạm Xuân Ẩn trước kia. Họ đã đánh đổi sự mù tịt
lấy sự mù tịt có chủ tâm và cuối cùng vẫn bị hút hồn bởi khuôn mặt
mỉm cười của Phạm Xuân Ẩn. Liệu ông có phải là một “con người bị
phân thân” như Halberstam khẳng định, hay ông là một “con người
cách mạng”, như người Việt Nam thường nói, với tất cả những cái
khác chỉ là vỏ bọc? Ông có phải là một người ngẫu nhiên thành cộng
sản hay là một đơn giản là một người cộng sản, người làm công việc
của mình đến tận ngày qua đời?
Khi đào xới sâu hơn vào công việc này, tôi nhận thấy rằng Phạm
Xuân Ẩn, dù tự cho mình là một nhà phân tích chiến lược, người chỉ
quan sát cuộc chiến từ bên lề, thực sự là một nhà chiến thuật bậc
thầy liên quan đến nhiều trận đánh chủ chốt của cuộc chiến. Ông là
một người lính được tặng thưởng nhiều huân chương, nhân vật
trung tâm trong một chuỗi dài những diễn biến quân sự làm nên
chiến thắng của những người cộng sản và thất bại của nước Mỹ.
Phạm Xuân Ẩn không chỉ được tặng thưởng 4 huân huy chương như tôi đã viết trên tờ The New Yorker - mà là tới 16 . Mà đó không
phải là những phần thưởng mang tính lễ nghi . Trừ hai cái, còn lại
tất cả đều là huân chương Quân công và Chiến công, được tặng
thưởng vì chiến đấu anh dũng trong hai cuộc chiến tranh của Việt
Nam chống Pháp và chống Mỹ.
Ngay từ cuộc gặp đầu tiên của chúng tôi năm 1992, Phạm Xuân
Ẩn đã đánh lạc hướng tôi khỏi con đường nhằm tìm ra sự thật rằng
ông đã làm gì trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và
thứ hai, và những gì ông tiếp tục làm trên cương vị “cố vấn” cho
ngành tình báo Việt Nam cho đến khi qua đời ngày 20 tháng 9 năm
2006. Ông che giấu những sự thật này đối với người ngoài, bằng cử
chỉ khoa tay khéo léo và khiếu hài hước quyến rũ đã làm ông trở
nên nổi tiếng. Khi những câu hỏi của tôi trở nên quá thẳng thừng,
ông chuyển từ giúp đỡ công trình viết sách của tôi sang ngăn chặn
nó. Cấp trên của ông trong ngành tình báo quốc phòng đã cho phép
https://thuviensach.vn
ông nói chuyện với tôi trong khuôn khổ một bài tạp chí. Ông vốn có
cảm tình với tờ The New Yorker kể từ những ngày ông còn là phụ tá
cho Robert Shaplen, phóng viên thường trú khu vực Viễn Đông của
tạp chí này. Chắc hẳn Phạm Xuân Ẩn đã nói với cấp trên của ông
rằng: “Chỉ là một bài tạp chí thôi mà. Tôi sẽ lèo lái câu chuyện, có
thể là đi xa hơn một chút so với mọi khi, nhưng sẽ không để lộ bất
kỳ điều gì chúng ta không muốn tiết lộ.” Họ đã cho phép ông thực
hiện nhiệm vụ này, vốn được cho là có quy mô hạn chế, nhưng dứt
khoát họ không cho phép ông làm việc với tôi trong khuôn khổ một
cuốn sách. Ngay sau khi bài viết được đăng, Phạm Xuân Ẩn chấm
dứt những cuộc gặp của chúng tôi và vội vã sắp xếp cho một cuốn
tiểu sử “chính thức” khác sẽ được viết, một quyển tiểu sử có mục
đích giữ an toàn cho vỏ bọc của ông.
Phạm Xuân Ẩn là một người có tài nói chuyện đặc biệt cuốn hút.
Phương pháp xuyên suốt cuộc đời ông là ngụy trang những hoạt
động của mình thông qua nói chuyện. Làm sao một người mồm
mép và cởi mở như vậy về cuộc sống của mình lại có thể là điệp
viên? Làm sao một người hài hước và chua cay đến thế trong những
nhận xét của mình về sự ngu ngốc của con người lại có thể là một
người cộng sản? Phương pháp này phát huy hiệu quả đến nỗi nó
thấm sâu vào trong tính cách của ông. Không có cách nào để bắt ông
ngừng nói. Phạm Xuân Ẩn cứ nói mãi nói mãi không thôi, rồi cuối
cùng, chỉ cho một bài báo đăng tạp chí, mà chúng tôi đã ghi âm đến
60 giờ băng phỏng vấn. Ngoài ra còn rất nhiều giờ trò chuyện nữa
được ghi lại bằng văn bản về những cuộc gặp của chúng tôi. Khi
nghe lại những cuốn băng và đọc lại những ghi chép của mình,
những biến tấu khác nhau trong câu chuyện của Phạm Xuân Ẩn bắt
đầu khiến tôi thấy tò mò. Ví dụ, chỉ có đúng một lần trong số hơn
chục lần kể về “khóa học cấp tốc” mà ông được huấn luyện làm một
chiến sĩ Việt Minh, Phạm Xuân Ẩn mới tiết lộ rằng sau này ông có
chỉ huy một trung đội, đơn vị này ít nhất có một lần đã nổ súng vào
https://thuviensach.vn
lính Pháp. Đây không phải là công việc của một nhà phân tích chiến
lược mà là hành động của một chỉ huy du kích.
Tôi rất tiếc khi phải thông báo rằng cuốn sách này cũng được
hưởng lợi từ sự qua đời của Phạm Xuân Ẩn. Sự kiểm soát mà ông
thực hiện đối với câu chuyện về cuộc đời mình kết thúc vào mùa
thu năm 2006. Những nguồn tin tình báo, cả ở miền Bắc và miền
Nam Việt Nam, bắt đầu tiết lộ những thông tin được giấu kín trước
đó. Những thông tin này gồm cả các chi tiết về sự liên quan của
Phạm Xuân Ẩn vào một số trận đánh và chiến dịch then chốt trong
cuộc chiến. Ví dụ, chúng ta được biết rằng, ông được tặng thưởng
một Huân chương Chiến công hạng nhất vì đã cung cấp thông tin
cảnh báo sớm về kế hoạch Mỹ xâm lược Campuchia tháng 4 năm
1970. Thông tin sớm này cho phép lực lượng cộng sản, đặc biệt là bộ
máy chỉ huy quân sự, rút lui kịp thời về phía Tây. Một Huân
chương Chiến công hạng nhất khác được tặng thưởng cho ông vì đã
phát hiện kế hoạch xâm lược Nam Lào tháng 2 năm 1971 của quân
đội Nam Việt Nam[4]. Ở đây, chính sự tham gia về mặt chiến thuật
của Phạm Xuân Ẩn đã dẫn đến thất bại quân sự thê thảm của Quân
lực Việt Nam Cộng hòa.
