Viếng Lăng Bác - Bài giảng
Cuộc chiến tranh chống Thái Bình Dương 1941-1945

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:47' 17-04-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:47' 17-04-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
Cuộc Chiến Tranh Thái Bình Dương 1941 - 1945
Lê Vinh Quốc & Huỳnh Văn Tòng
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
CUỘC CHIẾN TRANH THÁI BÌNH DƯƠNG (1941-1945)
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN THỨ NHẤT • THỜI NHẬT TẤN CÔNG
CHƯƠNG I • BỐN MƯƠI TÁM GIỜ TRƯỚC CƠN BÃO TÁP
CHƯƠNG II • CHIẾN TRANH BẮT ĐẦU - TRÂN CHÂU CẢNG
CHƯƠNG III • CHIẾN TRANH BẮT ĐẦU - CHIẾN TRƯỜNG ĐÔNG NAM Á
CHƯƠNG IV • MỘT THỜI CHIẾN THẮNG
CHƯƠNG V • GIÓ ĐÃ XOAY CHIỀU
PHẦN THỨ HAI • ĐỒNG MINH PHẢN CÔNG
CHƯƠNG VI • Ở TÂY NAM THÁI BÌNH DƯƠNG
CHƯƠNG VII • CHIẾN CUỘC GIÀNH QUẦN ĐẢO PHILIPPINES
CHƯƠNG VIII • TRÊN ĐẤT LIỀN CHÂU Á
CHƯƠNG IX • ĐƯA CHIẾN TRANH ĐẾN NƯỚC NHẬT
CHƯƠNG X • NHỮNG ĐÒN GIÁNG CUỐI CÙNG - TUYÊN CÁO POTSDAM VÀ TƯƠNG LAI
NHẬT BẢN
CHƯƠNG XI • NHẬT BẢN ĐẦU HÀNG
ĐOẠN KẾT
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
LỜI NÓI ĐẦU
Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương là một trong những bộ phận hợp thành cuộc Chiến tranh
Thế giới lần thứ hai (1939-1945). Mặc dù không sánh được với cuộc chiến châu Âu, đặc biệt là
cuộc chiến tranh Xô - Đức, về mức độ tập trung binh lực và vai trò quyết định đối với cuộc
Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng chiến tranh Thái Bình Dương diễn ra trên bình diện lớn,
gồm nhiều cường quốc tham gia, và có ảnh hưởng tới vận mệnh của đa số các quốc gia trong
khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nơi có số dân chiếm quá nửa nhân loại.
Do tầm quan trọng về nhiều phương diện, cuộc chiến tranh Thái Bình Dương đã được nghiên
cứu sâu rộng ở Mĩ, Nhật, Anh, Liên Xô và nhiều nước tham chiến khác. Trong 50 năm qua kể từ
khi cuộc chiến tranh Thái Bình Dương bắt đầu, hàng nghìn công trình về đề tài này đã được
công bố. Trong số đó phải kể đến các tác phẩm của các chính khách và quân nhân đã trực tiếp
lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường hồi đó. Ở Mĩ, đó là di cảo của Thổng thống F.D.Roosevelt
và các hồi ký của G.Kennan, cố vấn của Tổng Thống, của các ngoại trưởng C.Hull và J.Byrnes,
của đại sứ J.C.Grew, của tổng thống H.S.Truman, của tướng D.Mac Arthur, của tướng
J.Wainwright, của đô đốc H.Kimmel và của nhiều nhân vật khác. Ở Anh, là các hồi ký của thủ
tướng W.Churchill và ngoại trưởng A.Eden... Ở Liên Xô, trận tiêu diệt đạo quân Quan Đông của
Nhật ở Mãn Châu được diễn tả trong các hồi ký của nguyên soái A.Vasilesvski và của tướng
S.M.Stemenkop... Ở Nhật, mặc dù sự bại trận và việc trừng phạt các tội phạm chiến tranh đã
loại trừ nhiều nhân vật hàng đầu trong chính phủ và quân đội thời đó, người ta vẫn có thể đọc
nhật ký của tướng Fumimaro Konoe, các hồi ký của hoàng thân Koichi Kido, ngoại trưởng
Shigenori Togo, đổng lý văn phòng phủ thủ tướng Hisatsune Sakomizu, của đại sứ Kichisaburo
Nomura, tự truyện của thủ tướng Kantaro Suzuki, nhật ký của thủ tướng Korechika Anami, hồi
ký của trung tá Mitsuo Fuchida...
Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu của các nhà sử học và lịch sử quân sự, trong đó cuộc
chiến tranh Thái Bình Dương đã được trình bày tỉ mỉ kỹ càng đến từng nhân vật, từng chi tiết
sự kiện, thậm chí diễn biến từng giờ từng phút của từng sự kiện. Qua đó, những nguyên nhân, ý
nghĩa, bài học... của các sự kiện cũng như của toàn bộ cuộc chiến tranh đã được phân tích đầy
đủ. Trong số các nhà nghiên cứu ấy, có thể kể đến Maurice Maltloff, Louis Morton, Samuel
Morison, John Toland... ở Mĩ; David James, John Ehman, John Gwyer... ở Anh; Takushiro
Hattori, Sokichi Takagi... ở Nhật; Nikolai Nikolaievich Yakovlev, L.N.Vnotsenko... ở Liên Xô.
Dĩ nhiên, giữa các công trình ấy vẫn có sự khác biệt về quan điểm trong nhận định và đánh
giá các sự kiện. Ví dụ, các nhà sử học Mĩ cho đến nay vẫn còn tiếp tục tranh cãi về nguyên nhân
dẫn đến thảm họa Trân Châu Cảng và chiến tranh Nhật - Mĩ; hoặc giữa giới nghiên cứu phương
Tây với các nhà sử học Xô Viết vẫn còn khoảng cách rất xa trong việc đánh giá vai trò của chiến
dịch đánh tan đạo quân Quan Đông và vai trò của bom nguyên tử đối với sự đầu hàng của Nhật
Bản... Tuy vậy, những sự khác biệt này không cản trở việc biên soạn những bộ sử lớn về cuộc
chiến tranh, như bộ “Lịch sử các chiến dịch của Hải quân Mĩ trong Chiến tranh thế giới thứ hai”
của Samuel Morison, 16 tập, xuất bản từ 1946 đến 1960 ở Mĩ, công trình 5 tập của Woodburn
Kirby: “Cuộc chiến tranh chống Nhật” xuất bản ở Anh từ 1957 đến 1969; bộ “Lịch sử cuộc
chiến tranh Thái Bình Dương” 5 tập xuật bản ở Liên Xô năm 1958...
Trong toàn bộ tiến trình của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, Việt Nam (lúc đó nằm trong
xứ Đông Dương thuộc Pháp) chiếm vị trí rất đáng lưu ý. Chính việc quân Nhật kéo vào Đông
Dương (09-1940) rồi tiến xuống miền nam Đông Dương (07-1941) đã làm cho quan hệ Nhật Mĩ căng thẳng đến tột độ và trực tiếp dẫn đến chiến tranh. Thực tế là Đông Dương bị đặt vào
tình thế tham chiến ngay từ đầu cho đến cuối cuộc chiến. Trong suốt thời gian đó, Bộ tư lệnh
đạo quân phương Nam, lực lượng chủ ý để thực hiện tham vọng bành trướng của Nhật trên
khắp khu vực Đông Nam Á và Ấn Độ, được đặt tại Sài Gòn. Với hơn hai triệu người chết đói do
chính sách triệt để lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của Nhật, cộng thêm một số không nhỏ
những người thiệt mạng vì bom đạn mà đến nay vẫn chưa được thống kê, Việt Nam trở thành
một trong những dân tộc chịu nhiều tổn thất nhất trong cuộc chiến tranh này. Mặt khác, cuộc
chiến tranh cũng tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.
Dự kiến rằng “phe dân chủ đại thắng ở Thái Bình Dương, Liên Xô đại thắng, cách mạng các
thuộc địa Pháp, Nhật sôi nổi và nhất là quân Trung Quốc hay quân Anh – Mĩ tràn vào Đông
Dương” (trích Văn kiện Đảng Cộng Sản Việt Nam 1930-1945, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng
trung ương xuất bản, Hà Nội 1977, trang 217), Đảng Cộng Sản Đông Dương phân tích sâu sắc
“cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng”(trích Văn kiện Đảng
Cộng Sản Việt Nam 1930-1945, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng trung ương xuất bản, Hà Nội
1977, trang 285-302) để lãnh đạo cao trào cách mạng giải phóng dân tộc. Từ đó, dân tộc Việt
Nam đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chiến đấu trong suốt cuộc chiến tranh. Trong quá
trình đó, Đảng đã quan tâm theo dõi mọi diễn biến của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương để
điều chỉnh đường lối cách mạng cho phù hợp với thời cuộc và chớp đúng thời cơ phát động
Tổng khởi nghĩa vào tháng 08-1945 giành độc lập cho dân tộc.
Rõ ràng cuộc chiến tranh Thái Bình Dương có quan hệ mật thiết với cách mạng nước ta.
Nhưng số công trình viết về cuộc chiến tranh này được công bố và lưu hành ở Việt Nam còn
quá ít. Chiến tranh Thái Bình Dương chỉ được đề cập trong một số ít trang của một vài cuốn
sách giáo khoa lịch sử thế giới hiện đại dùng trong nhà trường. Số lượng các công trình của
nước ngoài về đề tài này được dịch sang tiếng Việt hoặc nguyên tác ở Việt Nam cũng còn ít.
Với hy vọng cung cấp thêm cho độc giả (trước hết là cho các nhà giáo và học sinh đang giảng
dạy và học tập lịch sử trong nhà trường) những kiến thức phổ thông về cuộc chiến tranh Thái
Bình Dương, chúng tôi cố gắng biên soạn cuốn sách này. Nhưng do những hạn chế về nguồn tư
liệu tham khảo, về năng lực và những lý do khác, chúng tôi chưa thể phân tích đầy đủ, sâu sắc
về các vấn đề của cuộc chiến tranh này. Tuy nhiên, việc trình bày các sự kiện dưới hình thức ký
sự lịch sử sẽ giúp bạn đọc dễ dàng hình dung toàn cảnh với những diễn biến cụ thể của cuộc
chiến tranh, lấy đó làm cơ sở để đi sâu tìm hiểu nguyên nhân, bản chất hoặc đánh giá các sự
kiện; đồng thời hiểu rõ thêm về đất nước, con người của các cường quốc tham chiến.
