Viếng Lăng Bác - Bài giảng
Đại Nam liệt truyện tập 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:28' 07-04-2024
Dung lượng: 401.2 KB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:28' 07-04-2024
Dung lượng: 401.2 KB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Table of Contents
LỜI NÓI ĐẦU
LỜI TU CỦA SỬ QUÁN
QUYỂN 1 TRUYỆN CÁC HẬU PHI
QUYỂN 2 TRUYỆN CÁC HOÀNG TỬ
QUYỂN 3 TRUYỆN CÁC BỀ TÔI (I)
QUYỂN 4 TRUYỆN CÁC BỀ TÔI (II)
QUYỂN 5 TRUYỆN CÁC BỀ TÔI (III)
QUYỂN 6 TRUYỆN CÁC BỀ TÔI (IV)
CHÚ THÍCH
https://thuviensach.vn
LỜI NÓI ĐẦU
Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư
tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của
nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
Đại Nam liệt truyện gồm 87 cuốn, 2000 trang bản thảo, chia làm hai phần
chính: Tiền biên và Chính biên, ghi chép tương đối đầy đủ về sự tích , công
trạng các công thần , liệt nữ, danh tăng … và gia phả nhà Nguyễn trước và
sau khi "Gia Long lập quốc". Bộ sách đã được các nhà dịch thuật nghiên
cứu sắp xếp tại làm 4 tập:
Tập 1: Tiền biên: Từ cuốn đầu tiên cuốn 6.
Tập 2: Chính biên (Sơ tập): Từ cuốn đầu đến cuốn 33.
Tập 3: Chính biên (Nhị tập): Từ cuốn đầu đến cuốn 25.
Tập 4: Chính biên (Nhị tập): Từ cuốn 26 đến cuốn 46.
Trước đây, các nhà nghiên cứu cũng nhận thức rõ tầm quan trọng của Liệt
truyện nên một vài phần của bộ sách đã được dịch và xuất bản nhưng chỉ
phục vụ trong phạm vi hẹp. Hiện nay việc lưu hành rộng rãi bản dịch toàn
bộ Đại Nam liệt truyện là rất cần thiết. Do đó, Viện Sử học phối hợp với
Nhà xuất bản Thuận Hóa đã cố gắng để bộ sách quý này được xuất bản trọn
vẹn một lần mong đáp ứng nhu cầu bạn đọc.
được kết quả này, Viện Sử học đã làm hết sức mình để giữ gìn và phát huy
hơn 2000 trang bản thảo trong những điều kiện rất hạn hẹp. Các nhà Hán
học kỳ cựu đã làm việc tại Viện Sử học như Hoa Bằng, Đỗ Mộng Khương,
Ngô Hữu Tạo, Cao Huy Giu, Nguyễn Trọng Hân, Nguyễn Mạnh Duân,
Phạm Huy Giu, Trương Văn Chinh, Nguyễn Danh Chiên, Phan Đại Doãn
… đã đóng góp công sức, trí tuệ rất nhiều vào bản dịch này.
Bản dịch đã được xuất bản lần đầu năm 1993 và tái bản lần thứ nhất vào
năm 1997. Thể theo đề nghị của bạn đọc, nhất là giới nghiên cứu sử học,
chúng tôi cho tái bản lần thứ hai, có sửa chữa; nhưng chắc chắn vẫn còn
thiếu sót, rất mong bạn đọc, các nhà nghiên cứu góp ý kiến, chỉ bảo cho
https://thuviensach.vn
những hạn chế để hy vọng lần tái bản tiếp theo bộ sách sẽ được hoàn chỉnh
hơn.
VIỆN SỬ HỌC - NHÀ XUẤT BẢN THUẬN HÓA
ĐẠI NAM LIỆT TRUYỆN
TIỀN BIÊN
LỜI TU CỦA SỬ QUÁN
Lũ thần là Tổng tài, Toàn tu Sử
quán cẩn tâu việc khâm tu Liệt truyện tiền biên đã xong, xin san khắc để tỏ
pháp điển tất.
Lũ thần trộm nghĩ: nước có sử là để tỏ quy mô thể thống một đời, sử có
truyện là để thuật gốc ngọn trước sau một người. Cho nên làm sử có bốn
thể(1) thì truyện là một. Trong thì hậu phi, hoàng tử, công chúa, tôn thất;
ngoài thì các bề tôi, các tuần lại(2), văn học, trung nghĩa cho đến ẩn dật,
cao tăng và khốc lại(3), nghịch thần, gian thần đều xếp từng loại mà biên
vào để giữ tích cũ, làm gương khuyên răn.
Kính nghĩ: nhà nước ta được lòng trời thương, Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế
gây nền cõi Nam, thần truyền thánh nối, hơn hai trăm năm, đức tốt công to,
kỷ cương rộng, công dụng lớn đã rõ ràng ở sử sách. Song một đời có tôi
hiền một đời, một người có sự trạng một người. Dầu đời đã xa, sự tích thiếu
sót nhiều, nhưng nếu còn được một, hai phần cũng đủ để cho đời sau soi
xét.
Thiệu Trị năm thứ nhất (1841) kính soạn Thực lục tiền biên về liệt thánh(4)
đã được sắc dụ tận mặt rằng nên soạn Liệt truyện luôn thể. Lũ thần đã
thông tư đi các địa phương tra hỏi sự tích, lại tham khảo thực lục và rộng
nghe cả lời truyền ngôn hết lòng bàn định sắp xếp biên tập thành sách. Đầu
từ truyện các hậu, phi, thứ đến truyện các hoàng tử, các công chúa, thứ nữa
đến các bề tôi rồi đến truyện các người ẩn dật, truyện cao tăng, cuối cùng
phụ lục truyện nghịch thần, gian thần gồm có 7 mục, cộng 6 quyển. Đã đem
https://thuviensach.vn
bản mẫu tiến trình, được châu phê rằng "đã xem rồi, cho kiểm cứu lại, in ra,
để truyền đời sau. Khâm thử !"
Lũ thần hết lòng nghiên cứu, cũng có xét ra được chỗ thiếu sót, đã sửa lại
và hổ sung. Xin giao cho thợ khắc in. Sau này, Liệt truyện chính biên làm
xong sẽ xin tiến trình tiếp tục khắc in. Về công việc san nhuận lần này xin
do những viên phần việc đứng làm.
Nay cẩn tấu
Tự Đức năm thứ 5 (1852) tháng 3 ngày 29, đề.
Chỉ truyền: "Hữu ty chọn ngày tốt, giao khắc in, rồi do Sử quán kiểm kỹ,
đóng thành quyển để truyền đời sau. Còn mọi việc khác đều chuẩn y lời
tâu".
(Tên bầy tôi làm lời tâu):
Trương Đăng Quế, Hà Duy Phiên, Lâm Duy Nghĩa, Tô Trân, Phạm Hữu
Nghịi Nguyễn Hữu Tố, Phạm Bá Thiều, Trần Trứ, Bùi Quỹ.
PHÀM LỆ
1. Đầu chép hậu phi, thứ đến hoàng tử, công chúa, là trọ
ng thứ bậc nhân luân; kế đến các bề tôi là nêu công lao sự nghiệp; thứ nữa
đến các người ẩn dật là nêu những người điềm đạm từ tốn; thứ nữa đến các
cao tăng chép cho đủ; cuối cùng đến các nghịch thần, gian thần, là răn đe
kẻ ác.