Những thông tin được tiết lộ sau khi Phạm Xuân Ẩn qua đời
khẳng định rằng ông tham gia vào các hoạt động tình báo quân sự
với quy mô đáng ngạc nhiên. Một số thông tin mới được công bố
một cách ngẫu nhiên, một số là có chủ ý. Dù thế nào đi nữa, tôi bắt
đầu nhận được đều đặn cơ man nào là những báo cáo, ghi chép,
hình ảnh và các loại tài liệu khác về một con người mà 17 năm sau
lần đầu tiên tôi gặp ông, vẫn tiếp tục gây bất ngờ. Vỏ bọc của Phạm
Xuân Ẩn sẽ chỉ bộc lộ hoàn toàn khi người ta có cơ hội đọc được
toàn bộ oeuvre (tác phẩm) của ông - những báo cáo tin tình báo mà
ông gửi cho Hồ Chí Minh và Tướng Giáp khiến họ phải vỗ tay sung
sướng và trầm trồ thán phục trước sự sinh động và ngòi bút kể
chuyện hấp dẫn của một Tolstoy trong hàng ngũ của mình, mà họ
biết đến qua bí số Z.21.
https://thuviensach.vn
Trong những cuộc gặp của chúng tôi suốt nhiều năm, Phạm Xuân
Ẩn biết là ông đang nói chuyện với tôi vượt quá xa những gì cần
thiết cho một bài tạp chí, ngay cả với một câu chuyện phóng sự
được viết một cách thoải mái từng có lần được dành cho Robert
Shaplen. Nhưng Phạm Xuân Ẩn có vỏ bọc của mình, và tôi có vỏ
bọc của tôi, ít nhất thì cho đến khi bài báo trên The New Yorker được
đăng. Sau đó thì không ai trong chúng tôi có thể giả vờ rằng chúng
tôi đang nói chuyện với nhau vì một thứ gì đó khác chứ không phải
là một cuốn sách, công việc mà Phạm Xuân Ẩn không được phép
làm. Khi tôi đến thăm ông lần cuối, vào tháng 1 năm 2006, chúng tôi
đang chuẩn bị cho cái mà tôi nghĩ sẽ là một đêm trò chuyện dài, sự
pha trộn thông thường giữa những câu chuyện và những lời đùa
cợt, thì ông cho tôi biết đây sẽ là lần gặp nhau cuối cùng của chúng
tôi. Không thể có chuyện đảo ngược lại quyết định này của ông.
Chúng tôi sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa.
Đến thời điểm này thì tôi biết là Phạm Xuân Ẩn đang làm việc
với một nhà viết tiểu sử “chính thức” khác. “Có gì khác nhau giữa
cuốn sách của tôi với cuốn sách kia?” tôi hỏi. “Cuốn sách của ông
đang được viết từ bên trong Việt Nam,” ông nói, ám chỉ rằng tôi đã
tiếp cận với những thông tin nhạy cảm lẽ ra không được tiết lộ. Tôi
coi đây là một lời khen ngợi đối với những trợ lý nghiên cứu người
Việt Nam của mình, công việc đi lại và sự bền bỉ của họ nhiều lúc
cũng xuất sắc không kém gì Phạm Xuân Ẩn trong những ngày ông
còn là phóng viên làm việc chăm chỉ nhất tại Việt Nam.
Tôi thấy bị tổn thương trước quyết định của Phạm Xuân Ẩn về
việc không gặp tôi nữa, và tôi rất tự ái với thông tin này, cho đến khi
tôi biết rằng ông đang hành động theo lệnh của cấp trên. Câu
chuyện của ông phải được thêu dệt như Halberstam đã kể. Trong
phiên bản này về cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn, được tạo ra cho độc
giả phương Tây, ông là một người dân tộc chủ nghĩa, ngẫu nhiên bị
kẹt vào lịch sử của đất nước mình, một nhà phân tích chiến lược,
người đã nhìn xuống cuộc chiến tranh từ đỉnh cao Olympus của tờ
https://thuviensach.vn
Time. Còn trong cuốn sách này lại là một chân dung hoàn toàn khác,
một nhà chiến thuật bậc thầy và là một chiến sĩ trung kiên vì lý
tưởng cộng sản. Tôi đã viết cuốn tiểu sử không được phép về một điệp
viên. Mặc dù Phạm Xuân Ẩn ngừng hỗ trợ công trình này - cùng với
một số người bạn Mỹ, những người cho rằng họ làm như thế là vì
lợi ích của ông - tôi vẫn kiên trì nghĩ rằng nếu như cuốn sách này có
nói điều gì đó chính xác về Việt Nam và những cuộc chiến tranh dai
dẳng của đất nước này hoặc bản chất của chiến tranh nói chung,
chắc hẳn Phạm Xuân Ẩn sẽ ngậm cười về điều đó.
Đã một số lần tôi gần như từ bỏ công trình này, và ngay cả khi
cuốn sách được đưa đi xuất bản, những câu hỏi cơ bản vẫn còn
nguyên ở đó - những câu hỏi. Nếu như tôi đang nói chuyện với
Phạm Xuân Ẩn về thế tiến thoái lưỡng nan này, như tôi vẫn thường
làm, có thể ông đã bật ra một câu chuyện đùa hoặc lại say sưa nói về
một giai thoại trong lịch sử Việt Nam, hoặc gợi ý tôi đọc một cuốn
sách, ví dụ như cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Khải viết năm
1983 về cuộc đời Phạm Xuân Ẩn, Thời gian của người. Ở Việt Nam,
những cuộc trò chuyện cứ tiếp diễn như vậy. Lòng vòng và miên
man, trước khi chuyển, hầu như không thể nhận ra, thành những
câu chuyện ngụ ngôn vừa giải trí vừa giáo huấn.
Tôi đã kể câu chuyện này theo phong cách Việt Nam, lập lờ về
quan điểm và về thời gian tính. Phạm Xuân Ẩn đã qua đời. Ông bị
gắn chặt vào một chiếc máy thở suốt nhiều tuần liền trước khi hai lá
phổi của ông ngừng hoạt động mãi mãi vào mùa thu năm 2006, kết
thúc tất cả ngần ấy năm trò chuyện. David Halberstam cũng đã qua
đời. Ông dành cả cuộc đời viết về những cuộc chiến tranh ở châu
Phi và châu Á trước khi chết trên ghế hành khách của chiếc xe hơi
gặp tai nạn ở một giao lộ tại Menlo Park, bang California, năm 2007.
Chừng nào tôi còn nghe thấy họ, tôi vẫn sẽ giữ giọng nói của họ ở
thì hiện tại. Mặc dù vậy, cũng cần cảnh báo cho người đọc. Không
có câu chuyện đích thực duy nhất về cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn,
vì cuộc đời ông chứa đựng những sự thật đa tầng. Thậm chí cả cái
https://thuviensach.vn
tên của ông cũng là một lời cảnh báo. Ẩn trong tiếng Việt có nghĩa là
“che giấu” hoặc “bí ẩn”.
Trong suốt 20 năm chiến tranh với người Việt Nam, nước Mỹ
chưa bao giờ hiểu được con người hay văn hóa của đất nước này.
Nam Việt Nam được làm lại theo hình ảnh của nước Mỹ. Terra
incognita đi trước terra nova[5]. Nước Mỹ đã phải trả giá đắt cho sự
xem thường đối thủ của mình. Chúng ta đã thua trận, với 58.000
binh sĩ thiệt mạng, và hàng trăm nghìn người bị thương, và mất
luôn cả sự ngây thơ về sức mạnh quân sự vô địch của mình.
Kẻ thù của nước Mỹ không mắc phải những sai lầm như vậy.
Người Việt Nam nghiên cứu kỹ đối thủ của mình. Họ xây dựng một
điệp viên có thể suy nghĩ như một người Mỹ, người có thể thâm
nhập vào lối tư duy kiểu Mỹ để học những giá trị và niềm tin của
đất nước này. Người Việt Nam cần một điệp viên trong doanh trại
của kẻ thù, nhưng không phải là một điệp viên bình thường, kiểu
tên trộm chui cửa sổ tầng thượng ém mình trong nhà. Họ cần một
điệp viên chiến lược, một điệp viên thi sĩ, một điệp viên yêu quý
người Mỹ và cũng được họ yêu quý đáp lại. Sau khi giành được
niềm tin của họ, người điệp viên đó sẽ cạy chiếc khóa quý giá nhất
trong chiến lược quân sự - chiếc khóa dẫn đến giấc mơ và tham
vọng của họ, những huyền thoại của họ về bản thân, và vai trò của
họ trên thế giới.