Theo Từ điển bách khoa quân sự Liên Xô (Moskva, 1986) thì chiến cuộc Thái Bình Dương
(1941-1945) bao gồm toàn bộ các hoạt động quân sự giữa các lực lượng vũ trang Nhật Bản với
Mĩ và Đồng minh của Mĩ tại châu Á – Thái Bình Dương. Hiểu như thế thì cuộc chiến tranh Thái
Bình Dương bao gồm cả cuộc chiến tranh chống Nhật của Trung Quốc và hoạt động bành
trướng của Nhật ở Ấn Độ và Ấn Độ Dương... Tuy nhiên, cuộc chiến tranh Trung - Nhật bùng nổ
từ trước đó, có những đặc điểm và tính chất riêng biệt lại ít biến động từ khi chiến tranh Thái
Bình Dương bắt đầu nên chúng tôi không trình bày kỹ trong sách này để tránh cho cuốn sách
trở nên quá nặng. Cuốn sách này cũng không đi sâu vào chính sách cai trị của Nhật ở những
vùng bị chiếm và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trong chiến tranh ở các thuộc địa.
Để làm nhẹ bớt dung lượng cuốn sách, chúng tôi cũng bỏ qua một số sự kiện, như việc quân
Nhật đánh chiếm các đảo ở Thái Bình Dương, việc đồng minh đánh vào Indonesia...
Ngược lại, chiến dịch Mãn Châu mà quân đội Liên Xô tiến hành nhằm tiêu diệt đạo quân
Quan Đông của Nhật giống với một bộ phận của cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Liên
Xô hơn là của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương nhưng chúng tôi vẫn trình bài kỹ sự kiện này
vì tầm quan trọng của nó đối với việc kết thúc chiến tranh.
Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương mà người Nhật gọi là “Chiến tranh Đại Đông Á” cùng
chung nguyên nhân với cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Đó là mâu thuẫn giữa các cường
quốc đế quốc còn tồn đọng từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Tại châu Á – Thái Bình Dương,
mâu thuẫn đó thể hiện bằng sự tranh chấp ngày càng quyết liệt giữa Nhật Bản với các đế quốc
phương Tây mà trước hết là Mĩ về thuộc địa, thị trường, quyền kiểm soát tình hình kinh tế và
chính trị đối với các dân tộc trong khu vực. Mâu thuẫn đó sâu sắc tới mức vượt qua cả mâu
thuẫn giữa Nhật Bản (và thế giới tư bản nói chung) với Liên Xô mà họ luôn tìm cách bóp chết.
Trong khi phát xít Đức giáng đòn tấn công trước hết vào các cường quốc tư bản châu Âu rồi
mới tiến đánh Liên Xô thì quân phiệt Nhật đã chọn Mĩ và các đế quốc phương Tây làm đối thủ
chính của mình, đồng thời hòa hoãn với Liên Xô ngay cả khi quân Đức tiến dần đến Moskva và
Hitler ra sức hối thúc Nhật cùng đánh Liên Xô. Sự lựa chọn ấy xuất phát từ những tính toán về
chiến lược, chiến thuật, nhưng cũng cho thấy những xung đột về quyền lực kinh tế và chính trị
là nghiêm trọng hơn so với mâu thuẫn về hệ tư tưởng.
Xuất phát từ nguyên nhân trên, cuộc chiến tranh Thái Bình Dương về cơ bản mang tính chất
đế quốc chủ nghĩa đối với cả hai bên tham chiến. Tuy vậy, kẻ châm ngòi lửa chiến tranh để dẫn
tới bao thảm họa cho các dân tộc châu Á – Thái Bình Dương chính là bọn quân phiệt Nhật. Do
đó các lực lượng đấu tranh vì độc lập, dân chủ và tự do đã đứng về phía đồng minh chống Nhật.
Vì không hiểu rõ tính chất phi nghĩa của chiến tranh nên binh lính, sĩ quan và cả một bộ phận
không nhỏ dân chúng Nhật đã chiến đấu quyết tử “vì Thiên hoàng và vinh quang của Nhật Bản”
theo truyền thống võ sĩ đạo. Sự thật khách quan đó được trình bày trong sách này sẽ giúp bạn
đọc hiểu thêm về tính cách người Nhật biểu hiện trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Trên thực tế, bọn quân phiệt Nhât bắt đầu nhen ngọn lửa chiến tranh ngay từ ngày 18-091931 với việc tiến hành xâm lược Mãn Châu, biến vùng này thành thuộc địa và căn cứ quân sự
của chúng. Nhật Bản đã dựng lên ở đây chính phủ “Mãn Châu quốc” do hoàng đế cuối cùng của
triều đại Mãn Thanh đã bị lật đổ là Phổ Nghi làm vua bù nhìn.
Chính sách thỏa hiệp và nhượng bộ của Mĩ - Anh - Pháp đối với bọn phát xít quân phiệt đã
khuyến khích chúng đẩy mạnh việc xâm lược. Ngày 25 tháng 11 năm 1936, Nhật và Đức ký
hiệp ước liên mình quân sự nhằm chia lại thế giới nhưng núp dưới chiêu bài “chống quốc tế
cộng sản”. Ngày 07 tháng 07 năm 1937, gây ra “sự biến Lư Câu Kiều”, bọn quân phiệt Nhật bắt
đầu tiến hành chiến tranh xâm lược toàn Trung Quốc. Do lực lượng kháng chiến của Trung
Quốc (gồm lực lượng của chính phủ trung ương Quốc dân đảng và lực lượng của Đảng Cộng
Sản) chưa đủ mạnh và phản ứng của Mĩ - Anh - Pháp lại rất yếu ớt, nên Nhật đã nhanh chóng
chiếm đóng hầu hết vùng Hoa Bắc và Hoa Trung, buộc chính phủ Tưởng Giới Thạch phải dời
thủ đô từ Nam Kinh về Trùng Khánh. Tuy thế, Nhật Bản không thể bẻ gãy được cuộc kháng
chiến của Trung Quốc được Mĩ và Liên Xô ủng hộ mạnh mẽ. Từ Trung Quốc, quân Nhật đã tấn
công khiêu khích Liên Xô ở vùng hồ Khasan (tháng 07-1938) và sông Khalkhin Gol (tháng 051939) nhưng đã bị Hồng quân giáng cho những đòn chí tử. Thất bại này đã làm giảm sút ý chí
“Bắc tiến” (tức tiến công Liên Xô) của giới lãnh đạo lục quân Nhật. Nhân lúc Pháp bị Đức đánh
bại ở châu Âu, từ 22-09-1940 quân Nhật kéo vào Đông Dương, đe dọa toàn bộ hệ thống thuộc
địa của các đế quốc phương Tây ở Đông Nam Á. Tuy vậy, chính phủ các nước Mĩ - Anh vẫn chủ
trương dàn xếp bằng con đường đối thoại, chủ yếu qua cuộc đàm phán giữa ngoại trưởng Hoa
Kì Cordell Hull với đại sứ Nhật ở Mĩ Kichisaburo Nomura từ tháng 03-1941. Đến đầu tháng 121941, chiến tranh đã lan tràn trên một vùng rộng lớn ở Đông Dương và Đông Nam Á. Bên cạnh
các thuộc địa cũ là Triều Tiên, Đài Loan và quần đảo Ryukyu, Nhật Bản đã chiếm đóng Mãn
Châu, một phần lớn lãnh thổ Trung Quốc và Đông Dương thuộc Pháp. Tuy vậy, mãi đến ngày 07
tháng 12 (giờ Washington) tức 08 tháng 12 (giờ Tokyo) năm 1941, khi quân đội Nhật gần như
cùng một lúc tấn công căn cứ quân sự Mĩ ở Trân Châu Cảng và căn cứ quân sự Anh ở gần biên
giới Thái Lan – Mã Lai, buộc Mĩ và Anh phải tuyên chiến, thì cuộc chiến tranh Thái Bình Dương
mới chính thức bắt đầu. Chiến tranh đã diễn ra trong hơn 3 năm 8 tháng cho đến ngày 15-081945, khi Nhật hoàng chính thức tuyên đọc chỉ dụ đầu hàng Đồng minh vô điều kiện thì cuộc
chiến tranh Thái Bình Dương mới chấm dứt và đi vào lịch sử.
PHẦN THỨ NHẤT
THỜI NHẬT TẤN CÔNG
CHƯƠNG I
BỐN MƯƠI TÁM GIỜ TRƯỚC CƠN BÃO TÁP
• TỪ ĐÔNG Á ĐẾN WASHINGTON
Tại Manila (Philippines), sáng sớm ngày 06-12-1941, giới quan chức cao cấp của hải quân
Hoa Kì tại Thái Bình Dương ra bờ vịnh Manila chuẩn bị nghênh tiếp một vị thượng khách.
Đúng 8 giờ 30, chiếc thủy phi cơ Catalina mang cờ Anh từ từ hạ cánh xuống bờ vịnh thuộc
quân cảng Cavite.
Phó đô đốc Tom Philips, tư lệnh hạm đội Anh ở Viễn Đông và các sĩ quan tùy tùng lên bờ. Đô
đốc Thomas Hart, tư lệnh hạm đội châu Á của Hoa Kì ra nghênh tiếp. Họ đưa nhau về Bộ chỉ
huy hạm đội.
Tình hình thế giới vô cùng căng thẳng. Chiến tranh Xô - Đức đang diễn ra cực kỳ ác liệt. Chiến
tranh giữa Anh với Đức – Ý gieo rắc bao nỗi thống khổ ở Bắc Phi, trên mặt nước Đại Tây
Dương, Bắc Băng Dương. Vì vậy mới có cuộc hội kiến này. Nước Anh vội gửi qua Viễn Đông
tuần dương hạm hạng nặng và thiết giáp hạm Prince of Wales, đã từng giành được những
chiến thắng lẫy lừng ở Đại Tây Dương trong những tháng qua. Hạm đội này được giao cho Tom
Philips, người hôm nay đến đây để trao đổi ý kiến với Tư lệnh hải quân Hoa Kì tại châu Á.
Đô đốc Hart chủ trì cuộc họp, bên cạnh ông là tham mưu trưởng, phó đô đốc William
R.Purnell và chuẩn phó đô đốc F.W.Rockwell tư lệnh căn cứ Cavite (theo E.Romat:”Combats en
mer Pacifique: 41-45”. NXB Jai lert 1964, Paris tr.9-10).