2. Mở cõi miền Nam, là bắt đầu từ Thái Tổ(5), nhưng phát dài phúc lành thì
từ Tĩnh Hoàng Đế(6) xây nền. Cho nên đặt Tĩnh Hoàng Hậu(7) ở đầu
truyện các hậu phi, là để tỏ có gốc tích vậy.
3. Truyện các hậu phi chỉ chép tên thụy và họ, vì tên thực của các bà không
để lọt ra khỏi cửa. Đó là theo thể lệ chép truyện trong Minh sử.
4. Hoàng tử và công chúa có sự tích gì đáng ghi thì chép cả không thì chép
theo thứ tự lớn bé cốt để giữ lấy sự thực.
5. Dưới họ tên các bề tôi, biên rõ quê quán, nếu không kê cứu được thì bỏ
trống.
6. Trong các bề tôi hễ ai có công nghiệp rõ rệt và tiết nghĩa đáng khen thì
không cứ quan chức to hay nhỏ đều chép vào truyện, còn cứ tùy theo loại:
hoặc hạng nhỏ phụ vào hạng lớn; hoặc cấp thấp phụ vào cấp cao.
https://thuviensach.vn
7. Gặp trường hợp cùng một việc mà khác người làm thì đều có truyện
riêng. Về việc ghi chép, nếu ở truyện này đã thuật chi tiết thì ở truyện kia
lược bớt, nhưng chua "xem thêm truyện … " để cho sáng thêm.
8. Tên người gặp chữ húy, nếu là hoàng tử, công chúa thì theo Ngọc phả,
viết theo lối chiết tự (tả tùng … hữu tùng … ), nếu là tên các bề tôi thì đổi
dùng chữ khác.
9. Người trong Khánh phả(8) nếu phạm tội to: phản nghịch, thì tước bỏ họ,
chỉ viết tên (như loại Hiệp, Trạch) không cho dự trong Khánh phả nữa.
10. Sự tích trong Liệt truyện đều dựa vào Thực lực và tham khảo các hành
trạng các gia phả, ngoài ra còn hỏi rộng, tìm thêm nếu có sự thực căn cứ
được thì đều thâu lượm mà ghi chép.
CHỨC TƯỚC, TÊN HỌ CÁC QUAN THAM GIA
BIÊN SOẠN "ĐẠI NAM LIỆT TRUYỆN TIỀN BIÊN"
Vâng sắc kê khai chức tước, tên họ các bề tôi biên soạn quyển Đại Nam liệt
truyện tiền biên:
Tổng tài:
Cố mệnh lương thần, Phụ chính đại thần, Thái bảo, Cần chính điện Đại học
sĩ, lĩnh Binh bộ Thượng thư sung Cơ mật viện đại thần, Quản lý Khâm
thiên giám kiêm lĩnh Quốc tử giám sự vụ, sung Kinh diên giảng quan, Tuy
Thịnh quận công, thần: Trương Đăng Quế.
Nguyên Ngự tiền đại thần, Thái bảo, Đông các Đại học
sĩ Quản lý Lộ sự vụ, kiêm sung Hoàng thân Sư bảo, kiệm
lĩnh Quốc tử giám sự vụ, thần: Vũ Xuân Cẩn.
Phó Tổng tài:
Thái tử Thiếu bảo, Hiệp biện Đại học sĩ, lĩnh Hộ bộ Thượng thư sung Cơ
mật viện đại thần, thần: Hà Duy Phiên.
Phụ chính đại thần, Hiệp biện Đại học sĩ, lĩnh Lễ bộ Thượng thư, sung Cơ
mật viện đại thần, Hiệp lý Kinh kỳ thủy sư, thần: Lâm Duy Nghĩa.
Toản tu:
Hàn lâm viện Chưởng viện học sĩ, sung Kinh diên nhật giảng quan, thần:
Tô Trân.
https://thuviensach.vn
Thiêm sự phủ Thiêm sự, sung Kinh diên nhật giảng quan, thần: Phạm Hữu
Nghi.
Nguyên Hàn lâm viện Trực học sĩ, thần: Nguyễn Hữu Tố.
Thái bộc tự khanh, thần: Phạm Bá Thiều.
Nguyên Hồng lô tự khanh, thần: Trần Trứ.
Hồng lô tự khanh, thần: Bùi Quỹ.
Khảo hiệu:
Hàn lâm viện Biên tu, thần: Nguyễn Công Thụy.
Hàn lâm viện tòng bát phẩm bút thiếp thức, thần: Nguyễn Đức Ý.
Đằng lục:
Hàn lâm viện tòng bát phẩm Bút thiếp thức, thần: Nguyễn Tường Giảng.
Hàn lâm viện tòng cửu phẩm Bút thiếp thức, thần: Trần Viết Khai.
Hàn lâm viện tòng cửu phẩm Bút thiếp thức, thần: Lê Văn Thiều.
Hàn lâm viện tòng cửu phẩm Bút thiếp thức, thần: Lê Văn Chân.
Thu chưởng:
Hàn lâm viện Kiểm thảo, thần: Lê Quang Linh.
Hàn lâm viện tòng cửu phẩm Bút thiếp thức, thần: Nguyễn Văn Dĩnh.
QUYỂN 1 TRUYỆN CÁC HẬU
PHI
Triệu Tổ(9) Tĩnh Hoàng Hậu
Bà họ Nguyễn họ Nguyễn khác) tiên tổ là người huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải
Dương, sau dời đến ở Quý huyện(10) tỉnh Thanh Hóa. Cha là Minh Biện,
làm quan đời Lê đến Đặc tiến, Phụ quốc Thượng tướng quân, Thự vệ sự
(năm Minh Mạng thứ 4) (1823) truy phong làm Hựu chính phù bình trung
đẳng thần. Anh là Ư Tỵ cũng làm quan nhà Lê đến Thái phó Uy quốc công.
Hậu lấy Triệu Tổ Hoàng Đế ta, sinh được một con trai là Thái Tổ Hoàng
Đế, mùa xuân tháng Giêng (không nhớ năm) bà mất. Đời truyền là táng
chung vào lăng Trường Nguyên ở núi Thiên Tôn, tỉnh Thanh Hóa.
https://thuviensach.vn
Năm Giáp Tý (1744), Thế Tông Hoàng Đế(11) năm thứ 6, truy dâng tôn
thụy là Từ Tín Chiêu Ý Đức Phi, sau lại thêm hai chữ Hoằng Nhân".
Năm Bính Dần (1806), Gia Long thứ 5 lại truy tôn là Từ Tín Chiêu Ý
Hoằng Nhân Thục Đức Tĩnh Hoàng Hậu.
Bài sách văn đại lược nói: Khôn nguyên to sáng, đều sánh với đức Kiền.