Để thực hiện sứ mệnh này, người Việt Nam đặt niềm tin vào một
người, người đó sẽ trở thành điệp viên quan trọng nhất và cũng là
một trong những vũ khí quân sự hiệu quả nhất của họ. Như một bài
học về chiến tranh và như một cách để hiểu người Việt Nam, không
có lăng kính nào tốt hơn cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn. Thay vì được
gọi là “người điệp viên yêu chúng ta ”, ông hoàn toàn có thể được
gọi - như một trong những biên tập viên của tôi đã gợi ý - là “người
đàn ông nguy hiểm nhất ở Việt Nam”. Khi đọc cuốn sách này, tôi
khuyên người đọc sử dụng cả hai lăng kính hoặc, tốt hơn cả, gắn
mỗi chiếc vào một mắt.
https://thuviensach.vn
Cuộc thử lửa đầu tiên
Thành phố Hồ Chí Minh - hay Sài Gòn, như cách gọi vẫn còn phổ
biến hiện nay - là một nơi người ta chuyên tâm làm ăn buôn bán.
Đông chật những xe đẩy và gánh hàng rong bán đủ mọi thứ từ phở
hay bún riêu đến đĩa CD, đường phố là những dòng sông sôi sục các
loại xe máy hai thì. Khói xả ra đặc quánh đến nỗi những người phụ
nữ xinh đẹp nổi tiếng của Sài Gòn đã bắt đầu phải lấy khăn che mặt.
“Giờ thì tất cả chúng tôi là người Hồi giáo hết,” Việt, người lái xe
ôm nói. Anh là người đưa tôi đi khắp thành phố trên chiếc xe gắn
máy của mình.
Đến nhà Phạm Xuân Ẩn - một căn biệt thự ở quận 3, trong khu
dân cư đông đúc gần nhà ga xe lửa - chúng tôi đi qua một ngã tư
đầy những cửa hàng sửa chữa xe máy và đến một con phố chuyên
bán các loại cá nhiệt đới, gồm cả giống cá chọi Xiêm mà Phạm Xuân
Ẩn rất mê. Tôi giật chiếc chuông treo lủng lẳng trên cánh cổng sơn
màu xanh nhà ông. Trong khi lũ chó bắt đầu sủa nhặng lên, tôi
nhòm qua tấm lưới sắt thấy Phạm Xuân Ẩn đang loẹt xoẹt bước ra
trên lối đi vào cái ngày nắng ấm đó của tháng Giêng năm 2004.
Dáng người gầy guộc, ông mặc một chiếc áo sơ mi trắng ngắn tay
cài cây bút bi nơi túi ngực, chiếc quần màu xám bay phần phật
quanh hai chân, và đi đôi dép cao su. Ra đến nơi ông thở hổn hển
không ra hơi nhưng vẫn mỉm cười và chào tôi với một cái bắt tay
bằng những đầu ngón tay của mình. Vừa mới phải nhập viện vì suy
phổi, hậu quả của việc cả đời hút thuốc Lucky Strike, vị tướng quân
Givral 77 tuổi, với nụ cười khoe trọn cả hàm răng, trông vẫn hóm
hỉnh như mọi khi.
Trước đó tôi đã gặp Phạm Xuân Ẩn lần đầu tiên hồi đầu những
năm 1990, khi tôi đến Việt Nam để nghiên cứu viết một cuốn sách
về những người Mỹ lai - con của những binh lính Mỹ và người tình
Việt Nam của họ. Khi cuốn sách được xuất bản, tôi đã gửi cho ông
https://thuviensach.vn
một bản, và tôi cũng gửi cho ông một số cuốn sách khác mỗi khi
những người bạn chung của chúng tôi đến Việt Nam. Phạm Xuân
Ẩn biết là tôi rất muốn được nghe câu chuyện của ông. Ông là một
vị chủ nhà rất hòa nhã với những vị khách được phép tới thăm mình
sau khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, phiên bản
perestroika[6] riêng của nước này, hồi cuối những năm 1980. Ông
thường dành nhiều giờ giải thích về lịch sử và văn hóa Việt Nam,
nhưng lại im lặng như một con nhân sư về một chủ đề: cuộc đời
mình với tư cách là một điệp viên. Cuối năm 2003, tôi nhận được
một bức thư cho biết cuối cùng thì có thể ông cũng đồng ý nói
chuyện, không chính thức mà là những cuộc trò chuyện thân tình.
Những cuộc trò chuyện này bắt đầu vào dịp Tết, năm mới theo âm
lịch, và được nối lại trong khoảng hai tuần vào đầu mùa mưa tháng
5 năm 2004. Tôi gặp lại Phạm Xuân Ẩn vào tháng 3 năm 2005 và sau
đó là cả năm sau trước dịp Tết.
Phạm Xuân Ẩn dẫn tôi qua khu vườn nhà ông, một khoảnh
không gian nhiệt đới sum suê với những cây khế và quất. Khu vườn
thoang thoảng mùi hoa sứ, điểm xuyết màu sắc của những chậu mai
và lan đang trổ bông. Một con diều hâu và ba con gà chọi chăm chú
nhìn chúng tôi từ trong những chiếc lồng đặt dưới gốc cây. Chúng
tôi dừng bước giữa vườn chiêm ngưỡng bức tượng bằng sứ của một
trong những con chó béc giê Đức, cục cưng của Phạm Xuân Ẩn. Ông
coi Edward Lansdale, điệp viên tình báo quân sự và được cho là
nguyên mẫu cho nhân vật người Mỹ “trầm lặng” của Graham
Greene, là người dạy ông cách sử dụng chó trong công việc của
mình. “Tôi huấn luyện chó của mình sao cho nó có thể đánh động
cho tôi khi cảnh sát đang lục soát nhà dân, dù cách đó cả cây số,”
ông nói. “Nó mới là một điệp viên cừ.” Phạm Xuân Ẩn, với kiểu hài
hước rất tinh quái của mình, cũng cho biết là con chó siêu thông
minh của Lansdale trong vườn nhà ông có đến ba tinh hoàn.
Vợ ông, bà Thu Nhạn, đang quét dọn hiên trước với một cây chổi
cán ngắn. Bà là một phụ nữ vui tính, khuôn mặt tròn trịa phúc hậu
https://thuviensach.vn
với mái tóc buộc túm ra sau thành một búi. Kém chồng mười tuổi,
bà đang bận dọn dẹp trước khi đón tiếp rất nhiều khách khứa sẽ đến
trong dịp Tết, gồm cả người con gái của ông bà đang sống ở
California. Treo dưới mái hiên và những chiếc cột dựng trên lối đi là
những ...
THOMAS A. BASS
ĐIỆP VIÊN YÊU CHÚNG TA. CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ TRÒ
CHƠI NGUY HIỂM CỦA PHẠM XUÂN ẨN
ĐỖ TUẤN KIỆT dịch
BÙI XUÂN BÁCH bổ sung và hiệu đính
https://thuviensach.vn
“Đây là câu chuyện xuất sắc về một con người và thời đại của
ông. Nó càng củng cố thêm cho cảm giác của tôi khi gặp ông trong
giai đoạn cuối đời của ông rằng Phạm Xuân Ẩn là một trong những
người ấn tượng nhất mà tôi từng gặp. Ông là con người của trí tuệ,
lòng can đảm và tình yêu đất nước nồng nàn. Ông cũng là - mặc dù
có vẻ thật trớ trêu khi nói ra điều này trong hoàn cảnh hiện nay một con người của sự chính trực phi thường. Ông yêu chúng ta ở
khía cạnh tốt đẹp nhất trong khi lại đối đầu với chúng ta ở khía cạnh
tồi tệ nhất.”
- Daniel Ellsberg, tác giả của Secrets: A Memoir of Vietnam and the
Pentagon Papers (Những bí mật: hồi ức về Việt Nam và tài liệu mật
của Lầu Năm Góc)
“Thomas Bass kể một câu chuyện tuyệt vời về mưu mô[1], nghề
gián điệp và tình bạn. Cuốn sách của ông được viết như thể nó đến
từ những bến bờ xa xôi nhất của sự hư cấu, và hẳn tôi sẽ không bao
giờ tin nổi lấy một từ nào nếu như chính tôi không gặp rất nhiều
nhân vật trong đó và không biết câu chuyện để tin rằng nó có thực
và không biết câu chuyện đó có thực hay không.”