Mở đầu, nêu lên những nỗi lo âu của phía Mĩ, tư lệnh Hart nói:
— Từ tháng 6 năm 1941, chúng tôi tin chắc rằng, lợi dụng việc Đức đang thắng thế ở châu Âu
và Đại Tây Dương, người Nhật sẽ tiến công. Ngoài ra, tôi còn dựa vào các nguyên nhân khác. Ví
dụ như, người Hoa Kì đã phong tỏa các trương mục ở ngân hàng mà Mĩ cho Nhật vay để mua
dầu hỏa của Indonesia. Khi chiến tranh bùng nổ, tôi tin rằng Nhật sẽ đánh cả Mĩ, Anh lẫn Hà
Lan. Trên cơ sở ấy, chúng tôi đã nghiên cứu và đi đến bản sơ thảo kế hoạch phòng ngự liên kết
với hải quân hoàng gia Anh và hải quân hoàng gia Hà Lan. Ngày 7 tháng 11 vừa qua, đô đốc
Kimmel, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương ở Hawaii có điện cho tôi: “Bức điện này, đô đốc có
thể xem như là một báo động chiến tranh. Cuộc đàm phán với Nhật về việc bình thường hóa
tình hình ở Á châu rơi vào ngõ cụt. Một cuộc tấn công của Nhật có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Nhiều dấu hiệu cho thấy Nhật đang chuẩn bị những cuộc hành quân đổ bộ ở Thái Lan,
Philippines, Mã Lai và có thể là Bornéo nữa. Nên dàn quân phòng ngự và đề cao đạo quân thứ 5
của Nhật Bản phá hoại các cơ sở trên đất” (theo E.Romat, sách đã dẫn, tr.11).
Sau khi đọc xong bức điện, đô đốc Hart nói tiếp:
“Ba chúng ta, Mĩ - Anh – Hà Lan là cùng một hội, cùng thuyền. Hôm đầu tháng này (tháng 121941) Bộ Hải quân Mĩ điện cho phép tôi được tiến hành không thám khắp vùng biển Nam Hải
(biển Đông), chụp ảnh mọi sự di chuyển của hải quân Nhật. Mặt khác tôi đã phân tán hạm đội
Hoa Kì đến nhiều nơi. Một số khác tôi gửi sang Indonesia (thuộc Hà Lan)”.
Đô đốc Anh hỏi:
— Quý quốc chưa tham chiến tại sao lại có thể gửi hạm đội đến một lãnh thổ của Hà Lan,
đang trong tình trạng chiến tranh chống Đức được?
— Có khó gì đâu, chỉ cần một mẹo nhỏ thôi. Tôi nháy mắt với tư lệnh hải quân Hà Lan
Hefrich trước. Sau đó tôi đến nơi, gọi là trục trặc máy móc, cần cơ sở để sửa chữa, đề nghị họ
giúp tôi bơm dầu. Cứ mỗi cảng của họ tôi ở vài ngày cần thiết cho sự sửa chữa là xong. Không
vi phạm công pháp quốc tế nào cả. Ví như tôi muốn gửi hạm đội tôi đến cảng Nhật, thủ tục
cũng như thế thôi.
— Ngài quả thực là kỳ tài. Còn kết quả không thám ra sao?
Đô đốc Hart gọi đại tá Wagner, chuyên viên giải đoán không ảnh, Wagner thuyết trình: “Tôi
chia các biển xung quanh Philippines thành nhiều vùng để không thám bằng thủy phi cơ
Catalina. Vào ngày 02-12, 20 tàu vận tải của hải quân Nhật và tàu hàng vào đậu ở Cam Ranh.
Hôm sau, một số khác đến, nâng tổng số tàu ở vịnh Cam Ranh lên đến 50 chiếc trong đó có
tuần dương hạm và khu trục hạm. Nhưng rạng sáng ngày 4, máy bay của tôi thấy vịnh này vắng
lặng, không còn chiếc tàu nào cả. Không biết nó đi đâu. Ngày hôm qua, máy bay tuần tra của
chúng tôi gặp các máy bay Nhật đến gần phía biển Bắc Luzon."
Hai vị đô đốc hội bàn và đi đến kết luận: người Nhật có thể đổ bộ một nơi nào đó trên bán
đảo Mã Lai, từ đó họ có thể tiến về Bangkok hay Singapore cũng được. Phía Mĩ thì lo ngại trước
sự có mặt ngày càng tăng của tàu ngầm Nhật ở Thái Bình Dương.
Buổi chiều cùng ngày 06-12, một sự kiện đột ngột làm cho chương trình nghị sự bị rút ngắn.
Một bức điện nhận được cho thấy:
— Máy bay phòng thám Anh phát hiện đoàn tàu Nhật ở vĩ độ 8, kinh độ 100, phía Nam Hòn
Khoai (Cà Mau), di chuyển về hướng Tây.
Đô đốc Anh buộc phải từ giã bạn đồng sự người Mĩ để về Singapore, đối phó với tình hình
mới.
Suốt ngày 07-12, không khí nóng bỏng. Mọi người Mĩ ở Philippines chờ đợi chiến tranh từng
giờ từng phút vì căn cứ không quân Nhật ở Đài Loan hoặc Hải Nam chỉ cách Manila độ 2 giờ
bay. Tại sân bay Clark, 16 chiếc pháo đài bay B17 nằm kề nhau như đang chuẩn bị chờ một
cuộc thanh tra. Căn cứ chính của không quân Hoa Kì ở Viễn Đông này đang đợi một lực lượng
bổ sung là 30 pháo đài bay nữa. 12 chiếc đầu trong số đó đã cất cánh từ California, sẽ đến
Hawaii vào sáng rồi bay tiếp về đây. Mặc dù tình hình căng thẳng nhưng buổi tối, không đoàn
27 oanh tạc cơ vẫn tổ chức chiêu đãi thiếu tướng Lewis Brereton, tư lệnh lực lượng không
quân Viễn Đông của Hoa Kì vửa mới thành lập. Dự tiệc nhưng ai cũng lo nghĩ về ngày mai.
Tham mưu trưởng hạm đội châu Á của Hoa Kì nói với tư lệnh của mình là đô đốc Hart rằng:
chiến tranh chỉ là vấn đề ngày giờ mà thôi.
* Tại Washington, ngày 06-12-1941
Tại Bộ hải quân Hoa Kì, Bộ trưởng hải quân Frank Knox chủ tọa một buổi họp với các giới
chức hải quân bàn về một bản tin đánh đi từ Đông Nam Á: một hạm đội Nhật gồm 35 tàu
chuyển quân, 8 tuần dương hạm và 20 khu trục hạm đã rời đảo Hải Nam tiến về phía bán đảo
Mã Lai.
Ông ta hỏi các vị đô đốc: người Nhật định làm gì?
Phó đô đốc Kelly Turner trả lời: “Thưa ngài Bộ trưởng, họ đi đánh người Anh, họ chưa chuẩn
bị để đụng với chúng ta đâu”. Không ai có ý kiến khác.
Trong khi ấy, Ban mật mã của hải quân Hoa Kì chuẩn bị đi nghỉ cuối tuần. Phần lớn nhân viên
chuẩn bị rời phòng làm việc lúc 12 giờ trưa nhưng một nữ nhân viên, cô Dorothy Edgers nhìn
qua bản Magic (bản thu bắt và giải mã các bức điện mà Bộ ngoại giao Nhật gửi cho tòa đại sứ
Nhật ở Washington và các Tổng lãnh sự ở các địa phương) bỗng ngạc nhiên thấy bức điện đề
ngày 02-12 gửi từ Tokyo cho Tổng lãnh sự Kita ở Honolulu (Hawaii) hỏi ông này về tình hình
phòng thủ Trân Châu Cảng, đặc biệt đỏi xác nhận Hoa Kì có thả các khí cầu phòng không hay
không. Cô ta đưa bức điện này cho cấp trên nhưng người này bảo hãy chờ đến sáng thứ hai hãy
dịch và đánh máy.
Tại Nhà trắng, tổng thống Franklin Delano Roosevelt đã thảo bức thông điệp gửi trực tiếp
cho Nhật hoàng qua toàn đại sứ Hoa Kì ở Tokyo, trong đó vạch rõ rằng hòa bình thế giới bị đe
dọa nặng nề vì quân đội Nhật tăng cường chiếm đóng Đông Dương thuộc Pháp. Hoa Kì yêu cầu
Nhật hãy lui quân, Hoa Kì hứa không bao giờ chiếm vùng đất này cũng như Anh và các đồng
minh khác.
7 giờ tối, bản thông điệp được điện sang Nhật và đến Tokyo vào trưa ngày 7 nhưng bộ phận
kiểm duyệt Nhật tự ý giữ lại 10 tiếng đồng hồ. Do đó đại sứ Grew tại Tokyo chỉ nhận được vào
lúc 11 giờ đêm.
Tại Văn phòng mật mã của hải quân Hoa Kì, các chuyên viên giải mã đã giải xong 13 trong 14
điểm của bản văn mà Bộ ngoại giao Nhật gửi cho đại sứ Nhật nhằm đệ trình lên tổng thống
Hoa Kì (người Nhật tin rằng không ai có thể giải được các mật mã ngoại giao và hải quân của
họ. Nhưng thực tế Hoa Kì với chiến dịch Magic đã giải được tất cả. Nghĩa là giới hữu trách Hoa
Kì đọc trước, biết trước cả tòa đại sứ Nhật những gì Tokyo gửi đến).
Nhận định tầm quan trọng của 13 phần trong bức thông điệp này, trung tá Kramer báo cho
Trung tâm hành quân và đích thân mang bản dịch đến Nhà Trắng.
Đọc xong, tổng thống Roosevelt nói với Hopkins, cố vấn đặc biệt của ông: “Thế là chiến
tranh”.
Hopkins nói: “Tức quá, chúng ta không thể tránh trước được.”
Đô đốc Harold Stark, tư lệnh hải quân Hoa Kì đêm ấy đang xem hát nhưng đầu óc ông ta lúc
nào cũng nghĩ: nơi nào sẽ bị Nhật đánh đầu tiên: Singapore, Philippines, kênh đào Panama
chăng? Nhưng không bao giờ có ý nghĩ Nhật đánh Trân Châu Cảng.
Tướng Sherman Miles, Cục trưởng tình báo của lục quân hôm ấy dùng cơm tối với Giám đốc
tình báo hải quân. Ông ta đọc 13 phần của thông điệp Nhật với con mắt của nhà quân sự nên
“không thấy có lý do gì để báo động” và sau đó về nhà ngủ thẳng một mạch.
* Tại Hawaii, trên đảo Oahu
Tối thứ bảy 06-12, tướng Walter Short, tư lệnh lực lượng quân phòng thủ quần đảo chủ trì
một cuộc họp đột xuất với các sĩ quan tình báo và phản gián tại nhà riêng của ông để bàn về
nội dung một bản báo cáo của cơ quan FBI vừa gửi tới (F.B.I – Federal Bureau of Investigation
– Cục điều tra Liên Bang: cơ quan cảnh sát chính trị của Mĩ). Báo cáo cho biết một nha sĩ Nhật
sống ở đây đã điện cho một tờ báo ở Tokyo về các máy bay, đèn pha, thời tiết, về cả “hoa bông
bụt, bông giấy đang nở rộ”. Hội nghị chưa tìm ra ý nghĩa của bức điện này, tướng Short cho giải
tán và dặn các sĩ quan về nghỉ ngơi thoải mái cho đến sáng hôm sau. Xong ông lên xe cùng với
vợ đến câu lạc bộ sĩ quan.