Hậu đức thuần toan cho nên hay giúp chúa; biểu hiện tôn sùng cử hành mọi
lễ. Kính nghĩ, Từ Tín Chiêu Ý Hoằng Nhân Nguyễn Đức Phi điện hạ đức
kính êm đềm, tiếng tốt vang dậy. Con cháu đông như chung tư(12) đàn đầy
nhà cửa. Siêng năng dậy từ gà gáy, chăm sóc gia đình. Cho nên, nay nhờ
phúc to; càng thêm sáng rộng. Nết tốt công cao, biểu dương sao dám để
chậm. Vậy kính làm sách vàng, dâng tôn hiệu là Từ Tín Chiêu Ý Hoằng
Nhân Thục Đức Tĩnh Hoàng Hậu, thờ chung vào Triệu Miếu.
Thái Tổ Gia Dụ(13) Hoàng Hậu
Bà họ Nguyễn - (họ Nguyễn khác) sự tích không rõ. Bà sinh một trai là Hy
Tông Hoàng Đế. Mùa hạ tháng 5 (không nhớ năm) bà mất, táng ở lãng
Vĩnh Cơ (thuộc sơn phận Hải Cát Gia Long năm thứ 7 (1808) mới truy
dâng tên lăng. Các lăng sau đây cũng thế. Năm Giáp Tý (1744) Thế Tông
Hoàng Đế năm thứ 6, truy dâng thụy tôn là Từ Lương Quang Phục Ý Phi,
sau lại thêm hai chữ "Minh Đức". Năm Bính Dần, Gia Long thứ 5 lại truy
tôn làm Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý Cung Gia Dụ Hoàng Hậu. Bài
sách văn đại lược rằng: giương oai cầm cây việt cờ mao, định yên thế nước,
thực bởi thánh công, trong sáng như ngọc cư ngọc vũ, chỉnh đốn việc nhà
đều nhờ hậu đức. Kính nghĩ, Từ Lương Quan Thục Minh Đức Nguyễn Ý
Phi điện hạ: thánh sánh đối với thánh, đến ở ấp mới này. Khuyến tướng sĩ
cần lao ở hàng trận, nêu đức, tính trinh tĩnh ở đình vi. Đức hóa khắp nước
nhà, phúc trạch nhuần cháu chắt. Cho nên, nay trên nhờ bóng cả, thêm sáng
tốt xưa. Coi phước đức này, dám dâng sùng báo. Kính làm sách vàng, dâng
tôn hiệu là Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý Cung Gia Dụ Hoàng Hậu,
thờ chung vào Thái Miếu.
Hy Tông Hiếu Văn(14) Hoàng Hậu
Bà họ Nguyễn (cẩn án xét trước là họ Mạc sau đổi h Nguyễn). Tiên tổ là
người huyện Nghi Dương tỉnh Hải Dương. Bà là trưởng nữ Khiêm Vương
https://thuviensach.vn
Mạc Kính Điển. Khi Kính Điển bị bại vong, bà theo chú là Cảnh Huống
đem gia quyến vào Nam ẩn ở chùa Lam Sơn, nhân đó nhập tịch ở Quảng
Trị. Nguyễn Ngọc Dương vợ Cảnh Huống, là dì ruột Hy Tông Hoàng Đế,
nhân tiến bà vào hầu chúa ở nơi tiềm để(15). Tính minh mẫn thuần thục,
nói và làm đều đúng mực thước, bà được chúa yêu và quý trọng. Sinh được
5 con trai: Con trưởng là Kỳ, làm Hữu phủ chưởng phủ sự, trấn thủ Quảng
Nam - tặng Thiếu bảo, Khánh quận công; con thứ hai tức là Thần Tông
Hoàng Đế, con thứ ba là Trung, con thứ tư là An, con thứ năm là Nghĩa
chết sớm. Ba con gái: Trưởng là Ngọc Liên, thứ là Ngọc Vạn, út là Ngọc
Khoa. Năm Canh Ngọ (1630, Lê Đức Long năm thứ 2) mùa đông tháng 11,
bà mất, thọ 53 tuổi, truy tặng là Doanh Cơ, đặt tên thụy là Nhã Tiết, táng
lăng Vĩnh Diện (ở xã Chiêm Sơn, tỉnh Quảng Nam).
Năm Giáp Tý (1744) Thế Tông Hoàng Đế năm thứ 6, truy dâng tôn thụy là:
Huy Cung Từ Thận Thuận Phi.
Năm Bính Dần (1806) Gia Long thứ 5, lại truy tôn làm Huy Cung Từ Thân
Ôn Thục Thuận Trang Hiếu Văn Hoàng Hậu.
Bài sách văn đại lược rằng: Tốt thay đức khôn nguyên, trên sánh với thê
Kiều. Phô nêu đức tốt, là để đáp phúc dày mà tỏ đạo hiếu vậy.
Kính nghĩ, Huy Cung Nguyễn Thuận Phi điện hạ; trinh tĩnh đoan trang, bao
hàm rộng sáng: phong hóa khắp gần xa, đức tốt không bờ bến. Đúc thành
giống tết, phồn thịnh phúc to. Nay trên nhờ đức thiêng liêng, nối mãi ngôi
tôn quý. Vậy xét điển lễ kính dâng tên hay. Cẩn tiến sách vàng dâng tôn
hiệu là Huy Cung Từ Thận Ôn Thục Thuận Trang Hiếu Văn Hoàng Hậu,
thờ chung vào gian tả nhất nhà Thái Miếu.
Thần Tông Hiếu Chiêu(16) Hoàng Hậu họ Đoàn
Ngườ
i huyện Diên Phúc, tỉnh Quảng Nam, bà là con gái thứ 3 của Thạch Quận
công Đoàn Công Nhạn. Mẹ là phu nhân Vũ Thuận Hóa. Bà là người minh
mẫn thông sáng. Năm 15 tuổi đêm hái dâu ở bãi, trong trăng mà hát. Bấy
giờ Hy Tông Hoàng Đế ta đi chơi Quảng Nam, Thần Tông Hoàng Đế ta
theo đi hộ giá. Đêm đáp thuyền chơi trăng. Đỗ thuyền ở gành Điện Châu
(bây giờ là bãi n Phú Tây) câu cá, nghe tiếng hát, lấy làm lạ, sai người đến
https://thuviensach.vn
hỏi, biết là con gái họ Đoàn, cho tiến vào hầu chúa ở tiềm để, được yêu
chiều lắm. Bà sinh một trai, ấy là Thái Tông Hoàng Đế. Năm Tân Sửu
(1661) Lê Vĩnh Thọ năm thứ 4 mùa hạ, tháng 5, bà mất, táng Vĩnh Diện (ở
Thượng Cốc Hùng Cương thuộc xã Chiêm Sơn, tỉnh Quảng Nam). Thế
Tông Hoàng Đế năm thứ 6, Giáp Tý (1744) truy dâng tôn thụy là Trinh
Thục Từ Tĩnh Huệ Phi, sau lại thêm 2 chữ "Mẫn Duệ". Gia Long năm thứ 5
Bính Dần (1806) lại truy tôn làm Trinh Thục Từ Tĩnh Mẫn Duệ Huệ Kính
Hiếu Chiêu Hoàng Hậu.
Bài sách văn đại lược nói: Lễ nhà tôn miếu, kính người mình tôn, yêu
người mình thân, là để báo công mà tôn đức vậy.