- H. D. S. Greenway, biên tập viên, The Boston Globe, và là phóng
viên chiến tranh Việt Nam cho tạp chí Time và báo Washington Post
“Mỗi cựu binh, mỗi học giả, mỗi sinh viên, bất kỳ ai từng sống
qua cuộc chiến tranh Việt Nam đều được khuyên đọc cuốn sách này
và suy ngẫm về thông điệp của nó. Trong cuốn tiểu sử rất sâu sắc và
kích thích này về một trong những điệp viên thành công nhất trong
lịch sử, Thomas Bass thách thức một vài giả định cơ bản nhất của
chúng ta về những gì đã thực sự xảy ra ở Việt Nam và về ý nghĩa
của nó đối với chúng ta trong hiện tại.”
- John Laurence, phóng viên chiến tranh Việt Nam cho CBS News
và là tác giả cuốn The Cat from Huế: A Vietnam War Story (Con mèo
Huế: một câu chuyện chiến tranh Việt Nam).
*
https://thuviensach.vn
Gã cảm thấy mình đang vĩnh viễn quay lưng lại với sự thanh
thản. Mắt mở to, ý thức rõ hậu quả, gã đi vào lãnh địa của sự dối trá
không mang theo tấm hộ chiếu cho ngày quay trở lại.
GRAHAM GREENE
Cốt lõi của vấn đề (The Heart of Matter)
https://thuviensach.vn
Mục lục
Lời nói đầu
Đôi lời cảnh báo về điệp viên Z.21
Cuộc thử lửa đầu tiên
Công việc của bầy chó săn
Ghép não
Những chuyến đi ở nước Mỹ
Trò lợi dụng lòng tin
Những nguồn tin đáng tin cậy
Tết
Một đất nước do Salvador Dali tạo ra
Một thế giới tươi sáng hơn
Ghi nhận
Chú thích
Chú thích
https://thuviensach.vn
Lời nói đầu
“Nước Mỹ chỉ giỏi tiến hành những cuộc thập tự chinh,” tướng
David Petraeus viết trong luận án tiến sĩ của mình về đề tài “Quân
đội Mỹ và những bài học từ chiến tranh Việt Nam”. Được đưa ra
bảo vệ tại Đại học Princeton năm 1987, luận án của Petraeus công
kích những gì đã trở thành quan niệm được giới nhà binh chấp nhận
một cách rộng rãi về những bài học từ Việt Nam. Ông coi đây là một
“lối suy nghĩ kiểu được ăn cả ngã về không”, mà chung quy là xuất
phát từ học thuyết cho rằng nước Mỹ chỉ nên tiến hành những cuộc
chiến tranh thông thường với sự ủng hộ áp đảo của một công chúng
mang tinh thần thập tự chinh. Petraeus bác bỏ quan điểm “làm ăn
như lối suy nghĩ bình thường” này. Thay vào đó, ông lập luận rằng
nước Mỹ có nhiều khả năng là thấy mình sa vào những cuộc chiến
tranh phi chính quy khác, đôi khi phải chống trả hai, ba, hay nhiều
trận chiến kiểu Việt Nam. Sau này Petraeus tiếp tục biên soạn cẩm
nang tác chiến cho lục quân về chống nổi dậy được ban hành ấn
hành năm 2006. Năm sau, được trao cơ hội tiến hành công tác thực
địa về chuyên ngành học thuật của mình, ông được bổ nhiệm vào vị
trí tư lệnh lực lượng Mỹ tại Iraq.
Chiến tranh không chỉ là những cuộc thập tự chinh; chúng còn là
những cuộc dan díu của con tim. Chiến tranh được phát động vì
tình yêu, điều này thì chúng ta đã biết từ thời nàng Helen của thành
Troy[2] khiến cho cả nghìn chiến thuyền chở đầy những chàng trai
mê mẩn sẵn sàng chết vì nàng xung trận. Nhà văn hài hước người
Mỹ P. J. O'Rourke đã nhận ra chân lý này trong một bài tiểu luận
ông viết về Việt Nam năm 1992. “Ở Huế, cứ chiều đến, những nữ
sinh trung học trở về nhà sau khi tan học, từng đoàn nữ sinh đạp xe
trên con phố, tất cả đều tha thướt trong những tà áo dài trắng tinh,
một kiểu trang phục gồm áo dài may ôm sát người mặc trùm lên
quần rộng. Không phải vô cớ mà những nhà thờ Công giáo còn lại
https://thuviensach.vn
gióng lên hồi chuông cầu kinh Đức Bà vào thời điểm này trong
ngày. Tôi không hiểu ở một nơi mà cái đẹp đã trở nên quá đỗi bình
dị như thế có thể thay đổi được bản chất của một xã hội hay không.”
Sau khi trầm trồ trước “tỷ lệ khổng lồ những mỹ nhân ngư và
giai nhân tuyệt sắc” ở cái đất nước Địa đàng này, O'Rourke viết:
“Giờ thì tôi hiểu tại sao chúng ta lại can dự vào Việt Nam. Chúng ta
đã phải lòng… [Chúng ta] đã ngây ngất bởi nơi này. Tất cả mọi
người, từ những cố vấn đầu tiên mà Ike3 gửi tới đây năm 1955 cho
đến Henry Kissinger ở bàn đàm phán hòa bình Paris, thảy đều mê
mệt đến phát cuồng vì Việt Nam. Nó làm tan vỡ trái tim họ. Họ cứ
tiếp tục đến thăm và gửi hoa mãi không thôi. Họ không thể tin nổi
rằng đây là lần chia tay cuối cùng.”
Trước khi bắt đầu câu chuyện của mình về Việt Nam và nước Mỹ
(với đôi nét điểm qua về nước Pháp và những khu vực khác trên thế
giới), tôi xin phép được nói rằng cuốn sách này nói về chiến tranh và
tình yêu, về những bài học Việt Nam, tác chiến chống nổi dậy và
những cuộc xung đột khác bị gọi là phi chính quy. Nó cũng nói về
những điệp viên và phóng viên cùng sự lẫn lộn giữa hai nghề này.
Một số người sẽ cho rằng các phóng viên góp phần làm cuộc chiến
(của chúng ta) tại Việt Nam thất bại. Trong trường hợp này, tôi xin
khẳng định rằng có một phóng viên đã góp phần mang đến chiến
thắng trong cuộc chiến - cho phía người Việt. Cuốn sách phiền
muộn này nói về thông tin và hỏa mù cùng sự mơ hồ không thể
tránh khỏi trong việc xác định ranh giới nơi hai yếu tố này hòa nhập
vào nhau. Cuốn sách không đưa ra thêm chân lý nào có thể được
đúc rút thành những bài học mới về chiến tranh Việt Nam. Nó nói
về cuộc sống đơn giản của một con người phức tạp. Sự thật nằm
trong các chi tiết. Chúng ta hãy bắt đầu.
https://thuviensach.vn
Đôi lời cảnh báo về điệp viên Z.21
“Đây, Phạm Xuân Ẩn đây,” người phóng viên cuối cùng của tờ
Time (Thời đại) tại Việt Nam đánh điện về tòa soạn tạp chí ở New
York ngày 30 tháng 4 năm 1975. “Tất cả các phóng viên người Mỹ
đều đã di tản do tình hình khẩn cấp. Văn phòng của Time giờ do
mình tôi, Phạm Xuân Ẩn điều hành.” Phạm Xuân Ẩn gửi đi thêm ba
bản báo cáo khác nữa từ Sài Gòn trong khi quân đội Bắc Việt Nam
đang tiến sát đến thành phố. Rồi đường dây bị đứt hẳn. Trong một
năm sau đó, với Phạm Xuân Ẩn đóng vai trò là phóng viên duy nhất
của tờ Time tại Việt Nam thời hậu chiến, tạp chí này đăng những bài
viết về “Lời vĩnh biệt tàn nhẫn”, “Phe thắng: Những người làm nên
chiến thắng”, và “Một tuần thanh bình dưới chế độ cộng sản”. Phạm
Xuân Ẩn là một trong số 39 phóng viên người nước ngoài làm việc
cho tờ Time khi văn phòng tại Sài Gòn đóng cửa và tên ông biến mất
khỏi măng sét báo này ngày 10 tháng 5 năm 1976.