Đô đốc Husband Kimmel, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kì trú đóng tại Hawaii
tham dự chiêu đãi tại một nhà hàng lớn. Ông rời bàn tiệc lúc 21 giờ 30 về ngủ tại nhà riêng.
Cả hai vị chỉ huy cao cấp nhất tại Hawaii này đều đồng ý rằng không cần phải tăng cường tình
hình báo động ở quần đảo này hơn nữa. Vả lại, trong các chỉ dẫn của Washington không thấy
nói gì về không kích, chỉ nói là nên đề phòng tàu ngầm, điệp viên phá hoại. Do đó, chế độ thời
bình được duy trì cho quân nhân trên đảo.
Trong khi nghi vấn bức điện của một nha sĩ nào đó, các giới chức quân sự Mĩ và FBI hoàn
toàn không nghi ngờ một điệp viên cự phách của tình báo Nhật đội lốt viên chức Lãnh sự quán
Nhật tại Honolulu mang tên Tadashi Morimura đang khẩn trương hoàn tất sứ mệnh của mình.
Trong ngày, từ tòa lãnh sự ông ta đã điện về Tokyo, thông báo rằng Hoa Kì không chuẩn bị gì
để đối phó với một cuộc tấn công của Nhật Bản tại đây, “không có lưới phòng chống ngư lôi
quanh các thiết giáp hạm, không có khí cầu phòng không gần Trân Châu Cảng” và khẳng định
“có thể lợi dụng cơ hội rất thuận lợi này để tấn công bất ngờ”. Đêm khuya, ông ta lại đánh đi
một bức điện bổ sung, miêu tả kỹ càng vị trí thả neo của các chiến hạm trong cảng và nhấn
mạnh “không có những phi vụ trinh sát xa xuất phát từ hạm đội”.
* Tại Singapore
Pháo đài kiên cố của đế quốc Anh và nền đá tảng của sự phòng của các nước đồng minh Tây
phương tại vùng Đông Nam Á: việc bố phòng đã được tăng cường để ngăn không cho người
Nhật tiến về vùng giàu cao su, dầu hỏa ở Indonesia vả cửa ngõ của Ấn Độ Dương.
Người Anh đã bỏ ra 60 triệu bảng lo việc bố phòng đảo này và một hạm đội hùng hậu với hai
tàu chiến tối tân nhất thế giới để bảo vệ Mã Lai–Singapore. Hạm đội này có nhiệm vụ đánh
quân đổ bộ ngay từ lúc nó còn đang di chuyển trên tàu, không để cho nó xuống đất.
Nhưng về phòng thủ trên bờ thì có nhiều bất hợp lý. Ví như súng phòng thủ ở trong các pháo
đài chỉ có thể quay nòng về biển (ở phía nam) chứ không thể quay nòng về đất liền (phía bắc).
* Tại Đông Dương
Tuy nhà cầm quyền Pháp vẫn còn cai trị với toàn quyền Decoux nhưng chính phủ Vichy của
thống chế Pétain đã từ lâu nhượng Đông Dương cho Nhật. Quân Nhật đóng căn cứ tại sân bay
Tân Sơn Nhất (Sài Gòn), sử dụng tiện nghi hải quân ở Cam Ranh, Đà Nẵng và đóng quân ở Bắc
Bộ.
Hôm nay, nguyên soái Hisaichi Terauchi (vài ngày sau được phong chức tư lệnh chiến
trường phương Nam) nhận được một mật điện, có đoạn văn:
“NITAKA YAMA NOBORE, 1208”
Nghĩa là: cuộc chiến tranh toàn diện chóng các nước A, B, C, D vào ngày 08-12-1941 (người
Nhật dùng các chữ cái A, B, C, D để chỉ American (Mĩ), British (Anh), China (Trung Quốc), Dutch
(Hà Lan)).
Trên mặt nổi, Terauchi là tư lệnh Nhật ở Đông Dương. Mặt chìm, ông ta là Tổng tư lệnh toàn
thể chiến trường phương Nam (tức Philippines, Mã Lai, Singapore, Indonesia, Miến Điện và
sau này cả Ấn Độ nữa).
* Tại Hong Kong:
Một pháo đài lớn nhất của Đế quốc Anh, nằm tiếp cận với quân đoàn 23 Nhật chiếm đóng
Hoa Nam (Trung Quốc): 11.319 quân trú phòng gồm cả hải – lục – không quân hoàng gia Anh
đã được báo động, và họ vẫn tin tưởng ở sức mạnh vô địch của đế quốc Anh. Nhưng dân chúng
thì cầm chắc Nhật sẽ đánh trong thời gian tới.
Vào lúc 10 giờ đêm này, các toán quân cảnh vào các nhà hàng, khách sạn, vũ trường kêu gọi
những người thuộc hải quân và hàng hải thương thuyền hãy về tàu gấp. Tin tức về việc hạm
đội Nhật rời Hải Nam cho mọi người biết: tử thần sắp gõ cửa.
* Tại Thượng Hải
Trong các tô giới của Anh và Pháp: quân trú phòng đưa nhau vào các quán ăn, vũ trường, vui
sống những ngày cuối cùng của hòa bình. Hơn ai hết, họ biết rằng mình nằm giữa lòng quân
Nhật như một ốc đảo, nếu chiến tranh xảy ra, thì chỉ có chết hoặc trở thành tù binh mà thôi.
Tại bến cảng, 2 pháo hạm: một của Anh, một của Mĩ, duy trì sự có mặt của phương Tây. Họ cố
bám vào ảo vọng thời đại Victoria huy hoàng mà ngọn cờ Anh tỏa bóng khắp hoàn cầu.
Như vậy, từ Washington cho đến Thượng Hải, mọi người đều cầm chắc Nhật sẽ tiến công.
Nhưng thời điểm và mục tiêu bị tiến công vẫn còn là ẩn số.
Các Bộ tham mưu của phương Tây đều đưa ra các phán đoán. Người thì cho rằng Nhật đánh
Hong Kong – Philippines. Kẻ thì cho rằng đánh Singapore, thậm chí cả kênh đào Panama nữa.
Nhưng tuyệt nhiên, không ai nghĩ rằng Nhật sẽ đổ bộ ở biên giới Thái Lan – Mã Lai và đánh
Hawaii.
• TẠI TOKYO, NGÀY 6 VÀ 7 THÁNG 12
Ở Phủ thủ tướng và Bộ chiến tranh Nhật, để đánh lừa con mắt của các điệp viên, người ta vẫn
duy trì chế độ làm việc bình thường. Nghĩa là người đang nghỉ phép vẫn tiếp tục nghỉ, người
làm việc vẫn không có gì hối hả.
Cuộc tiến công của Nhật nếu muốn thành công trọn vẹn phải hoàn toàn bất ngờ. Mọi việc đều
phải hướng về tinh thần này.
Nhưng cũng có những sự “bất ngờ” đối với Nhật. Tướng Tsutomu Sakai, tư lệnh quân đoàn
23 ở Quảng Châu (Trung Quốc) điện về cho biết một máy bay chở quân của Nhật rơi trong
vùng kiểm soát của quân Trung Hoa và thiếu tá Sugisaka, người mang tài liệu của cuộc hành
quân đánh Hong Kong sắp diễn ra, nằm trong số những người bị mất tích. Như vậy có nên dời
kế hoạch Tổng tiến công hay không?
Nhưng Thủ tướng Hideki Tojo vẫn quyết định: đánh đúng theo kế hoạch định trước.
Tổng tham mưu trường lục quân cùng với Tổng tham mưu trưởng hải quân Nhật vào bệ kiến
Thiên hoàng. Họ cho biết sẽ đánh Trân Châu Cảng vào ngày 08-12-1941 (giờ Tokyo), nghĩa là
ngày 07-12-1941 ở Hawaii, một ngày chủ nhật, mọi người vui chơi hoặc nghỉ ngơi. Mặt trăng
sẽ hé sáng lúc máy bay khởi hành, vì hôm ấy là 20 âm lịch, có trăng từ 1 giờ khuya đến sáng (về
ngày giờ có sự khác biệt như sau: đối với Nhật, và một số nước Đông Á như Triều Tiên,
Philippines... đó là ngày thứ hai 08-12-1941 tức ngày 20-10 âm lịch; còn đối với Hawaii, Hoa
Kì, đó là ngày chủ nhật 07-12 (tức ngày 19-10 âm lịch).
Hai giờ chiều này hôm ấy (6-12), Tổng tham mưu trưởng Sugiyama đánh một mật điện vẻn
vẹn 2 chữ “Hinode Yamagata”. Giải mã ra có nghĩa là “Tiến công ngày 08-12”. Bức điện đến tay
Tư lệnh hành quân phương Nam. Ba giờ chiều, Tư lệnh hạm đội liên họp, thủy sư đô đốc
Yamamoto đánh bức điện cho Tư lệnh lực lượng đặc nhiệm Z (đánh Hawaii): “Hitaka Ya Ma
Nobore”.
Trong lúc đó, tờ báo tiếng Anh ở Tokyo “Japan Times and Advertiser” đăng tít lớn “NHẬT
BẢN CÓ NHỮNG CỐ GẮNG MỚI ĐỂ MƯU TÌM SỰ THÔNG CẢM CỦA HOA KỲ Ở BÀN HỘI NGHỊ”.
* Tại dinh Thủ tướng
Thủ tướng Tojo (Đông Điều) và ngoại trưởng Shigenori Togo (Đông Hưng) họp mặt có cả đô
đốc Ijo.
Thủ tướng và ngoại trưởng đồng ý với nhau là bức thông điệp “Tuyên bố cắt đứt hội đàm”
phải được trao lúc 12 giờ 30 ngày 07-12 (giờ Washington), tức là trước khi dội bom Trân Châu
Cảng. Nhưng sợ tính giờ không đúng nên họ quyết định lại là 13 giờ trưa.
Trở về tư dinh của mình, Thủ tướng Tojo ra lệnh cho lính đem ngựa ra trước nhà. Ông ta thay
đồ cưỡi ngực, dự định đi dạo chơi. Thích cưỡi ngựa đã đành, nhưng ông ta cũng muốn cho mọi
người thấy “Thủ tướng an nhàn, chắc không có gì đặc biệt cả”.