Kính nghĩ, Trinh Thục Từ Tĩnh Mẫn Duệ Đoàn Huệ Phi điện hạ: sáng thơm
tú my, phép tốt trinh thuần. Khôn nguyên hợp đức, phong hóa gây từ đình
vi, cảm động kết thai, phúc trạch truyền cho xã tắc. Để phúc yên tốt nối đời
vô cùng. Nay, trên nhờ phúc thiêng, lại dựng nghiệp cả. Kính dâng huy
chương, để tôn nền tốt. Cẩn tiến sách vàng dâng tôn hiệu là: Trinh Thục Từ
Tĩnh Mẫn Duệ Huệ Kính Hiếu Chi Hoàng Hậu, thờ chung vào gian hữu
nhất nhà Thái Miếu.
Thái Tông Hiếu Triết(17) Hoàng Hậu họ Chu
(không rõ quê quán)
Ban đầu, bà hầu chúa ở nơi tiềm để, làm chánh phu nhân, sinh 2 trai, một
gái. Con trai trưởng là Diên được tấn phong Phúc Quận công, con thứ là
Thuần, được phong Hiệp Quận công, con gái là Ngọc Tào. Năm Giáp Tý
(1684), Lê Chính Hòa năm thứ 5 mùa đông, tháng 11, bà mất, thọ 60 tuổi,
tặng Tán Quốc Chánh Phu Nhân, táng lăng Vĩnh Hưng thuộc sơn phận
phường An Ninh huyện Hương Thủy. Thế Tông Hoàng Đế năm thứ 6, Giáp
Tý (1744) truy dâng tôn thụy là Từ Mẫn Chiêu Thánh Trang Phi sau thêm 2
chữ "Trang Liệt".
Gia Long năm thứ 5 Bính Dần (1806) lại truy tôn làm Từ Mẫn Chiêu
Thánh Cung Tĩnh Trang Thận Hiếu Triết Hoàng Hậu.
Bài sách văn đại lược rằng: Có thánh quân nối trị; tức có thục đức tề gia.
Cùng tôn cùng quý, là chính lễ vậy.
https://thuviensach.vn
Kính nghĩ, Từ Mẫn Chiêu Thánh Trang Liệt Chu Trang Phi điện hạ. Dáng
tốt trinh tĩnh, phép cả trang nghiêm. Hợp đức với liên nguyên, truyền sáng
bởi khôn hậu, phong hóa gây từ thơ "quan thư"(18) ân trạch đầm ấm như
thơ "cù mộc"(19). Khuôn mẫu đáng làm phép, thánh thiện khó hình dung.
Nay, đã thành công to, nhớ lại nghiệp tốt, bèn theo điển lễ, báo đáp đức
lành. Cẩn tiến sách vàng dâng tôn hiệu là: Từ Mẫn Chiêu Thánh Cung Tĩnh
Trang Thận Hiếu Triết Hoàng Hậu , thờ chung vào gian tả nhị nhà Thái
Miếu.
Hiếu Triết Hoàng Hậu họ Tống
Người quý huyện(20) tỉnh Thanh Hóa. Cha là Tống Phúc Khang, tặng
Thiếu phó Quậ
n công, mẹ là Phạm thị. Tính người hiền từ hòa thuận, khi mới vào cung bà
được liệt vào hàng Cơ, càng ngày càng được yêu chiều. Bà sinh 2 trai: con
trưởng là Anh Tông Hoàng Đế, con thứ hai là Trân, tặng Thiếu phó, Cương
Quận công. Mùa xuân tháng 3 (không nhớ năm) bà mất, táng lăng Quang
Hưng (thuộc sơn phận xã Định Môn, huyện Hương Trà). Thế Tông Hoàng
Đế năm thứ 6, Giáp Tý (1744) truy dâng tôn thụy là Từ Tiên Huệ Thánh
Tĩnh Phi, sau lại thêm 2 chữ "Trinh Thuận", Gia Long năm thứ 5 Bính Dần
(1806) lại truy tôn là Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tĩnh Nhân Hiếu
Triết Hoàng Hậu.
Bài sách văn lược rằng: Giữ nhân luân, dùng điển lễ, báo nguồn gốc tôn
người thân, là đạo hiếu con cháu vậy.
Kính nghĩ, Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tống Tĩnh Phi điện hạ sao Bảo
vụ sáng soi, quẻ Thần khôn hợp đức. Phép khuê môn tập quen, lễ tôn miếu
kính cẩn. Trên sách Kiền nguyên, sinh ra con trưởng, kế thừa dẫn mối lâu
dài, khánh trạch mở nền thịnh lớn. Cho nên nay trên nhờ thiêng liêng mở
mang bờ cõi, thành nghiệpnày, bèn theo điển lễ, lẽ cả cùng tôn. Cẩn tiến
sách vàng dâng tôn hiệu là: Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tĩnh Nhân
Hiếu Triết Hoàng Hậu, thờ chung vào gian tả nhị nhà Thái Miếu.
Anh Tông Hiếu Nghĩa(21) Hoàng Hậu họ Tống
Bà người quý
https://thuviensach.vn
huyện tỉnh Thanh Hóa, cha là Tống Phúc Vinh, tặng Thiếu phó Quận công,
mẹ là Lê thị. Ban đầu bà tiến hầu nơi tiềm để, rồi được thăng làm Cung
tần(22). Lúc có thai, trên chỗ ở về phương tây nam, trời mở một khoanh
tròn mây đẹp bay vòng quanh, ở giữa có một chỗ sáng tròn khác thường từ
trên không trung mà xuống, ánh sáng soi rọi lên trời. Người thức giả cho là
điềm sinh thánh. Đầy năm, bà sinh con trai, tức là Hiển Tông Hoàng Đế.
Nguyễn Gia phi không có con, yêu mà vỗ về, nuôi nấng. Năm Bính Tý
(1696) Lê Chính Hòa năm 17 mùa xuân tháng 3, bà mất, thọ 44 tuổi. Hiển
Tông Hoàng Đế(23) truy tôn là Quốc Thái Phu Nhân, táng lăng Vĩnh Mậu
(thuộc sơn phận xã Định Môn, huyện Hương Trà). Thế Tông Hoàng Đế
năm thứ 6, Giáp Tý (1744) truy dâng tôn thụy là Từ Tiết Tĩnh Thục Hiển
Phi, sau thêm 2 chữ "Hiếu Từ". Gia Long năm thứ 5, Bính Dần (1806) lại
truy tôn là Từ Tiết Tĩnh Thục Tuệ Mẫn Hiến Thuận Hiếu Nghĩa Hoàng
Hậu.
Bài sách văn đại lược nói: dựng nghiệp Tây kỳ, bà Thái Nhâm, bà Thái
Khương gây phúc cả. Mở nền Đông lạc, bà Mã hậu, b Đăng hậu nối điềm
lành. Đức tốt sánh đời xưa, tên hay để hậu báo. Kính nghĩ, Từ Tiết Tĩnh
Thục Hiếu Từ Tống Hiển Phi điện hạ: Trăm nết có đủ, muôn thiện đều
kiêm. Bao hàm rộng rãi trên sách Kiền nguyên, nội trị có khuôn phép từ
ngọc cư, ngọc hành(24) mở dấu tốt lành sinh ra con trưởng truyền gia vững
cơ đổ như thái sơn, bàn thạch. Cho nên nay được nhờ phúc thiêng liêng,
mới chịu mệnh sáng, xưng dương đức tốt, để báo tốt lành cẩn tiến sách
vàng dâng tôn hiệu là Từ Tiết Tĩnh Thục Tuệ Mẫn Hiếu Thuận Hiếu Nghĩa
Hoàng Hậu, thờ chung vào gian hữu nhị nhà Thái Miếu.
Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng Hậu, họ Tống
Bà vốn họ Hồ, sau khi vào cung, được cho họ là Tống, người huyện Hương
Trà phủ Thừa Thiên, là con gái Chưởng doanh Hồ Văn Mai.
Vào cung được chúa yêu chiều, cho làm Hữu Cung tần thứ 4. Sau đó được
thăng Chiêu Nghi. Tính người nhân thuận, cung kính, trong cung đều được
cảm hóa vì đức tính bà. Sinh được 2 trai: trưởng là Túc Tông Hoàng Đế(25)
lúc sinh có hương lạ đầy nhà, thứ là Tứ, phong Luân Quốc công. Năm Bính
Thân (1716, Lê Vĩnh Thịnh năm thứ 12), mùa xuân tháng 2, bà mất, thọ 37
https://thuviensach.vn
tuổi, tặng Minh Phi, liệt vào hàng phu nhân, thụy là Từ Tuệ, táng lăng Vĩnh
Thạnh (thuộc xã Trúc Lâm, huyện Hương Trà). Năm Giáp Tý (1744) Thế
Tông Hoàng Đế năm thứ 6, truy dâng tôn thụy là Từ Huệ Cung Thục Kính
Phi, sau thêm 2 chữ "Ý Đức". Gia Long năm thứ 5 Bính Dần (1806) truy
tôn là Từ Huệ Cung Thục Ý Đức Kính MHiếu Minh Hoàng Hậu. Bài sách
văn đại lược rằng: Đón quẻ Kiền là quẻ Khôn sánh với đế gọi là hậu. Lễ đặt
bởi nghĩa, kính với người tôn, là để tỏ lễ nhà tôn miếu. Kính nghĩ, Từ Huệ
Cung Thục Ý Đức Tống Kính Phi điện hạ: dáng đẹp nổi trâm cài hoa giắt,
đức tốt như ngọc cư, ngọc hành. Thùy mị đề tiên phòng gương mẫu ưu cần
giúp chúa như thơ Kê minh(26) chung đúc điềm Hoa chử(27) tốt lành,
thịnh vượng về sau thơ Lân chỉ(28). Cho nên nay trên đội ơn thừa, mở
mang nghiệp lớn. Bèn xét lẽ văn, tán dương đức tốt. Cẩn tín sách vàng
dâng tôn hiệu là: Từ Huệ Cung Thục Ý Đức Kính Mục Hiếu Minh Hoàng
Hậu, thờ chung vào gian tả tam nhà Thái Miếu.
Nguyễn Kính Phi
Là con gái Tham chính Nguyễn Hữu Hiệp, năm Hiển Tông mới làm chúa,
bà vào hầu ở nội đình, được cất nhắt làm Hữu Cung tần thứ 3, rồi thăng
Chánh Nội phủ. Nă
m Giáp Ngọ (1714, Lê Vĩnh Thịnh thứ 10) mùa thu, bà mất, được tặng là
Kính Phi, tôn bằng hàng phu nhân, thụy là Từ Đức, táng ở xã Trúc Lâm,
lập đền thờ ở Hà Khê.
Bà là con nhà dòng vào hầu chúa được yêu chiều (tương truyền: bà sinh 11
con, nay còn một ngành, ngoài ra không rõ). Bà mất được một năm, chúa
thương không thôi, làm đàn chay trọng thể ở chùa Thiên Mụ, chúa (Hiển
Tông Nguyễn Phúc Chu) làm 4 bài thơ; thương nhớ viết vào tường chù
BÀI 1
Phiên âm:
Vấn thiên hà sự thiết ngô phi !
Hoa tạ, tam cung nguyệt yếm huy !
Bất đạc nữ trung vong khổn phạm !
Hoàn tri kỳ nội thất dung nghi.
Thời đương thất tịch Ngân hà ám.
https://thuviensach.vn
Sầu ký thiên niên giới lộ hi !
Mạn đạo tiếu nhân nhi phụ thái.
Cổ kim thùy cánh thử tình vi.
Dịch nghĩa:
Cớ chi trời lại cướp phi ta !
Hoa rụng, ba cung bóng nguyệt tà.
Chẳng những gương treo trong bạn gái,
Lại đầy năm chẵn vắng người hoa !
Đêm vừa mồng bảy sông Ngân tối !
Sầu để ngàn năm móc hẹ pha !
Đừng có cười trò nhi nữ nhé !
Tình nay ai để tránh từ xưa.
BÀI 2
Phiên âm:
Khứ niên Chức nữ nhập song minh.
Khước bị trùng vân tựu địa sinh.
Chế cẩm vị hoàn, ty tại trục !
Xuyên châm tài bãi, tuyên phiêu doanh !
Không hoài ngũ dạ Quỳnh lâu địch,
Khởi vọng song xuy ngọc điện sinh.
Nhất phiến mê ly nghi thử tế.
Uyên ương tú chẩm mộng n.
Dịch nghĩa:
Sao nữ năm qua soi cửa sổ
Làn mây lớp lớp đến che rồi !
Gấm dệt chưa xong tơ lở dở !
Kim xâu vừa được, chỉ tơi bời !
Sáo Quỳnh lâu, canh khuya luống nhớ !
Sênh ngọc điện, nay dễ thổi đôi
Mơ hồ tấc dạ ngờ đâu đó,
Giấc mộng uyên ương uổng kiếm hoài !
BÀI 3
https://thuviensach.vn
Phiên âm:
Nội trợ tằng kinh ức ỷ ni,
Duy dư đồng nhữ lưỡng nan kỳ,
Phi nhân mộ sắc tiềm huy lệ,
Chỉ vị tôn hiền tụng phú thi.
Việt hải tuy khoan, nan tải hận,
Tẩm lăng nghi cận, dị quan bi.
Trường đê thả mạc tài dương liễu
Hảo đãi Thanh minh túng mục thì.
Dịch nghĩa:
Dịu dàng nội trợ nghĩ thương âu …
Chỉ chúng ta sao khó hẹn nhau.
Há vì sắc đẹp rơi hàng lệ,
Chỉ vị người hiền vịnh mấy câu.
Biển Việt dầu to khôn chở hận,
Bia lăng gần đọc để khuây sầu.
Đê dài đừng có trồng dương liễu.
Đợi tiết Thanh minh mắt ắm lâu.
BÀI 4
Phiên âm:
Nhữ thọ tuy vi, phúc tự trường
Nhân truyền phúc trạch Nguyễn cung hương.
Phao tư kim ngọc doanh song níp
Lưu thử nhi tôn mãn nhất đường.
Đối cảnh kỷ hồi hàm biệt lệ
Lân tài nhất thế động trung trường.
Kim bằng diệu pháp không vương lực.
Tiến bạt u hồn đạt thượng phương.
Dịch nghĩa:
Tuổi thọ ngắn thôi phúc lại dài.