Được biết đến như là một nhà phân tích chính trị sắc sảo, khởi
đầu làm việc cho hãng Reuters trong những năm 1960 và sau đó là
cho tờ New York Herald Tribune (Diễn đàn thông tin New York) và
Christian Science Monitor (Người theo dõi khoa học Kitô giáo), rồi,
cuối cùng, là một phóng viên của tờ Time trong 11
năm, dường như công việc xuất sắc nhất của Phạm Xuân Ẩn là
trao đổi chuyện trò với những đồng nghiệp ở Givral, một tiệm cà
phê trên đường Catinat cũ. Chiều nào ông cũng chủ trì tin vỉa hè tại
đây như là nguồn tin tốt nhất ở Sài Gòn. Ông được gọi là “trưởng
đoàn báo chí Việt Nam” và “tiếng nói của đài Catinat” - lò tin đồn.
Với khiếu hài hước tự trào sẵn có, ông thích gọi mình bằng những
tên khác, ví dụ như “docteur de sexologie” (tiến sĩ tình dục học),
“professeur coup d'état” (giáo sư đảo chính), “tư lệnh huấn luyện quân
khuyển” (ngụ ý đến con chó béc giê Đức lúc nào cũng kè kè bên
https://thuviensach.vn
ông), “tiến sĩ chuyên về cách mạng”, hoặc đơn giản chỉ là ông tướng
Givral.
Giờ đây chúng ta biết đó mới chỉ là một nửa công việc Phạm
Xuân Ẩn đã làm trên cương vị một nhà báo, mà lại không phải là
nửa chính. Phạm Xuân Ẩn đều đặn gửi cho chính phủ cộng sản ở
Hà Nội những tài liệu quân sự mật và những bức điện viết bằng
mực vô hình, nhưng, không còn nghi ngờ gì nữa, chính những báo
cáo được đánh máy của ông, hiện đang được khóa kỹ trong kho lưu
trữ của tình báo Việt Nam tại Hà Nội, mới được coi là chef d'oeuvre
(kiệt tác) của ông. Phạm Xuân Ẩn đã viết 498 báo cáo tin tình báo
(con số chính thức được chính phủ Việt Nam công bố năm 2007),
trung bình mỗi tháng một báo cáo, trong suốt sự nghiệp 55 năm của
ông trên cương vị một điệp viên tình báo.
Sử dụng một chiếc máy đánh chữ Hermes được cơ quan tình báo
Bắc Việt Nam mua riêng cho mình, Phạm Xuân Ẩn viết những báo
cáo tin tình báo, có bản dài cả trăm trang, vào ban đêm. Được chụp
lại và chuyển đi dưới dạng những cuốn phim chưa rửa, thông tin
của Phạm Xuân Ẩn được liên lạc viên đưa ra mạng lưới địa đạo Củ
Chi, nơi được dùng làm cơ quan đầu não bí mật của những người
cộng sản. Cứ vài tuần một lần, bắt đầu từ năm 1952, Phạm Xuân Ẩn
lại rời khỏi văn phòng của mình ở Sài Gòn, đi khoảng 20 dặm theo
hướng Tây Bắc về phía rừng Hố Bò, rồi chui xuống địa đạo để hoạch
định chiến lược cộng sản. Từ Củ Chi, những báo cáo của Phạm
Xuân Ẩn được khẩn trương chuyển đi dưới sự bảo vệ đặc biệt tới
núi Bà Đen, sát tận biên giới Campuchia, rồi được đưa bằng xe hơi
đến Phnom Penh, bằng máy bay tới Quảng Châu ở miền Nam
Trung Quốc, và rồi được trình ngay cho Bộ Chính trị tại Hà Nội. Tin
tức của Phạm Xuân Ẩn sống động và chi tiết đến nỗi người ta kể
rằng Tướng Giáp và Hồ Chí Minh đã phải xoa tay sung sướng khi
nhận được những báo cáo này từ Trần Văn Trung - bí danh của
Phạm Xuân Ẩn. “Chúng ta đang ở trong phòng tác chiến của Hoa
https://thuviensach.vn
Kỳ!” họ thốt lên, theo lời vài thành viên trong Bộ Chính trị Việt
Nam.
Khi Sài Gòn rơi vào tay những người cộng sản, Phạm Xuân Ẩn hy
vọng sẽ được di tản sang Mỹ. Không phải vì ông lo sợ sự trả thù của
cộng sản, như mọi người vẫn tưởng, mà bởi vì tình báo Việt Nam có
kế hoạch để ông tiếp tục hoạt động tại Mỹ. Họ biết sẽ có một cuộc
chiến hậu chiến, một giai đoạn ác liệt của những thủ đoạn chính trị,
trong đó Mỹ có thể sẽ tiến hành những hoạt động quân sự ngấm
ngầm và áp đặt lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam. Còn ai
có thể báo cáo về những ý đồ của Mỹ tốt hơn Phạm Xuân Ẩn? Trong
những ngày cuối cùng của cuộc chiến, vợ ông cùng bốn đứa con của
họ được đưa bằng máy bay ra khỏi Việt Nam và bố trí ở tại
Washington, D.C. Ông Ẩn đang nóng lòng chờ đợi chỉ thị đi theo họ
thì nhận được lệnh từ Bộ Chính trị miền Bắc là ông sẽ không được
phép rời khỏi đất nước.
Phạm Xuân Ẩn được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân, được thưởng hơn chục huân huy chương quân
sự, và được thăng lên quân hàm thiếu tướng. Ông cũng được gửi
đến nơi mà thỉnh thoảng ông gọi đùa là một “trại cải tạo”[3] và bị
cấm tiếp xúc với khách phương Tây. Vợ và các con ông được đưa
trở lại Việt Nam một năm sau ngày họ ra đi. Vấn đề đối với Phạm
Xuân Ẩn, theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, là ở chỗ
ông yêu nước Mỹ và người Mỹ, những giá trị dân chủ, và tính khách
quan trong nghề báo. Ông coi nước Mỹ là một kẻ thù ngẫu nhiên,
những người Mỹ sẽ quay trở lại thành bạn bè một khi dân tộc của
ông giành được độc lập. Phạm Xuân Ẩn là Người Việt Nam trầm
lặng, người đứng giữa, nhân vật đại diện, vừa suốt đời là một chiến
sĩ cách mạng vừa là một người nhiệt thành ngưỡng mộ nước Mỹ.
Ông khẳng định rằng chưa bao giờ nói dối bất kỳ ai, rằng những
phân tích chính trị mà ông gửi cho tờ Time cũng giống hệt những gì
ông gửi cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông là một con người bị phân
https://thuviensach.vn
thân bởi tính chính trực tối cao, một con người sống trong dối trá
nhưng luôn nói sự thật.
“Câu chuyện của Phạm Xuân Ẩn làm tôi nghĩ ngay đến những gì
được lấy ra từ Graham Greene,” David Halberstam, người từng kết
bạn với Phạm Xuân Ẩn khi còn làm phóng viên của New York Times
(Thời báo New York) ở Việt Nam, nói. “Nó liên hệ đến tất cả những
câu hỏi cơ bản nhất. Trung thành là gì? Yêu nước là gì? Sự thật là gì?
Anh là ai khi anh nói ra những sự thật đó? Ở Phạm Xuân Ẩn có một
sự lưỡng phân tình cảm mà chúng ta gần như không thể hình dung
nổi. Khi nhìn lại, tôi nhận ra ông là một con người bị xẻ làm đôi ở
chính giữa.”