Trong lúc đó, đổng lý văn phòng thủ tướng, ông Hisino vẫn chơi quần vợt trên sân công cộng
và mọi người đều trông thấy, kể cả ngoại giao đo...
Lê Vinh Quốc & Huỳnh Văn Tòng
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
CUỘC CHIẾN TRANH THÁI BÌNH DƯƠNG (1941-1945)
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN THỨ NHẤT • THỜI NHẬT TẤN CÔNG
CHƯƠNG I • BỐN MƯƠI TÁM GIỜ TRƯỚC CƠN BÃO TÁP
CHƯƠNG II • CHIẾN TRANH BẮT ĐẦU - TRÂN CHÂU CẢNG
CHƯƠNG III • CHIẾN TRANH BẮT ĐẦU - CHIẾN TRƯỜNG ĐÔNG NAM Á
CHƯƠNG IV • MỘT THỜI CHIẾN THẮNG
CHƯƠNG V • GIÓ ĐÃ XOAY CHIỀU
PHẦN THỨ HAI • ĐỒNG MINH PHẢN CÔNG
CHƯƠNG VI • Ở TÂY NAM THÁI BÌNH DƯƠNG
CHƯƠNG VII • CHIẾN CUỘC GIÀNH QUẦN ĐẢO PHILIPPINES
CHƯƠNG VIII • TRÊN ĐẤT LIỀN CHÂU Á
CHƯƠNG IX • ĐƯA CHIẾN TRANH ĐẾN NƯỚC NHẬT
CHƯƠNG X • NHỮNG ĐÒN GIÁNG CUỐI CÙNG - TUYÊN CÁO POTSDAM VÀ TƯƠNG LAI
NHẬT BẢN
CHƯƠNG XI • NHẬT BẢN ĐẦU HÀNG
ĐOẠN KẾT
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
LỜI NÓI ĐẦU
Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương là một trong những bộ phận hợp thành cuộc Chiến tranh
Thế giới lần thứ hai (1939-1945). Mặc dù không sánh được với cuộc chiến châu Âu, đặc biệt là
cuộc chiến tranh Xô - Đức, về mức độ tập trung binh lực và vai trò quyết định đối với cuộc
Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng chiến tranh Thái Bình Dương diễn ra trên bình diện lớn,
gồm nhiều cường quốc tham gia, và có ảnh hưởng tới vận mệnh của đa số các quốc gia trong
khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nơi có số dân chiếm quá nửa nhân loại.
Do tầm quan trọng về nhiều phương diện, cuộc chiến tranh Thái Bình Dương đã được nghiên
cứu sâu rộng ở Mĩ, Nhật, Anh, Liên Xô và nhiều nước tham chiến khác. Trong 50 năm qua kể từ
khi cuộc chiến tranh Thái Bình Dương bắt đầu, hàng nghìn công trình về đề tài này đã được
công bố. Trong số đó phải kể đến các tác phẩm của các chính khách và quân nhân đã trực tiếp
lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường hồi đó. Ở Mĩ, đó là di cảo của Thổng thống F.D.Roosevelt
và các hồi ký của G.Kennan, cố vấn của Tổng Thống, của các ngoại trưởng C.Hull và J.Byrnes,
của đại sứ J.C.Grew, của tổng thống H.S.Truman, của tướng D.Mac Arthur, của tướng
J.Wainwright, của đô đốc H.Kimmel và của nhiều nhân vật khác. Ở Anh, là các hồi ký của thủ
tướng W.Churchill và ngoại trưởng A.Eden... Ở Liên Xô, trận tiêu diệt đạo quân Quan Đông của
Nhật ở Mãn Châu được diễn tả trong các hồi ký của nguyên soái A.Vasilesvski và của tướng
S.M.Stemenkop... Ở Nhật, mặc dù sự bại trận và việc trừng phạt các tội phạm chiến tranh đã
loại trừ nhiều nhân vật hàng đầu trong chính phủ và quân đội thời đó, người ta vẫn có thể đọc
nhật ký của tướng Fumimaro Konoe, các hồi ký của hoàng thân Koichi Kido, ngoại trưởng
Shigenori Togo, đổng lý văn phòng phủ thủ tướng Hisatsune Sakomizu, của đại sứ Kichisaburo
Nomura, tự truyện của thủ tướng Kantaro Suzuki, nhật ký của thủ tướng Korechika Anami, hồi
ký của trung tá Mitsuo Fuchida...
Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu của các nhà sử học và lịch sử quân sự, trong đó cuộc
chiến tranh Thái Bình Dương đã được trình bày tỉ mỉ kỹ càng đến từng nhân vật, từng chi tiết
sự kiện, thậm chí diễn biến từng giờ từng phút của từng sự kiện. Qua đó, những nguyên nhân, ý
nghĩa, bài học... của các sự kiện cũng như của toàn bộ cuộc chiến tranh đã được phân tích đầy
đủ. Trong số các nhà nghiên cứu ấy, có thể kể đến Maurice Maltloff, Louis Morton, Samuel
Morison, John Toland... ở Mĩ; David James, John Ehman, John Gwyer... ở Anh; Takushiro
Hattori, Sokichi Takagi... ở Nhật; Nikolai Nikolaievich Yakovlev, L.N.Vnotsenko... ở Liên Xô.
Dĩ nhiên, giữa các công trình ấy vẫn có sự khác biệt về quan điểm trong nhận định và đánh
giá các sự kiện. Ví dụ, các nhà sử học Mĩ cho đến nay vẫn còn tiếp tục tranh cãi về nguyên nhân
dẫn đến thảm họa Trân Châu Cảng và chiến tranh Nhật - Mĩ; hoặc giữa giới nghiên cứu phương
Tây với các nhà sử học Xô Viết vẫn còn khoảng cách rất xa trong việc đánh giá vai trò của chiến
dịch đánh tan đạo quân Quan Đông và vai trò của bom nguyên tử đối với sự đầu hàng của Nhật
Bản... Tuy vậy, những sự khác biệt này không cản trở việc biên soạn những bộ sử lớn về cuộc
chiến tranh, như bộ “Lịch sử các chiến dịch của Hải quân Mĩ trong Chiến tranh thế giới thứ hai”
của Samuel Morison, 16 tập, xuất bản từ 1946 đến 1960 ở Mĩ, công trình 5 tập của Woodburn
Kirby: “Cuộc chiến tranh chống Nhật” xuất bản ở Anh từ 1957 đến 1969; bộ “Lịch sử cuộc
chiến tranh Thái Bình Dương” 5 tập xuật bản ở Liên Xô năm 1958...
Trong toàn bộ tiến trình của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, Việt Nam (lúc đó nằm trong
xứ Đông Dương thuộc Pháp) chiếm vị trí rất đáng lưu ý. Chính việc quân Nhật kéo vào Đông
Dương (09-1940) rồi tiến xuống miền nam Đông Dương (07-1941) đã làm cho quan hệ Nhật Mĩ căng thẳng đến tột độ và trực tiếp dẫn đến chiến tranh. Thực tế là Đông Dương bị đặt vào
tình thế tham chiến ngay từ đầu cho đến cuối cuộc chiến. Trong suốt thời gian đó, Bộ tư lệnh
đạo quân phương Nam, lực lượng chủ ý để thực hiện tham vọng bành trướng của Nhật trên
khắp khu vực Đông Nam Á và Ấn Độ, được đặt tại Sài Gòn. Với hơn hai triệu người chết đói do
chính sách triệt để lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của Nhật, cộng thêm một số không nhỏ
những người thiệt mạng vì bom đạn mà đến nay vẫn chưa được thống kê, Việt Nam trở thành
một trong những dân tộc chịu nhiều tổn thất nhất trong cuộc chiến tranh này. Mặt khác, cuộc
chiến tranh cũng tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.
Dự kiến rằng “phe dân chủ đại thắng ở Thái Bình Dương, Liên Xô đại thắng, cách mạng các
thuộc địa Pháp, Nhật sôi nổi và nhất là quân Trung Quốc hay quân Anh – Mĩ tràn vào Đông
Dương” (trích Văn kiện Đảng Cộng Sản Việt Nam 1930-1945, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng
trung ương xuất bản, Hà Nội 1977, trang 217), Đảng Cộng Sản Đông Dương phân tích sâu sắc
“cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng”(trích Văn kiện Đảng
Cộng Sản Việt Nam 1930-1945, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng trung ương xuất bản, Hà Nội
1977, trang 285-302) để lãnh đạo cao trào cách mạng giải phóng dân tộc. Từ đó, dân tộc Việt
Nam đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chiến đấu trong suốt cuộc chiến tranh. Trong quá
trình đó, Đảng đã quan tâm theo dõi mọi diễn biến của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương để
điều chỉnh đường lối cách mạng cho phù hợp với thời cuộc và chớp đúng thời cơ phát động
Tổng khởi nghĩa vào tháng 08-1945 giành độc lập cho dân tộc.
Rõ ràng cuộc chiến tranh Thái Bình Dương có quan hệ mật thiết với cách mạng nước ta.
Nhưng số công trình viết về cuộc chiến tranh này được công bố và lưu hành ở Việt Nam còn
quá ít. Chiến tranh Thái Bình Dương chỉ được đề cập trong một số ít trang của một vài cuốn
sách giáo khoa lịch sử thế giới hiện đại dùng trong nhà trường. Số lượng các công trình của
nước ngoài về đề tài này được dịch sang tiếng Việt hoặc nguyên tác ở Việt Nam cũng còn ít.
Với hy vọng cung cấp thêm cho độc giả (trước hết là cho các nhà giáo và học sinh đang giảng
dạy và học tập lịch sử trong nhà trường) những kiến thức phổ thông về cuộc chiến tranh Thái
Bình Dương, chúng tôi cố gắng biên soạn cuốn sách này. Nhưng do những hạn chế về nguồn tư
liệu tham khảo, về năng lực và những lý do khác, chúng tôi chưa thể phân tích đầy đủ, sâu sắc
về các vấn đề của cuộc chiến tranh này. Tuy nhiên, việc trình bày các sự kiện dưới hình thức ký
sự lịch sử sẽ giúp bạn đọc dễ dàng hình dung toàn cảnh với những diễn biến cụ thể của cuộc
chiến tranh, lấy đó làm cơ sở để đi sâu tìm hiểu nguyên nhân, bản chất hoặc đánh giá các sự
kiện; đồng thời hiểu rõ thêm về đất nước, con người của các cường quốc tham chiến.