Phúc lưu cung Nguyễn ngát hương t
Quăng đi vàng ngọc đầy hai tráp,
https://thuviensach.vn
Để lại cháu con nối vạn đời;
Đối cảnh đòi phen cầm giọt lệ,
Thương tài một kiếp động lòng ai.
Nhờ phép Như Lai mầu nhiệm ấy
U hồn siêu độ thoát luân hồi.
Bấy giờ, trong các cung tần từ trần, không ai được ân sủng lạ lùng như thế.
Người đời cho là việc long trọng vậy.
Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng Hậu họ Trương
Bà người quý huyện tỉnh Thanh Hóa, cha là Trương Phúc Phan làm đến
Trấn biên doanh lưu thủ Chưởng doanh, tặng Quốc công, có truyện riêng(
29 ). Bà lúc mới vào hầu nơi tiềm để được phong làm Nhã cơ, sinh 2 trai:
trưởng là Thế Tông Hoàng Đế, thứ là Du, lại có tên là Nghiễm, tặng Thiếu
bảo quận công. Năm Canh Tý (Lê Thái Bảo năm thứ nhất) 1720 mùa thu,
tháng 7, bà mất thọ 22 tuổi, tặng Tu Dung Á Phu Nhân, thụy là Từ Ý, táng
lăng Vĩnh Phong (thuộc sơn phận xã Long Hổ, huyện Hương Trà), Thế
Tông Hoàng Đế năm thứ 6 Giáp Tý (1744) truy dâng tôn thụy là Từ ý
Quang Thuận Thục Phi, sau thêm 2 chữ "Chiêu Hiến". Gia Long năm thứ 5
Bính Dần (1806) lại truy tôn làm Từ ý Quang Thuận Chiêu Hiến Thục Huệ
Hiếu Ninh Hoàng Hậu.
Bài sách văn đại lược rằng: Đạo trời đất kiền khôn hợp đức, lễ tôn miếu, đế
hậu cung tôn.
Kính nghĩ, Từ Ý Quang Thuận Chiêu Hiến Trương Thục Phi điện hạ: tiếng
hay trong sáng, đức tốt đoan trang, sao bảo vụ sáng liền thần cực, nghi hình
túc mục như ngọc cư ngọc hành, khí phù dư(30) đúc được thánh minh,
dòng dõi lâu bền như thái sơn bàn thạch. Cho nên nay trên nhờ ơn thiêng
thêm sáng phúc trước. Kính dâng huy xưng, để tỏ đức tốt. Cẩn tiến sách
vàng dâng tôn hiệu là: Từ Ý Quang Thuận Chiêu Hiến Thục Huệ Hiếu
Ninh Hoàng Hậu, thờ chung vào gian hữu tam nhà Thái Miếu.
Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng Hậu họ Trương
Bà là người quý huyện Thanh Hóa. Cha là Trương Văn Sáng làm đến
Chưởng cơ; mẹ là Tống thị. Lúc mới vào hầu nơi tiềm để, bà được phong
làm Hữu
https://thuviensach.vn
Cung tần. Tính e thẹn cẩn thận, dạy bảo nội chức, có phong độ hậu phi đời
xưa. Sinh được 3 trai 1 gái3;ng là Chương, tặng Thành Công, con thứ hai là
Hưng Tổ Hoàng Đế(31), con thứ ba là Dục, tặng Ý Công, con gái là Ngọc
Đào. Năm Bính Thìn (1736, Lê Vĩnh Hựu năm thứ 2) mùa đông, tháng 10,
bà mất thọ 25 tuổi, được phong tặng là Tu Nghi Phu Nhân sau truy tặng là
Ôn Thành Trương Thái Phi, táng lăng Vĩnh Thái (thuộc sơn phận xã Dương
Xuân, huyện Hương Thủy).
Gia Long năm thứ 5 , Bính Dần (1806) lại truy tôn là Ôn Thành Huy Ý
Trang Từ Dục Thánh Hiếu Vũ Hoàng Hậu.
Bài sách văn đại lược rằng: Bà Đồ Sơn mở nhà Hạ, bà Hữu Nhung gầy nhà
Thương. Đẹp cùng sánh với người đời trước lễ nên tôn để hậu báo đền.
Kính nghĩ, Ôn Thành Trương Thái Phi điện hạ: Bốn đức gồm đủ, trăm nết
đều hay, bao hàm rộng sánh đế, trinh thuần đón lấy trời. Tiết tấu ngọc cư
ngọc vũ, êm vang ở công đường, lợi ích cái tóc tấc da, để phúc cho cháu
chắt. Cho nên nay trên nhờ thiêng liêng nối dài ngôi báu, bèn theo lễ to,
kính dâng tên quý. Cẩn tiến sách vàng dâng tôn hiệu là Ôn Thành Huy Ý
Trang Từ Dục Thánh Hiếu Vũ Hoàng Hậu, thờ chung ở gian tả tứ nhà Thái
Miếu.
Tuệ Tĩnh Thánh Mẫu Nguyên Sư Nguyễn thị
Bà lúc mới vào cung, rất được yêu quý, sinh 2 trai, con trưởng là Diệu, tặng
Thiếu bảo Quận công, con thứ hai tức là Duệ Tông Hoàng Đế(32
). Loạn năm Giáp Ngọ (1774) bà đi tu ở chùa Phước Thành. Năm Gia Long
thứ 3 (1804) mùa hạ, bà mất. Sách tặng làm Tuệ Tĩnh Thánh Mẫu Nguyên
Sư, hiệu là Thiệu Long giáo chủ, táng ở xã An Cựu (thuộc huyện Hương
Thủy) Gia Long năm thứ 4 (1805), cấp điền 15 mẫu. Tôn Thất Sài coi việc
thờ cúng.
Trần Quý nhân
Bà là người huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình, là con gái Khám Lý Năng
Tài Hầu. Ngày Thế Tông ở Thạnh cung(33) bà 20 tuổi, vì người đẹp nết tốt,
đ
ược vào hầu nơi tiềm để. Tính cơ cảnh, nhanh nhẹn, khéo đón ý tứ ở nét
mặt, sớm khuya kính cẩn, không trái ý chúa bao giờ. Bà tính thanh nhã
https://thuviensach.vn
thích tu hành. Mỗi khi lui chầu, thường đến chùa, thắp hương, lễ Phật. Năm
Mậu Ngọ (1738) chúa nối ngôi, phong làm Quý nhân, ngày càng thêm yêu
quý. Sinh 4 trai: trưởng là Kính, thứ hai là Bản, thứ ba là Tuấn, thứ tư là
Yến, đều có truyện riêng, còn hai con gái của bà không rõ sự tích. Năm
Canh Ngọ (1750), mùa thu, bà mất, thọ 35 tuổi. Bà là người thuần thục cẩn
thận, nói và làm đều có phép tắc, thông thạo nội huấn, Lúc mới ốm, sợ chúa
săn sóc, bà nghiêm dặn những người ở bên không cho chúa biết. Đến lúc
ốm nặng, còn gượng dậy ăn uống, không trối trăn một lời nào. Khi bà chết,
chúa thương tiếc lắm, sắc tặng Chiêu Nghi, liệt vào hàng phu nhân, thụy là
Từ Mẫu, táng ở xã Dương Xuân, sai văn thần làm văn bia khắc vào đá dựng
lên mộ, đến nay hãy còn.