Trong cuốn sách năm 1965 viết về Việt Nam, The Making of a
Quagmire (Sa lầy), tác giả Halberstam, với sự châm biếm hoàn toàn
không có chủ ý, miêu tả Phạm Xuân Ẩn là cái đinh chốt của một
“mạng lưới tình báo nhỏ nhưng hạng nhất” gồm các nhà báo và nhà
văn. Phạm Xuân Ẩn, ông viết, “có những mối quan hệ với giới quân
sự tốt nhất trong nước ”. Sau khi Halberstam đã biết về câu chuyện
của Phạm Xuân Ẩn, ông có cảm thấy chút thù hận nào không?
“Không,” ông nói với tôi, khi tôi gọi cho ông để trao đổi về cuộc
sống hai mặt của Phạm Xuân Ẩn trong chiến tranh. “Đó là một câu
chuyện đầy rẫy những mưu mẹo, khói mờ và những tấm gương,
nhưng tôi vẫn nghĩ về Phạm Xuân Ẩn một cách thiện cảm. Khi ông
nhắc đến tên ông ấy, một nụ cười đã hiện lên trên mặt tôi. Tôi chưa
bao giờ cảm thấy bị Phạm Xuân Ẩn phản bội. Ông ấy buộc phải
thích ứng với việc là một người Việt Nam ở giai đoạn đau thương
đó trong lịch sử của dân tộc mình, khi lan tràn khắp nơi chẳng có
gì khác ngoài sự phản bội .”
Năm 2005, tôi cho đăng một bài viết về Phạm Xuân Ẩn trên tờ The
New Yorker . Ngay sau khi bài báo được đăng, tôi ký hợp đồng phát
triển bài viết này thành một cuốn sách. Cái mà tôi tưởng sẽ là một
công việc dễ dàng cuối cùng lại trở nên khó khăn khi tôi bị sa thêm
vào nhiều mưu mẹo, khói mờ và những tấm gương. Tôi bắt đầu ngờ
https://thuviensach.vn
rằng chính mình đã rơi vào đúng chiếc bẫy giống như những đồng
nghiệp cũ của Phạm Xuân Ẩn trước kia. Họ đã đánh đổi sự mù tịt
lấy sự mù tịt có chủ tâm và cuối cùng vẫn bị hút hồn bởi khuôn mặt
mỉm cười của Phạm Xuân Ẩn. Liệu ông có phải là một “con người bị
phân thân” như Halberstam khẳng định, hay ông là một “con người
cách mạng”, như người Việt Nam thường nói, với tất cả những cái
khác chỉ là vỏ bọc? Ông có phải là một người ngẫu nhiên thành cộng
sản hay là một đơn giản là một người cộng sản, người làm công việc
của mình đến tận ngày qua đời?
Khi đào xới sâu hơn vào công việc này, tôi nhận thấy rằng Phạm
Xuân Ẩn, dù tự cho mình là một nhà phân tích chiến lược, người chỉ
quan sát cuộc chiến từ bên lề, thực sự là một nhà chiến thuật bậc
thầy liên quan đến nhiều trận đánh chủ chốt của cuộc chiến. Ông là
một người lính được tặng thưởng nhiều huân chương, nhân vật
trung tâm trong một chuỗi dài những diễn biến quân sự làm nên
chiến thắng của những người cộng sản và thất bại của nước Mỹ.
Phạm Xuân Ẩn không chỉ được tặng thưởng 4 huân huy chương như tôi đã viết trên tờ The New Yorker - mà là tới 16 . Mà đó không
phải là những phần thưởng mang tính lễ nghi . Trừ hai cái, còn lại
tất cả đều là huân chương Quân công và Chiến công, được tặng
thưởng vì chiến đấu anh dũng trong hai cuộc chiến tranh của Việt
Nam chống Pháp và chống Mỹ.
Ngay từ cuộc gặp đầu tiên của chúng tôi năm 1992, Phạm Xuân
Ẩn đã đánh lạc hướng tôi khỏi con đường nhằm tìm ra sự thật rằng
ông đã làm gì trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và
thứ hai, và những gì ông tiếp tục làm trên cương vị “cố vấn” cho
ngành tình báo Việt Nam cho đến khi qua đời ngày 20 tháng 9 năm
2006. Ông che giấu những sự thật này đối với người ngoài, bằng cử
chỉ khoa tay khéo léo và khiếu hài hước quyến rũ đã làm ông trở
nên nổi tiếng. Khi những câu hỏi của tôi trở nên quá thẳng thừng,
ông chuyển từ giúp đỡ công trình viết sách của tôi sang ngăn chặn
nó. Cấp trên của ông trong ngành tình báo quốc phòng đã cho phép
https://thuviensach.vn
ông nói chuyện với tôi trong khuôn khổ một bài tạp chí. Ông vốn có
cảm tình với tờ The New Yorker kể từ những ngày ông còn là phụ tá
cho Robert Shaplen, phóng viên thường trú khu vực Viễn Đông của
tạp chí này. Chắc hẳn Phạm Xuân Ẩn đã nói với cấp trên của ông
rằng: “Chỉ là một bài tạp chí thôi mà. Tôi sẽ lèo lái câu chuyện, có
thể là đi xa hơn một chút so với mọi khi, nhưng sẽ không để lộ bất
kỳ điều gì chúng ta không muốn tiết lộ.” Họ đã cho phép ông thực
hiện nhiệm vụ này, vốn được cho là có quy mô hạn chế, nhưng dứt
khoát họ không cho phép ông làm việc với tôi trong khuôn khổ một
cuốn sách. Ngay sau khi bài viết được đăng, Phạm Xuân Ẩn chấm
dứt những cuộc gặp của chúng tôi và vội vã sắp xếp cho một cuốn
tiểu sử “chính thức” khác sẽ được viết, một quyển tiểu sử có mục
đích giữ an toàn cho vỏ bọc của ông.
Phạm Xuân Ẩn là một người có tài nói chuyện đặc biệt cuốn hút.
Phương pháp xuyên suốt cuộc đời ông là ngụy trang những hoạt
động của mình thông qua nói chuyện. Làm sao một người mồm
mép và cởi mở như vậy về cuộc sống của mình lại có thể là điệp
viên? Làm sao một người hài hước và chua cay đến thế trong những
nhận xét của mình về sự ngu ngốc của con người lại có thể là một
người cộng sản? Phương pháp này phát huy hiệu quả đến nỗi nó
thấm sâu vào trong tính cách của ông. Không có cách nào để bắt ông
ngừng nói. Phạm Xuân Ẩn cứ nói mãi nói mãi không thôi, rồi cuối
cùng, chỉ cho một bài báo đăng tạp chí, mà chúng tôi đã ghi âm đến
60 giờ băng phỏng vấn. Ngoài ra còn rất nhiều giờ trò chuyện nữa
được ghi lại bằng văn bản về những cuộc gặp của chúng tôi. Khi
nghe lại những cuốn băng và đọc lại những ghi chép của mình,
những biến tấu khác nhau trong câu chuyện của Phạm Xuân Ẩn bắt
đầu khiến tôi thấy tò mò. Ví dụ, chỉ có đúng một lần trong số hơn
chục lần kể về “khóa học cấp tốc” mà ông được huấn luyện làm một
chiến sĩ Việt Minh, Phạm Xuân Ẩn mới tiết lộ rằng sau này ông có
chỉ huy một trung đội, đơn vị này ít nhất có một lần đã nổ súng vào
https://thuviensach.vn
lính Pháp. Đây không phải là công việc của một nhà phân tích chiến
lược mà là hành động của một chỉ huy du kích.