Theo Từ điển bách khoa quân sự Liên Xô (Moskva, 1986) thì chiến cuộc Thái Bình Dương
(1941-1945) bao gồm toàn bộ các hoạt động quân sự giữa các lực lượng vũ trang Nhật Bản với
Mĩ và Đồng minh của Mĩ tại châu Á – Thái Bình Dương. Hiểu như thế thì cuộc chiến tranh Thái
Bình Dương bao gồm cả cuộc chiến tranh chống Nhật của Trung Quốc và hoạt động bành
trướng của Nhật ở Ấn Độ và Ấn Độ Dương... Tuy nhiên, cuộc chiến tranh Trung - Nhật bùng nổ
từ trước đó, có những đặc điểm và tính chất riêng biệt lại ít biến động từ khi chiến tranh Thái
Bình Dương bắt đầu nên chúng tôi không trình bày kỹ trong sách này để tránh cho cuốn sách
trở nên quá nặng. Cuốn sách này cũng không đi sâu vào chính sách cai trị của Nhật ở những
vùng bị chiếm và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trong chiến tranh ở các thuộc địa.
Để làm nhẹ bớt dung lượng cuốn sách, chúng tôi cũng bỏ qua một số sự kiện, như việc quân
Nhật đánh chiếm các đảo ở Thái Bình Dương, việc đồng minh đánh vào Indonesia...
Ngược lại, chiến dịch Mãn Châu mà quân đội Liên Xô tiến hành nhằm tiêu diệt đạo quân
Quan Đông của Nhật giống với một bộ phận của cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Liên
Xô hơn là của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương nhưng chúng tôi vẫn trình bài kỹ sự kiện này
vì tầm quan trọng của nó đối với việc kết thúc chiến tranh.
Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương mà người Nhật gọi là “Chiến tranh Đại Đông Á” cùng
chung nguyên nhân với cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Đó là mâu thuẫn giữa các cường
quốc đế quốc còn tồn đọng từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Tại châu Á – Thái Bình Dương,
mâu thuẫn đó thể hiện bằng sự tranh chấp ngày càng quyết liệt giữa Nhật Bản với các đế quốc
phương Tây mà trước hết là Mĩ về thuộc địa, thị trường, quyền kiểm soát tình hình kinh tế và
chính trị đối với các dân tộc trong khu vực. Mâu thuẫn đó sâu sắc tới mức vượt qua cả mâu
thuẫn giữa Nhật Bản (và thế giới tư bản nói chung) với Liên Xô mà họ luôn tìm cách bóp chết.
Trong khi phát xít Đức giáng đòn tấn công trước hết vào các cường quốc tư bản châu Âu rồi
mới tiến đánh Liên Xô thì quân phiệt Nhật đã chọn Mĩ và các đế quốc phương Tây làm đối thủ
chính của mình, đồng thời hòa hoãn với Liên Xô ngay cả khi quân Đức tiến dần đến Moskva và
Hitler ra sức hối thúc Nhật cùng đánh Liên Xô. Sự lựa chọn ấy xuất phát từ những tính toán về
chiến lược, chiến thuật, nhưng cũng cho thấy những xung đột về quyền lực kinh tế và chính trị
là nghiêm trọng hơn so với mâu thuẫn về hệ tư tưởng.
Xuất phát từ nguyên nhân trên, cuộc chiến tranh Thái Bình Dương về cơ bản mang tính chất
đế quốc chủ nghĩa đối với cả hai bên tham chiến. Tuy vậy, kẻ châm ngòi lửa chiến tranh để dẫn
tới bao thảm họa cho các dân tộc châu Á – Thái Bình Dương chính là bọn quân phiệt Nhật. Do
đó các lực lượng đấu tranh vì độc lập, dân chủ và tự do đã đứng về phía đồng minh chống Nhật.
Vì không hiểu rõ tính chất phi nghĩa của chiến tranh nên binh lính, sĩ quan và cả một bộ phận
không nhỏ dân chúng Nhật đã chiến đấu quyết tử “vì Thiên hoàng và vinh quang của Nhật Bản”
theo truyền thống võ sĩ đạo. Sự thật khách quan đó được trình bày trong sách này sẽ giúp bạn
đọc hiểu thêm về tính cách người Nhật biểu hiện trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Trên thực tế, bọn quân phiệt Nhât bắt đầu nhen ngọn lửa chiến tranh ngay từ ngày 18-091931 với việc tiến hành xâm lược Mãn Châu, biến vùng này thành thuộc địa và căn cứ quân sự
của chúng. Nhật Bản đã dựng lên ở đây chính phủ “Mãn Châu quốc” do hoàng đế cuối cùng của
triều đại Mãn Thanh đã bị lật đổ là Phổ Nghi làm vua bù nhìn.
Chính sách thỏa hiệp và nhượng bộ của Mĩ - Anh - Pháp đối với bọn phát xít quân phiệt đã
khuyến khích chúng đẩy mạnh việc xâm lược. Ngày 25 tháng 11 năm 1936, Nhật và Đức ký
hiệp ước liên mình quân sự nhằm chia lại thế giới nhưng núp dưới chiêu bài “chống quốc tế
cộng sản”. Ngày 07 tháng 07 năm 1937, gây ra “sự biến Lư Câu Kiều”, bọn quân phiệt Nhật bắt
đầu tiến hành chiến tranh xâm lược toàn Trung Quốc. Do lực lượng kháng chiến của Trung
Quốc (gồm lực lượng của chính phủ trung ương Quốc dân đảng và lực lượng của Đảng Cộng
Sản) chưa đủ mạnh và phản ứng của Mĩ - Anh - Pháp lại rất yếu ớt, nên Nhật đã nhanh chóng
chiếm đóng hầu hết vùng Hoa Bắc và Hoa Trung, buộc chính phủ Tưởng Giới Thạch phải dời
thủ đô từ Nam Kinh về Trùng Khánh. Tuy thế, Nhật Bản không thể bẻ gãy được cuộc kháng
chiến của Trung Quốc được Mĩ và Liên Xô ủng hộ mạnh mẽ. Từ Trung Quốc, quân Nhật đã tấn
công khiêu khích Liên Xô ở vùng hồ Khasan (tháng 07-1938) và sông Khalkhin Gol (tháng 051939) nhưng đã bị Hồng quân giáng cho những đòn chí tử. Thất bại này đã làm giảm sút ý chí
“Bắc tiến” (tức tiến công Liên Xô) của giới lãnh đạo lục quân Nhật. Nhân lúc Pháp bị Đức đánh
bại ở châu Âu, từ 22-09-1940 quân Nhật kéo vào Đông Dương, đe dọa toàn bộ hệ thống thuộc
địa của các đế quốc phương Tây ở Đông Nam Á. Tuy vậy, chính phủ các nước Mĩ - Anh vẫn chủ
trương dàn xếp bằng con đường đối thoại, chủ yếu qua cuộc đàm phán giữa ngoại trưởng Hoa
Kì Cordell Hull với đại sứ Nhật ở Mĩ Kichisaburo Nomura từ tháng 03-1941. Đến đầu tháng 121941, chiến tranh đã lan tràn trên một vùng rộng lớn ở Đông Dương và Đông Nam Á. Bên cạnh
các thuộc địa cũ là Triều Tiên, Đài Loan và quần đảo Ryukyu, Nhật Bản đã chiếm đóng Mãn
Châu, một phần lớn lãnh thổ Trung Quốc và Đông Dương thuộc Pháp. Tuy vậy, mãi đến ngày 07
tháng 12 (giờ Washington) tức 08 tháng 12 (giờ Tokyo) năm 1941, khi quân đội Nhật gần như
cùng một lúc tấn công căn cứ quân sự Mĩ ở Trân Châu Cảng và căn cứ quân sự Anh ở gần biên
giới Thái Lan – Mã Lai, buộc Mĩ và Anh phải tuyên chiến, thì cuộc chiến tranh Thái Bình Dương
mới chính thức bắt đầu. Chiến tranh đã diễn ra trong hơn 3 năm 8 tháng cho đến ngày 15-081945, khi Nhật hoàng chính thức tuyên đọc chỉ dụ đầu hàng Đồng minh vô điều kiện thì cuộc
chiến tranh Thái Bình Dương mới chấm dứt và đi vào lịch sử.
PHẦN THỨ NHẤT
THỜI NHẬT TẤN CÔNG
CHƯƠNG I
BỐN MƯƠI TÁM GIỜ TRƯỚC CƠN BÃO TÁP
• TỪ ĐÔNG Á ĐẾN WASHINGTON
Tại Manila (Philippines), sáng sớm ngày 06-12-1941, giới quan chức cao cấp của hải quân
Hoa Kì tại Thái Bình Dương ra bờ vịnh Manila chuẩn bị nghênh tiếp một vị thượng khách.
Đúng 8 giờ 30, chiếc thủy phi cơ Catalina mang cờ Anh từ từ hạ cánh xuống bờ vịnh thuộc
quân cảng Cavite.
Phó đô đốc Tom Philips, tư lệnh hạm đội Anh ở Viễn Đông và các sĩ quan tùy tùng lên bờ. Đô
đốc Thomas Hart, tư lệnh hạm đội châu Á của Hoa Kì ra nghênh tiếp. Họ đưa nhau về Bộ chỉ
huy hạm đội.
Tình hình thế giới vô cùng căng thẳng. Chiến tranh Xô - Đức đang diễn ra cực kỳ ác liệt. Chiến
tranh giữa Anh với Đức – Ý gieo rắc bao nỗi thống khổ ở Bắc Phi, trên mặt nước Đại Tây
Dương, Bắc Băng Dương. Vì vậy mới có cuộc hội kiến này. Nước Anh vội gửi qua Viễn Đông
tuần dương hạm hạng nặng và thiết giáp hạm Prince of Wales, đã từng giành được những
chiến thắng lẫy lừng ở Đại Tây Dương trong những tháng qua. Hạm đội này được giao cho Tom
Philips, người hôm nay đến đây để trao đổi ý kiến với Tư lệnh hải quân Hoa Kì tại châu Á.
Đô đốc Hart chủ trì cuộc họp, bên cạnh ông là tham mưu trưởng, phó đô đốc William
R.Purnell và chuẩn phó đô đốc F.W.Rockwell tư lệnh căn cứ Cavite (theo E.Romat:”Combats en
mer Pacifique: 41-45”. NXB Jai lert 1964, Paris tr.9-10).