QUYỂN 2 TRUYỆN CÁC
HOÀNG TỬ
Con trưởng Triệu Tổ
Hoàng Đế
Hoàng trưởng tử Uông, sinh mẫu là ai không rõ (Năm Ất Tỵ 1545 , Lê
Nguyên Hòa năm 13) tập ấm, phong làm: Lãng Xuyên Hầu, sau tiến phong
Tả tướng quân, rồi bị Trịnh Kiểm làm hại, chết (không nhớ năm).
Con là Uyên, theo Thái Tổ Hoàng Đế vào Nam, làm quan đến Đề lĩnh
Thượng khố Đội trưởng.
Uyên có 2 con là Thao và Thanh, đều làm đến Chưởng doanh Quận công.
Con Thao là Tráng, có dũng lược, thường đi đánh dẹp, nhiều lần lập được
quân công. Năm Mậu Tý (1588) mùa thu, Thái Tông Hoàng Đế mới nối
ngôi chúa, cho rằng Quảng Bình thủy doanh tham tướng Nguyễn Triều Văn
vốn hèn nhát, bèn triệu về dùng Tráng lên thay. Sau khi đến nơi, Tráng sửa
khí giới, dạy sĩ tốt, việc phòng bị ngoài biên càng được nghiêm mật. Năm
Bính Thân (1596) mùa hạ, Tráng theo tiết chế Nguyễn Hữu Tiến đem quân
lấy Nghệ An, cùng Phó tướng Nguyễn Cửu Kiều đem chu sư đánh nhau với
https://thuviensach.vn
thủy quân giặc. Bính Ngọ (1606) năm thứ 18, mùa đông, Tráng được thăng
Cựu doanh trấn thủ. Năm Đinh Mão (1627) mùa hạ, Anh Tông Hoàng Đế
nối ngôi chúa, thăng Chưởng doanh quận công. Năm ấy Tráng mất. Đến
năm Gia Long thứ 4 (1805) vì l thần hồi quốc sơ, Tráng được liệt vào bậc
ba, ấm thụ một người cháu được thế tập làm thứ đội trưởng để giữ việc thờ
cúng, cấp cho 3 mẫu ruộng thờ, 1 người coi mả. Tráng có 6 trai là Định,
Đạt, Đồng, Vĩnh, Thuận, Kính. Định và Đồng đều làm đến Chưởng doanh,
Đạt và Kính đều làm đến Cai cơ, Vĩnh và Thuận đều làm đến Cai đội.
Các con Thái Tổ Hoàng Đế
Hoàng trưởng tử: Hà
Mẹ là Đoan Quốc Thái Phu Nhân. Hà làm quan nhà Lê, vì có quân công,
làm đế
n Tả đô đốc Quận công. Năm Mậu Ngọ (1558, Lê Chính Tự năm đầu), mùa
đông, đem gia quyến theo vào Thuận Hóa. Năm Bính Tý (1576) mùa hạ,
Hà mất, tặng Thái bảo Hòa quận công. Hà có 6 trai: Lộc, Vệ, Hoằng,
Tuyên, Đống, Nghĩa. Duy Lộc, Vệ, Tuyên và Nghĩa làm to hơn cả, Lộc làm
đến Chưởng doanh.
Vệ thường đem quân đánh giặc, có nhiều chiến công, lên đến Chưởng cơ.
Hi Tông Hoàng Đế năm thứ 7, Canh Thân (1620) quân Trịnh vào lấn cướp.
Chúa sai Vệ đem quân đi chống cự, quân Trịnh không dám đến gần. Năm
thứ 14 Đinh Mão (1627) Trịnh Tráng lại rầm rộ kéo quân vào xâm lấn.
Tráng sai tướng là Nguyễn Khải đóng doanh trại ở bờ bắc sông Nhật Lệ.
Chúa sai Vệ làm Tiết chế quân bộ, chống đánh. Tôn Thất Trung làm Tiết
chế quân thủy, tiếp ứng. Hai bên đối lũy chống … Quân Trịnh đánh vào
trận của Vệ, Vệ sai bắn súng lớn để đánh phá, quân Trịnh kinh sợ. Tôn Thất
Trung đem quân thủy nhân lúc nước triều lên, tiến sát quân doanh của
Khải. Quân Trịnh sợ, vỡ chết rất nhiều, Trịnh Tráng bèn rút quân về.
Vệ có tài làm tướng, mang cờ tiết đi đánh dẹp lập nhiều công to, làm đến
chưởng doanh. Khi chết không con kế tự.
Tuyên ban đầu làm Cai cơ, sau dần thăng đến Chưởng cơ. Hi Tông Hoàng
Đế năm thứ 7, Canh Thân (1620) nghịch Hợp và nghịch Trạch mưu đồ làm
loạn, mật đưa thư cho chúa Trịnh, ước hẹn làm nội ứng. Chúa Trịnh tin, cho
https://thuviensach.vn
đóng quân ở Nhật Lệ để đợi. Hợp và Trạch đem quân làm phản, chúa Hi
Tông sai Tuyên làm tiên phong tự đem đại quân đi đánh. Hợp và Trạch thua
chạy, Tuyên đuổi theo bắt được đem về dâng. Thần Tông Hoàng Đế khi
mới lên ngôi chúa, nghịch Anh giữ Quảng Nam làm phản, đắp lũy Câu Đê
làm kế cố thủ. Chúa sa...
Table of Contents
LỜI NÓI ĐẦU
LỜI TU CỦA SỬ QUÁN
QUYỂN 1 TRUYỆN CÁC HẬU PHI
QUYỂN 2 TRUYỆN CÁC HOÀNG TỬ
QUYỂN 3 TRUYỆN CÁC BỀ TÔI (I)
QUYỂN 4 TRUYỆN CÁC BỀ TÔI (II)
QUYỂN 5 TRUYỆN CÁC BỀ TÔI (III)
QUYỂN 6 TRUYỆN CÁC BỀ TÔI (IV)
CHÚ THÍCH
https://thuviensach.vn
LỜI NÓI ĐẦU
Đại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư
tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của
nhà Nguyễn là Quốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.
Đại Nam liệt truyện gồm 87 cuốn, 2000 trang bản thảo, chia làm hai phần
chính: Tiền biên và Chính biên, ghi chép tương đối đầy đủ về sự tích , công
trạng các công thần , liệt nữ, danh tăng … và gia phả nhà Nguyễn trước và
sau khi "Gia Long lập quốc". Bộ sách đã được các nhà dịch thuật nghiên
cứu sắp xếp tại làm 4 tập:
Tập 1: Tiền biên: Từ cuốn đầu tiên cuốn 6.
Tập 2: Chính biên (Sơ tập): Từ cuốn đầu đến cuốn 33.
Tập 3: Chính biên (Nhị tập): Từ cuốn đầu đến cuốn 25.
Tập 4: Chính biên (Nhị tập): Từ cuốn 26 đến cuốn 46.