Tôi rất tiếc khi phải thông báo rằng cuốn sách này cũng được
hưởng lợi từ sự qua đời của Phạm Xuân Ẩn. Sự kiểm soát mà ông
thực hiện đối với câu chuyện về cuộc đời mình kết thúc vào mùa
thu năm 2006. Những nguồn tin tình báo, cả ở miền Bắc và miền
Nam Việt Nam, bắt đầu tiết lộ những thông tin được giấu kín trước
đó. Những thông tin này gồm cả các chi tiết về sự liên quan của
Phạm Xuân Ẩn vào một số trận đánh và chiến dịch then chốt trong
cuộc chiến. Ví dụ, chúng ta được biết rằng, ông được tặng thưởng
một Huân chương Chiến công hạng nhất vì đã cung cấp thông tin
cảnh báo sớm về kế hoạch Mỹ xâm lược Campuchia tháng 4 năm
1970. Thông tin sớm này cho phép lực lượng cộng sản, đặc biệt là bộ
máy chỉ huy quân sự, rút lui kịp thời về phía Tây. Một Huân
chương Chiến công hạng nhất khác được tặng thưởng cho ông vì đã
phát hiện kế hoạch xâm lược Nam Lào tháng 2 năm 1971 của quân
đội Nam Việt Nam[4]. Ở đây, chính sự tham gia về mặt chiến thuật
của Phạm Xuân Ẩn đã dẫn đến thất bại quân sự thê thảm của Quân
lực Việt Nam Cộng hòa.
Những thông tin được tiết lộ sau khi Phạm Xuân Ẩn qua đời
khẳng định rằng ông tham gia vào các hoạt động tình báo quân sự
với quy mô đáng ngạc nhiên. Một số thông tin mới được công bố
một cách ngẫu nhiên, một số là có chủ ý. Dù thế nào đi nữa, tôi bắt
đầu nhận được đều đặn cơ man nào là những báo cáo, ghi chép,
hình ảnh và các loại tài liệu khác về một con người mà 17 năm sau
lần đầu tiên tôi gặp ông, vẫn tiếp tục gây bất ngờ. Vỏ bọc của Phạm
Xuân Ẩn sẽ chỉ bộc lộ hoàn toàn khi người ta có cơ hội đọc được
toàn bộ oeuvre (tác phẩm) của ông - những báo cáo tin tình báo mà
ông gửi cho Hồ Chí Minh và Tướng Giáp khiến họ phải vỗ tay sung
sướng và trầm trồ thán phục trước sự sinh động và ngòi bút kể
chuyện hấp dẫn của một Tolstoy trong hàng ngũ của mình, mà họ
biết đến qua bí số Z.21.
https://thuviensach.vn
Trong những cuộc gặp của chúng tôi suốt nhiều năm, Phạm Xuân
Ẩn biết là ông đang nói chuyện với tôi vượt quá xa những gì cần
thiết cho một bài tạp chí, ngay cả với một câu chuyện phóng sự
được viết một cách thoải mái từng có lần được dành cho Robert
Shaplen. Nhưng Phạm Xuân Ẩn có vỏ bọc của mình, và tôi có vỏ
bọc của tôi, ít nhất thì cho đến khi bài báo trên The New Yorker được
đăng. Sau đó thì không ai trong chúng tôi có thể giả vờ rằng chúng
tôi đang nói chuyện với nhau vì một thứ gì đó khác chứ không phải
là một cuốn sách, công việc mà Phạm Xuân Ẩn không được phép
làm. Khi tôi đến thăm ông lần cuối, vào tháng 1 năm 2006, chúng tôi
đang chuẩn bị cho cái mà tôi nghĩ sẽ là một đêm trò chuyện dài, sự
pha trộn thông thường giữa những câu chuyện và những lời đùa
cợt, thì ông cho tôi biết đây sẽ là lần gặp nhau cuối cùng của chúng
tôi. Không thể có chuyện đảo ngược lại quyết định này của ông.
Chúng tôi sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa.
Đến thời điểm này thì tôi biết là Phạm Xuân Ẩn đang làm việc
với một nhà viết tiểu sử “chính thức” khác. “Có gì khác nhau giữa
cuốn sách của tôi với cuốn sách kia?” tôi hỏi. “Cuốn sách của ông
đang được viết từ bên trong Việt Nam,” ông nói, ám chỉ rằng tôi đã
tiếp cận với những thông tin nhạy cảm lẽ ra không được tiết lộ. Tôi
coi đây là một lời khen ngợi đối với những trợ lý nghiên cứu người
Việt Nam của mình, công việc đi lại và sự bền bỉ của họ nhiều lúc
cũng xuất sắc không kém gì Phạm Xuân Ẩn trong những ngày ông
còn là phóng viên làm việc chăm chỉ nhất tại Việt Nam.
Tôi thấy bị tổn thương trước quyết định của Phạm Xuân Ẩn về
việc không gặp tôi nữa, và tôi rất tự ái với thông tin này, cho đến khi
tôi biết rằng ông đang hành động theo lệnh của cấp trên. Câu
chuyện của ông phải được thêu dệt như Halberstam đã kể. Trong
phiên bản này về cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn, được tạo ra cho độc
giả phương Tây, ông là một người dân tộc chủ nghĩa, ngẫu nhiên bị
kẹt vào lịch sử của đất nước mình, một nhà phân tích chiến lược,
người đã nhìn xuống cuộc chiến tranh từ đỉnh cao Olympus của tờ
https://thuviensach.vn
Time. Còn trong cuốn sách này lại là một chân dung hoàn toàn khác,
một nhà chiến thuật bậc thầy và là một chiến sĩ trung kiên vì lý
tưởng cộng sản. Tôi đã viết cuốn tiểu sử không được phép về một điệp
viên. Mặc dù Phạm Xuân Ẩn ngừng hỗ trợ công trình này - cùng với
một số người bạn Mỹ, những người cho rằng họ làm như thế là vì
lợi ích của ông - tôi vẫn kiên trì nghĩ rằng nếu như cuốn sách này có
nói điều gì đó chính xác về Việt Nam và những cuộc chiến tranh dai
dẳng của đất nước này hoặc bản chất của chiến tranh nói chung,
chắc hẳn Phạm Xuân Ẩn sẽ ngậm cười về điều đó.
Đã một số lần tôi gần như từ bỏ công trình này, và ngay cả khi
cuốn sách được đưa đi xuất bản, những câu hỏi cơ bản vẫn còn
nguyên ở đó - những câu hỏi. Nếu như tôi đang nói chuyện với
Phạm Xuân Ẩn về thế tiến thoái lưỡng nan này, như tôi vẫn thường
làm, có thể ông đã bật ra một câu chuyện đùa hoặc lại say sưa nói về
một giai thoại trong lịch sử Việt Nam, hoặc gợi ý tôi đọc một cuốn
sách, ví dụ như cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Khải viết năm
1983 về cuộc đời Phạm Xuân Ẩn, Thời gian của người. Ở Việt Nam,
những cuộc trò chuyện cứ tiếp diễn như vậy. Lòng vòng và miên
man, trước khi chuyển, hầu như không thể nhận ra, thành những
câu chuyện ngụ ngôn vừa giải trí vừa giáo huấn.
Tôi đã kể câu chuyện này theo phong cách Việt Nam, lập lờ về
quan điểm và về thời gian tính. Phạm Xuân Ẩn đã qua đời. Ông bị
gắn chặt vào một chiếc máy thở suốt nhiều tuần liền trước khi hai lá
phổi của ông ngừng hoạt động mãi mãi vào mùa thu năm 2006, kết
thúc tất cả ngần ấy năm trò chuyện. David Halberstam cũng đã qua
đời. Ông dành cả cuộc đời viết về những cuộc chiến tranh ở châu
Phi và châu Á trước khi chết trên ghế hành khách của chiếc xe hơi
gặp tai nạn ở một giao lộ tại Menlo Park, bang California, năm 2007.
Chừng nào tôi còn nghe thấy họ, tôi vẫn sẽ giữ giọng nói của họ ở
thì hiện tại. Mặc dù vậy, cũng cần cảnh báo cho người đọc. Không
có câu chuyện đích thực duy nhất về cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn,
vì cuộc đời ông chứa đựng những sự thật đa tầng. Thậm chí cả cái
https://thuviensach.vn
tên của ông cũng là một lời cảnh báo. Ẩn trong tiếng Việt có nghĩa là
“che giấu” hoặc “bí ẩn”.
Trong suốt 20 năm chiến tranh với người Việt Nam, nước Mỹ
chưa bao giờ hiểu được con người hay văn hóa của đất nước này.