Mở đầu, nêu lên những nỗi lo âu của phía Mĩ, tư lệnh Hart nói:
— Từ tháng 6 năm 1941, chúng tôi tin chắc rằng, lợi dụng việc Đức đang thắng thế ở châu Âu
và Đại Tây Dương, người Nhật sẽ tiến công. Ngoài ra, tôi còn dựa vào các nguyên nhân khác. Ví
dụ như, người Hoa Kì đã phong tỏa các trương mục ở ngân hàng mà Mĩ cho Nhật vay để mua
dầu hỏa của Indonesia. Khi chiến tranh bùng nổ, tôi tin rằng Nhật sẽ đánh cả Mĩ, Anh lẫn Hà
Lan. Trên cơ sở ấy, chúng tôi đã nghiên cứu và đi đến bản sơ thảo kế hoạch phòng ngự liên kết
với hải quân hoàng gia Anh và hải quân hoàng gia Hà Lan. Ngày 7 tháng 11 vừa qua, đô đốc
Kimmel, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương ở Hawaii có điện cho tôi: “Bức điện này, đô đốc có
thể xem như là một báo động chiến tranh. Cuộc đàm phán với Nhật về việc bình thường hóa
tình hình ở Á châu rơi vào ngõ cụt. Một cuộc tấn công của Nhật có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Nhiều dấu hiệu cho thấy Nhật đang chuẩn bị những cuộc hành quân đổ bộ ở Thái Lan,
Philippines, Mã Lai và có thể là Bornéo nữa. Nên dàn quân phòng ngự và đề cao đạo quân thứ 5
của Nhật Bản phá hoại các cơ sở trên đất” (theo E.Romat, sách đã dẫn, tr.11).
Sau khi đọc xong bức điện, đô đốc Hart nói tiếp:
“Ba chúng ta, Mĩ - Anh – Hà Lan là cùng một hội, cùng thuyền. Hôm đầu tháng này (tháng 121941) Bộ Hải quân Mĩ điện cho phép tôi được tiến hành không thám khắp vùng biển Nam Hải
(biển Đông), chụp ảnh mọi sự di chuyển của hải quân Nhật. Mặt khác tôi đã phân tán hạm đội
Hoa Kì đến nhiều nơi. Một số khác tôi gửi sang Indonesia (thuộc Hà Lan)”.
Đô đốc Anh hỏi:
— Quý quốc chưa tham chiến tại sao lại có thể gửi hạm đội đến một lãnh thổ của Hà Lan,
đang trong tình trạng chiến tranh chống Đức được?
— Có khó gì đâu, chỉ cần một mẹo nhỏ thôi. Tôi nháy mắt với tư lệnh hải quân Hà Lan
Hefrich trước. Sau đó tôi đến nơi, gọi là trục trặc máy móc, cần cơ sở để sửa chữa, đề nghị họ
giúp tôi bơm dầu. Cứ mỗi cảng của họ tôi ở vài ngày cần thiết cho sự sửa chữa là xong. Không
vi phạm công pháp quốc tế nào cả. Ví như tôi muốn gửi hạm đội tôi đến cảng Nhật, thủ tục
cũng như thế thôi.
— Ngài quả thực là kỳ tài. Còn kết quả không thám ra sao?
Đô đốc Hart gọi đại tá Wagner, chuyên viên giải đoán không ảnh, Wagner thuyết trình: “Tôi
chia các biển xung quanh Philippines thành nhiều vùng để không thám bằng thủy phi cơ
Catalina. Vào ngày 02-12, 20 tàu vận tải của hải quân Nhật và tàu hàng vào đậu ở Cam Ranh.
Hôm sau, một số khác đến, nâng tổng số tàu ở vịnh Cam Ranh lên đến 50 chiếc trong đó có
tuần dương hạm và khu trục hạm. Nhưng rạng sáng ngày 4, máy bay của tôi thấy vịnh này vắng
lặng, không còn chiếc tàu nào cả. Không biết nó đi đâu. Ngày hôm qua, máy bay tuần tra của
chúng tôi gặp các máy bay Nhật đến gần phía biển Bắc Luzon."
Hai vị đô đốc hội bàn và đi đến kết luận: người Nhật có thể đổ bộ một nơi nào đó trên bán
đảo Mã Lai, từ đó họ có thể tiến về Bangkok hay Singapore cũng được. Phía Mĩ thì lo ngại trước
sự có mặt ngày càng tăng của tàu ngầm Nhật ở Thái Bình Dương.
Buổi chiều cùng ngày 06-12, một sự kiện đột ngột làm cho chương trình nghị sự bị rút ngắn.
Một bức điện nhận được cho thấy:
— Máy bay phòng thám Anh phát hiện đoàn tàu Nhật ở vĩ độ 8, kinh độ 100, phía Nam Hòn
Khoai (Cà Mau), di chuyển về hướng Tây.
Đô đốc Anh buộc phải từ giã bạn đồng sự người Mĩ để về Singapore, đối phó với tình hình
mới.
Suốt ngày 07-12, không khí nóng bỏng. Mọi người Mĩ ở Philippines chờ đợi chiến tranh từng
giờ từng phút vì căn cứ không quân Nhật ở Đài Loan hoặc Hải Nam chỉ cách Manila độ 2 giờ
bay. Tại sân bay Clark, 16 chiếc pháo đài bay B17 nằm kề nhau như đang chuẩn bị chờ một
cuộc thanh tra. Căn cứ chính của không quân Hoa Kì ở Viễn Đông này đang đợi một lực lượng
bổ sung là 30 pháo đài bay nữa. 12 chiếc đầu trong số đó đã cất cánh từ California, sẽ đến
Hawaii vào sáng rồi bay tiếp về đây. Mặc dù tình hình căng thẳng nhưng buổi tối, không đoàn
27 oanh tạc cơ vẫn tổ chức chiêu đãi thiếu tướng Lewis Brereton, tư lệnh lực lượng không
quân Viễn Đông của Hoa Kì vửa mới thành lập. Dự tiệc nhưng ai cũng lo nghĩ về ngày mai.
Tham mưu trưởng hạm đội châu Á của Hoa Kì nói với tư lệnh của mình là đô đốc Hart rằng:
chiến tranh chỉ là vấn đề ngày giờ mà thôi.
* Tại Washington, ngày 06-12-1941
Tại Bộ hải quân Hoa Kì, Bộ trưởng hải quân Frank Knox chủ tọa một buổi họp với các giới
chức hải quân bàn về một bản tin đánh đi từ Đông Nam Á: một hạm đội Nhật gồm 35 tàu
chuyển quân, 8 tuần dương hạm và 20 khu trục hạm đã rời đảo Hải Nam tiến về phía bán đảo
Mã Lai.
Ông ta hỏi các vị đô đốc: người Nhật định làm gì?
Phó đô đốc Kelly Turner trả lời: “Thưa ngài Bộ trưởng, họ đi đánh người Anh, họ chưa chuẩn
bị để đụng với chúng ta đâu”. Không ai có ý kiến khác.
Trong khi ấy, Ban mật mã của hải quân Hoa Kì chuẩn bị đi nghỉ cuối tuần. Phần lớn nhân viên
chuẩn bị rời phòng làm việc lúc 12 giờ trưa nhưng một nữ nhân viên, cô Dorothy Edgers nhìn
qua bản Magic (bản thu bắt và giải mã các bức điện mà Bộ ngoại giao Nhật gửi cho tòa đại sứ
Nhật ở Washington và các Tổng lãnh sự ở các địa phương) bỗng ngạc nhiên thấy bức điện đề
ngày 02-12 gửi từ Tokyo cho Tổng lãnh sự Kita ở Honolulu (Hawaii) hỏi ông này về tình hình
phòng thủ Trân Châu Cảng, đặc biệt đỏi xác nhận Hoa Kì có thả các khí cầu phòng không hay
không. Cô ta đưa bức điện này cho cấp trên nhưng người này bảo hãy chờ đến sáng thứ hai hãy
dịch và đánh máy.
Tại Nhà trắng, tổng thống Franklin Delano Roosevelt đã thảo bức thông điệp gửi trực tiếp
cho Nhật hoàng qua toàn đại sứ Hoa Kì ở Tokyo, trong đó vạch rõ rằng hòa bình thế giới bị đe
dọa nặng nề vì quân đội Nhật tăng cường chiếm đóng Đông Dương thuộc Pháp. Hoa Kì yêu cầu
Nhật hãy lui quân, Hoa Kì hứa không bao giờ chiếm vùng đất này cũng như Anh và các đồng
minh khác.
7 giờ tối, bản thông điệp được điện sang Nhật và đến Tokyo vào trưa ngày 7 nhưng bộ phận
kiểm duyệt Nhật tự ý giữ lại 10 tiếng đồng hồ. Do đó đại sứ Grew tại Tokyo chỉ nhận được vào
lúc 11 giờ đêm.
Tại Văn phòng mật mã của hải quân Hoa Kì, các chuyên viên giải mã đã giải xong 13 trong 14
điểm của bản văn mà Bộ ngoại giao Nhật gửi cho đại sứ Nhật nhằm đệ trình lên tổng thống
Hoa Kì (người Nhật tin rằng không ai có thể giải được các mật mã ngoại giao và hải quân của
họ. Nhưng thực tế Hoa Kì với chiến dịch Magic đã giải được tất cả. Nghĩa là giới hữu trách Hoa
Kì đọc trước, biết trước cả tòa đại sứ Nhật những gì Tokyo gửi đến).
Nhận định tầm quan trọng của 13 phần trong bức thông điệp này, trung tá Kramer báo cho
Trung tâm hành quân và đích thân mang bản dịch đến Nhà Trắng.
Đọc xong, tổng thống Roosevelt nói với Hopkins, cố vấn đặc biệt của ông: “Thế là chiến
tranh”.
Hopkins nói: “Tức quá, chúng ta không thể tránh trước được.”
Đô đốc Harold Stark, tư lệnh hải quân Hoa Kì đêm ấy đang xem hát nhưng đầu óc ông ta lúc
nào cũng nghĩ: nơi nào sẽ bị Nhật đánh đầu tiên: Singapore, Philippines, kênh đào Panama
chăng? Nhưng không bao giờ có ý nghĩ Nhật đánh Trân Châu Cảng.
Tướng Sherman Miles, Cục trưởng tình báo của lục quân hôm ấy dùng cơm tối với Giám đốc
tình báo hải quân. Ông ta đọc 13 phần của thông điệp Nhật với con mắt của nhà quân sự nên
“không thấy có lý do gì để báo động” và sau đó về nhà ngủ thẳng một mạch.
* Tại Hawaii, trên đảo Oahu
Tối thứ bảy 06-12, tướng Walter Short, tư lệnh lực lượng quân phòng thủ quần đảo chủ trì
một cuộc họp đột xuất với các sĩ quan tình báo và phản gián tại nhà riêng của ông để bàn về
nội dung một bản báo cáo của cơ quan FBI vừa gửi tới (F.B.I – Federal Bureau of Investigation
– Cục điều tra Liên Bang: cơ quan cảnh sát chính trị của Mĩ). Báo cáo cho biết một nha sĩ Nhật
sống ở đây đã điện cho một tờ báo ở Tokyo về các máy bay, đèn pha, thời tiết, về cả “hoa bông
bụt, bông giấy đang nở rộ”. Hội nghị chưa tìm ra ý nghĩa của bức điện này, tướng Short cho giải
tán và dặn các sĩ quan về nghỉ ngơi thoải mái cho đến sáng hôm sau. Xong ông lên xe cùng với
vợ đến câu lạc bộ sĩ quan.
Đô đốc Husband Kimmel, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kì trú đóng tại Hawaii
tham dự chiêu đãi tại một nhà hàng lớn. Ông rời bàn tiệc lúc 21 giờ 30 về ngủ tại nhà riêng.
Cả hai vị chỉ huy cao cấp nhất tại Hawaii này đều đồng ý rằng không cần phải tăng cường tình
hình báo động ở quần đảo này hơn nữa. Vả lại, trong các chỉ dẫn của Washington không thấy
nói gì về không kích, chỉ nói là nên đề phòng tàu ngầm, điệp viên phá hoại. Do đó, chế độ thời
bình được duy trì cho quân nhân trên đảo.
Trong khi nghi vấn bức điện của một nha sĩ nào đó, các giới chức quân sự Mĩ và FBI hoàn
toàn không nghi ngờ một điệp viên cự phách của tình báo Nhật đội lốt viên chức Lãnh sự quán
Nhật tại Honolulu mang tên Tadashi Morimura đang khẩn trương hoàn tất sứ mệnh của mình.
Trong ngày, từ tòa lãnh sự ông ta đã điện về Tokyo, thông báo rằng Hoa Kì không chuẩn bị gì
để đối phó với một cuộc tấn công của Nhật Bản tại đây, “không có lưới phòng chống ngư lôi
quanh các thiết giáp hạm, không có khí cầu phòng không gần Trân Châu Cảng” và khẳng định
“có thể lợi dụng cơ hội rất thuận lợi này để tấn công bất ngờ”. Đêm khuya, ông ta lại đánh đi
một bức điện bổ sung, miêu tả kỹ càng vị trí thả neo của các chiến hạm trong cảng và nhấn
mạnh “không có những phi vụ trinh sát xa xuất phát từ hạm đội”.
* Tại Singapore
Pháo đài kiên cố của đế quốc Anh và nền đá tảng của sự phòng của các nước đồng minh Tây
phương tại vùng Đông Nam Á: việc bố phòng đã được tăng cường để ngăn không cho người
Nhật tiến về vùng giàu cao su, dầu hỏa ở Indonesia vả cửa ngõ của Ấn Độ Dương.
Người Anh đã bỏ ra 60 triệu bảng lo việc bố phòng đảo này và một hạm đội hùng hậu với hai
tàu chiến tối tân nhất thế giới để bảo vệ Mã Lai–Singapore. Hạm đội này có nhiệm vụ đánh
quân đổ bộ ngay từ lúc nó còn đang di chuyển trên tàu, không để cho nó xuống đất.
Nhưng về phòng thủ trên bờ thì có nhiều bất hợp lý. Ví như súng phòng thủ ở trong các pháo
đài chỉ có thể quay nòng về biển (ở phía nam) chứ không thể quay nòng về đất liền (phía bắc).
* Tại Đông Dương
Tuy nhà cầm quyền Pháp vẫn còn cai trị với toàn quyền Decoux nhưng chính phủ Vichy của
thống chế Pétain đã từ lâu nhượng Đông Dương cho Nhật. Quân Nhật đóng căn cứ tại sân bay
Tân Sơn Nhất (Sài Gòn), sử dụng tiện nghi hải quân ở Cam Ranh, Đà Nẵng và đóng quân ở Bắc
Bộ.
Hôm nay, nguyên soái Hisaichi Terauchi (vài ngày sau được phong chức tư lệnh chiến
trường phương Nam) nhận được một mật điện, có đoạn văn:
“NITAKA YAMA NOBORE, 1208”
Nghĩa là: cuộc chiến tranh toàn diện chóng các nước A, B, C, D vào ngày 08-12-1941 (người
Nhật dùng các chữ cái A, B, C, D để chỉ American (Mĩ), British (Anh), China (Trung Quốc), Dutch
(Hà Lan)).
Trên mặt nổi, Terauchi là tư lệnh Nhật ở Đông Dương. Mặt chìm, ông ta là Tổng tư lệnh toàn
thể chiến trường phương Nam (tức Philippines, Mã Lai, Singapore, Indonesia, Miến Điện và
sau này cả Ấn Độ nữa).
* Tại Hong Kong:
Một pháo đài lớn nhất của Đế quốc Anh, nằm tiếp cận với quân đoàn 23 Nhật chiếm đóng
Hoa Nam (Trung Quốc): 11.319 quân trú phòng gồm cả hải – lục – không quân hoàng gia Anh
đã được báo động, và họ vẫn tin tưởng ở sức mạnh vô địch của đế quốc Anh. Nhưng dân chúng
thì cầm chắc Nhật sẽ đánh trong thời gian tới.
Vào lúc 10 giờ đêm này, các toán quân cảnh vào các nhà hàng, khách sạn, vũ trường kêu gọi
những người thuộc hải quân và hàng hải thương thuyền hãy về tàu gấp. Tin tức về việc hạm
đội Nhật rời Hải Nam cho mọi người biết: tử thần sắp gõ cửa.
* Tại Thượng Hải
Trong các tô giới của Anh và Pháp: quân trú phòng đưa nhau vào các quán ăn, vũ trường, vui
sống những ngày cuối cùng của hòa bình. Hơn ai hết, họ biết rằng mình nằm giữa lòng quân
Nhật như một ốc đảo, nếu chiến tranh xảy ra, thì chỉ có chết hoặc trở thành tù binh mà thôi.
Tại bến cảng, 2 pháo hạm: một của Anh, một của Mĩ, duy trì sự có mặt của phương Tây. Họ cố
bám vào ảo vọng thời đại Victoria huy hoàng mà ngọn cờ Anh tỏa bóng khắp hoàn cầu.
Như vậy, từ Washington cho đến Thượng Hải, mọi người đều cầm chắc Nhật sẽ tiến công.
Nhưng thời điểm và mục tiêu bị tiến công vẫn còn là ẩn số.
Các Bộ tham mưu của phương Tây đều đưa ra các phán đoán. Người thì cho rằng Nhật đánh
Hong Kong – Philippines. Kẻ thì cho rằng đánh Singapore, thậm chí cả kênh đào Panama nữa.
Nhưng tuyệt nhiên, không ai nghĩ rằng Nhật sẽ đổ bộ ở biên giới Thái Lan – Mã Lai và đánh
Hawaii.
• TẠI TOKYO, NGÀY 6 VÀ 7 THÁNG 12
Ở Phủ thủ tướng và Bộ chiến tranh Nhật, để đánh lừa con mắt của các điệp viên, người ta vẫn
duy trì chế độ làm việc bình thường. Nghĩa là người đang nghỉ phép vẫn tiếp tục nghỉ, người
làm việc vẫn không có gì hối hả.
Cuộc tiến công của Nhật nếu muốn thành công trọn vẹn phải hoàn toàn bất ngờ. Mọi việc đều
phải hướng về tinh thần này.
Nhưng cũng có những sự “bất ngờ” đối với Nhật. Tướng Tsutomu Sakai, tư lệnh quân đoàn
23 ở Quảng Châu (Trung Quốc) điện về cho biết một máy bay chở quân của Nhật rơi trong
vùng kiểm soát của quân Trung Hoa và thiếu tá Sugisaka, người mang tài liệu của cuộc hành
quân đánh Hong Kong sắp diễn ra, nằm trong số những người bị mất tích. Như vậy có nên dời
kế hoạch Tổng tiến công hay không?
Nhưng Thủ tướng Hideki Tojo vẫn quyết định: đánh đúng theo kế hoạch định trước.
Tổng tham mưu trường lục quân cùng với Tổng tham mưu trưởng hải quân Nhật vào bệ kiến
Thiên hoàng. Họ cho biết sẽ đánh Trân Châu Cảng vào ngày 08-12-1941 (giờ Tokyo), nghĩa là
ngày 07-12-1941 ở Hawaii, một ngày chủ nhật, mọi người vui chơi hoặc nghỉ ngơi. Mặt trăng
sẽ hé sáng lúc máy bay khởi hành, vì hôm ấy là 20 âm lịch, có trăng từ 1 giờ khuya đến sáng (về
ngày giờ có sự khác biệt như sau: đối với Nhật, và một số nước Đông Á như Triều Tiên,
Philippines... đó là ngày thứ hai 08-12-1941 tức ngày 20-10 âm lịch; còn đối với Hawaii, Hoa
Kì, đó là ngày chủ nhật 07-12 (tức ngày 19-10 âm lịch).
Hai giờ chiều này hôm ấy (6-12), Tổng tham mưu trưởng Sugiyama đánh một mật điện vẻn
vẹn 2 chữ “Hinode Yamagata”. Giải mã ra có nghĩa là “Tiến công ngày 08-12”. Bức điện đến tay
Tư lệnh hành quân phương Nam. Ba giờ chiều, Tư lệnh hạm đội liên họp, thủy sư đô đốc
Yamamoto đánh bức điện cho Tư lệnh lực lượng đặc nhiệm Z (đánh Hawaii): “Hitaka Ya Ma
Nobore”.
Trong lúc đó, tờ báo tiếng Anh ở Tokyo “Japan Times and Advertiser” đăng tít lớn “NHẬT
BẢN CÓ NHỮNG CỐ GẮNG MỚI ĐỂ MƯU TÌM SỰ THÔNG CẢM CỦA HOA KỲ Ở BÀN HỘI NGHỊ”.
* Tại dinh Thủ tướng
Thủ tướng Tojo (Đông Điều) và ngoại trưởng Shigenori Togo (Đông Hưng) họp mặt có cả đô
đốc Ijo.
Thủ tướng và ngoại trưởng đồng ý với nhau là bức thông điệp “Tuyên bố cắt đứt hội đàm”
phải được trao lúc 12 giờ 30 ngày 07-12 (giờ Washington), tức là trước khi dội bom Trân Châu
Cảng. Nhưng sợ tính giờ không đúng nên họ quyết định lại là 13 giờ trưa.
Trở về tư dinh của mình, Thủ tướng Tojo ra lệnh cho lính đem ngựa ra trước nhà. Ông ta thay
đồ cưỡi ngực, dự định đi dạo chơi. Thích cưỡi ngựa đã đành, nhưng ông ta cũng muốn cho mọi
người thấy “Thủ tướng an nhàn, chắc không có gì đặc biệt cả”.
Trong lúc đó, đổng lý văn phòng thủ tướng, ông Hisino vẫn chơi quần vợt trên sân công cộng
và mọi người đều trông thấy, kể cả ngoại giao đo...
 