Nam Việt Nam được làm lại theo hình ảnh của nước Mỹ. Terra
incognita đi trước terra nova[5]. Nước Mỹ đã phải trả giá đắt cho sự
xem thường đối thủ của mình. Chúng ta đã thua trận, với 58.000
binh sĩ thiệt mạng, và hàng trăm nghìn người bị thương, và mất
luôn cả sự ngây thơ về sức mạnh quân sự vô địch của mình.
Kẻ thù của nước Mỹ không mắc phải những sai lầm như vậy.
Người Việt Nam nghiên cứu kỹ đối thủ của mình. Họ xây dựng một
điệp viên có thể suy nghĩ như một người Mỹ, người có thể thâm
nhập vào lối tư duy kiểu Mỹ để học những giá trị và niềm tin của
đất nước này. Người Việt Nam cần một điệp viên trong doanh trại
của kẻ thù, nhưng không phải là một điệp viên bình thường, kiểu
tên trộm chui cửa sổ tầng thượng ém mình trong nhà. Họ cần một
điệp viên chiến lược, một điệp viên thi sĩ, một điệp viên yêu quý
người Mỹ và cũng được họ yêu quý đáp lại. Sau khi giành được
niềm tin của họ, người điệp viên đó sẽ cạy chiếc khóa quý giá nhất
trong chiến lược quân sự - chiếc khóa dẫn đến giấc mơ và tham
vọng của họ, những huyền thoại của họ về bản thân, và vai trò của
họ trên thế giới.
Để thực hiện sứ mệnh này, người Việt Nam đặt niềm tin vào một
người, người đó sẽ trở thành điệp viên quan trọng nhất và cũng là
một trong những vũ khí quân sự hiệu quả nhất của họ. Như một bài
học về chiến tranh và như một cách để hiểu người Việt Nam, không
có lăng kính nào tốt hơn cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn. Thay vì được
gọi là “người điệp viên yêu chúng ta ”, ông hoàn toàn có thể được
gọi - như một trong những biên tập viên của tôi đã gợi ý - là “người
đàn ông nguy hiểm nhất ở Việt Nam”. Khi đọc cuốn sách này, tôi
khuyên người đọc sử dụng cả hai lăng kính hoặc, tốt hơn cả, gắn
mỗi chiếc vào một mắt.
https://thuviensach.vn
Cuộc thử lửa đầu tiên
Thành phố Hồ Chí Minh - hay Sài Gòn, như cách gọi vẫn còn phổ
biến hiện nay - là một nơi người ta chuyên tâm làm ăn buôn bán.
Đông chật những xe đẩy và gánh hàng rong bán đủ mọi thứ từ phở
hay bún riêu đến đĩa CD, đường phố là những dòng sông sôi sục các
loại xe máy hai thì. Khói xả ra đặc quánh đến nỗi những người phụ
nữ xinh đẹp nổi tiếng của Sài Gòn đã bắt đầu phải lấy khăn che mặt.
“Giờ thì tất cả chúng tôi là người Hồi giáo hết,” Việt, người lái xe
ôm nói. Anh là người đưa tôi đi khắp thành phố trên chiếc xe gắn
máy của mình.
Đến nhà Phạm Xuân Ẩn - một căn biệt thự ở quận 3, trong khu
dân cư đông đúc gần nhà ga xe lửa - chúng tôi đi qua một ngã tư
đầy những cửa hàng sửa chữa xe máy và đến một con phố chuyên
bán các loại cá nhiệt đới, gồm cả giống cá chọi Xiêm mà Phạm Xuân
Ẩn rất mê. Tôi giật chiếc chuông treo lủng lẳng trên cánh cổng sơn
màu xanh nhà ông. Trong khi lũ chó bắt đầu sủa nhặng lên, tôi
nhòm qua tấm lưới sắt thấy Phạm Xuân Ẩn đang loẹt xoẹt bước ra
trên lối đi vào cái ngày nắng ấm đó của tháng Giêng năm 2004.
Dáng người gầy guộc, ông mặc một chiếc áo sơ mi trắng ngắn tay
cài cây bút bi nơi túi ngực, chiếc quần màu xám bay phần phật
quanh hai chân, và đi đôi dép cao su. Ra đến nơi ông thở hổn hển
không ra hơi nhưng vẫn mỉm cười và chào tôi với một cái bắt tay
bằng những đầu ngón tay của mình. Vừa mới phải nhập viện vì suy
phổi, hậu quả của việc cả đời hút thuốc Lucky Strike, vị tướng quân
Givral 77 tuổi, với nụ cười khoe trọn cả hàm răng, trông vẫn hóm
hỉnh như mọi khi.
Trước đó tôi đã gặp Phạm Xuân Ẩn lần đầu tiên hồi đầu những
năm 1990, khi tôi đến Việt Nam để nghiên cứu viết một cuốn sách
về những người Mỹ lai - con của những binh lính Mỹ và người tình
Việt Nam của họ. Khi cuốn sách được xuất bản, tôi đã gửi cho ông
https://thuviensach.vn
một bản, và tôi cũng gửi cho ông một số cuốn sách khác mỗi khi
những người bạn chung của chúng tôi đến Việt Nam. Phạm Xuân
Ẩn biết là tôi rất muốn được nghe câu chuyện của ông. Ông là một
vị chủ nhà rất hòa nhã với những vị khách được phép tới thăm mình
sau khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, phiên bản
perestroika[6] riêng của nước này, hồi cuối những năm 1980. Ông
thường dành nhiều giờ giải thích về lịch sử và văn hóa Việt Nam,
nhưng lại im lặng như một con nhân sư về một chủ đề: cuộc đời
mình với tư cách là một điệp viên. Cuối năm 2003, tôi nhận được
một bức thư cho biết cuối cùng thì có thể ông cũng đồng ý nói
chuyện, không chính thức mà là những cuộc trò chuyện thân tình.
Những cuộc trò chuyện này bắt đầu vào dịp Tết, năm mới theo âm
lịch, và được nối lại trong khoảng hai tuần vào đầu mùa mưa tháng
5 năm 2004. Tôi gặp lại Phạm Xuân Ẩn vào tháng 3 năm 2005 và sau
đó là cả năm sau trước dịp Tết.
Phạm Xuân Ẩn dẫn tôi qua khu vườn nhà ông, một khoảnh
không gian nhiệt đới sum suê với những cây khế và quất. Khu vườn
thoang thoảng mùi hoa sứ, điểm xuyết màu sắc của những chậu mai
và lan đang trổ bông. Một con diều hâu và ba con gà chọi chăm chú
nhìn chúng tôi từ trong những chiếc lồng đặt dưới gốc cây. Chúng
tôi dừng bước giữa vườn chiêm ngưỡng bức tượng bằng sứ của một
trong những con chó béc giê Đức, cục cưng của Phạm Xuân Ẩn. Ông
coi Edward Lansdale, điệp viên tình báo quân sự và được cho là
nguyên mẫu cho nhân vật người Mỹ “trầm lặng” của Graham
Greene, là người dạy ông cách sử dụng chó trong công việc của
mình. “Tôi huấn luyện chó của mình sao cho nó có thể đánh động
cho tôi khi cảnh sát đang lục soát nhà dân, dù cách đó cả cây số,”
ông nói. “Nó mới là một điệp viên cừ.” Phạm Xuân Ẩn, với kiểu hài
hước rất tinh quái của mình, cũng cho biết là con chó siêu thông
minh của Lansdale trong vườn nhà ông có đến ba tinh hoàn.
Vợ ông, bà Thu Nhạn, đang quét dọn hiên trước với một cây chổi
cán ngắn. Bà là một phụ nữ vui tính, khuôn mặt tròn trịa phúc hậu
https://thuviensach.vn
với mái tóc buộc túm ra sau thành một búi. Kém chồng mười tuổi,
bà đang bận dọn dẹp trước khi đón tiếp rất nhiều khách khứa sẽ đến
trong dịp Tết, gồm cả người con gái của ông bà đang sống ở
California. Treo dưới mái hiên và những chiếc cột dựng trên lối đi là
những ...
 