Trước đây, các nhà nghiên cứu cũng nhận thức rõ tầm quan trọng của Liệt
truyện nên một vài phần của bộ sách đã được dịch và xuất bản nhưng chỉ
phục vụ trong phạm vi hẹp. Hiện nay việc lưu hành rộng rãi bản dịch toàn
bộ Đại Nam liệt truyện là rất cần thiết. Do đó, Viện Sử học phối hợp với
Nhà xuất bản Thuận Hóa đã cố gắng để bộ sách quý này được xuất bản trọn
vẹn một lần mong đáp ứng nhu cầu bạn đọc.
được kết quả này, Viện Sử học đã làm hết sức mình để giữ gìn và phát huy
hơn 2000 trang bản thảo trong những điều kiện rất hạn hẹp. Các nhà Hán
học kỳ cựu đã làm việc tại Viện Sử học như Hoa Bằng, Đỗ Mộng Khương,
Ngô Hữu Tạo, Cao Huy Giu, Nguyễn Trọng Hân, Nguyễn Mạnh Duân,
Phạm Huy Giu, Trương Văn Chinh, Nguyễn Danh Chiên, Phan Đại Doãn
… đã đóng góp công sức, trí tuệ rất nhiều vào bản dịch này.
Bản dịch đã được xuất bản lần đầu năm 1993 và tái bản lần thứ nhất vào
năm 1997. Thể theo đề nghị của bạn đọc, nhất là giới nghiên cứu sử học,
chúng tôi cho tái bản lần thứ hai, có sửa chữa; nhưng chắc chắn vẫn còn
thiếu sót, rất mong bạn đọc, các nhà nghiên cứu góp ý kiến, chỉ bảo cho
https://thuviensach.vn
những hạn chế để hy vọng lần tái bản tiếp theo bộ sách sẽ được hoàn chỉnh
hơn.
VIỆN SỬ HỌC - NHÀ XUẤT BẢN THUẬN HÓA
ĐẠI NAM LIỆT TRUYỆN
TIỀN BIÊN
LỜI TU CỦA SỬ QUÁN
Lũ thần là Tổng tài, Toàn tu Sử
quán cẩn tâu việc khâm tu Liệt truyện tiền biên đã xong, xin san khắc để tỏ
pháp điển tất.
Lũ thần trộm nghĩ: nước có sử là để tỏ quy mô thể thống một đời, sử có
truyện là để thuật gốc ngọn trước sau một người. Cho nên làm sử có bốn
thể(1) thì truyện là một. Trong thì hậu phi, hoàng tử, công chúa, tôn thất;
ngoài thì các bề tôi, các tuần lại(2), văn học, trung nghĩa cho đến ẩn dật,
cao tăng và khốc lại(3), nghịch thần, gian thần đều xếp từng loại mà biên
vào để giữ tích cũ, làm gương khuyên răn.
Kính nghĩ: nhà nước ta được lòng trời thương, Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế
gây nền cõi Nam, thần truyền thánh nối, hơn hai trăm năm, đức tốt công to,
kỷ cương rộng, công dụng lớn đã rõ ràng ở sử sách. Song một đời có tôi
hiền một đời, một người có sự trạng một người. Dầu đời đã xa, sự tích thiếu
sót nhiều, nhưng nếu còn được một, hai phần cũng đủ để cho đời sau soi
xét.
Thiệu Trị năm thứ nhất (1841) kính soạn Thực lục tiền biên về liệt thánh(4)
đã được sắc dụ tận mặt rằng nên soạn Liệt truyện luôn thể. Lũ thần đã
thông tư đi các địa phương tra hỏi sự tích, lại tham khảo thực lục và rộng
nghe cả lời truyền ngôn hết lòng bàn định sắp xếp biên tập thành sách. Đầu
từ truyện các hậu, phi, thứ đến truyện các hoàng tử, các công chúa, thứ nữa
đến các bề tôi rồi đến truyện các người ẩn dật, truyện cao tăng, cuối cùng
phụ lục truyện nghịch thần, gian thần gồm có 7 mục, cộng 6 quyển. Đã đem
https://thuviensach.vn
bản mẫu tiến trình, được châu phê rằng "đã xem rồi, cho kiểm cứu lại, in ra,
để truyền đời sau. Khâm thử !"
Lũ thần hết lòng nghiên cứu, cũng có xét ra được chỗ thiếu sót, đã sửa lại
và hổ sung. Xin giao cho thợ khắc in. Sau này, Liệt truyện chính biên làm
xong sẽ xin tiến trình tiếp tục khắc in. Về công việc san nhuận lần này xin
do những viên phần việc đứng làm.
Nay cẩn tấu
Tự Đức năm thứ 5 (1852) tháng 3 ngày 29, đề.
Chỉ truyền: "Hữu ty chọn ngày tốt, giao khắc in, rồi do Sử quán kiểm kỹ,
đóng thành quyển để truyền đời sau. Còn mọi việc khác đều chuẩn y lời
tâu".
(Tên bầy tôi làm lời tâu):
Trương Đăng Quế, Hà Duy Phiên, Lâm Duy Nghĩa, Tô Trân, Phạm Hữu
Nghịi Nguyễn Hữu Tố, Phạm Bá Thiều, Trần Trứ, Bùi Quỹ.
PHÀM LỆ
1. Đầu chép hậu phi, thứ đến hoàng tử, công chúa, là trọ
ng thứ bậc nhân luân; kế đến các bề tôi là nêu công lao sự nghiệp; thứ nữa
đến các người ẩn dật là nêu những người điềm đạm từ tốn; thứ nữa đến các
cao tăng chép cho đủ; cuối cùng đến các nghịch thần, gian thần, là răn đe
kẻ ác.
2. Mở cõi miền Nam, là bắt đầu từ Thái Tổ(5), nhưng phát dài phúc lành thì
từ Tĩnh Hoàng Đế(6) xây nền. Cho nên đặt Tĩnh Hoàng Hậu(7) ở đầu
truyện các hậu phi, là để tỏ có gốc tích vậy.
3. Truyện các hậu phi chỉ chép tên thụy và họ, vì tên thực của các bà không
để lọt ra khỏi cửa. Đó là theo thể lệ chép truyện trong Minh sử.
4. Hoàng tử và công chúa có sự tích gì đáng ghi thì chép cả không thì chép
theo thứ tự lớn bé cốt để giữ lấy sự thực.
5. Dưới họ tên các bề tôi, biên rõ quê quán, nếu không kê cứu được thì bỏ
trống.
6. Trong các bề tôi hễ ai có công nghiệp rõ rệt và tiết nghĩa đáng khen thì
không cứ quan chức to hay nhỏ đều chép vào truyện, còn cứ tùy theo loại:
hoặc hạng nhỏ phụ vào hạng lớn; hoặc cấp thấp phụ vào cấp cao.
https://thuviensach.vn
7. Gặp trường hợp cùng một việc mà khác người làm thì đều có truyện
riêng. Về việc ghi chép, nếu ở truyện này đã thuật chi tiết thì ở truyện kia
lược bớt, nhưng chua "xem thêm truyện … " để cho sáng thêm.
8. Tên người gặp chữ húy, nếu là hoàng tử, công chúa thì theo Ngọc phả,
viết theo lối chiết tự (tả tùng … hữu tùng … ), nếu là tên các bề tôi thì đổi
dùng chữ khác.
9. Người trong Khánh phả(8) nếu phạm tội to: phản nghịch, thì tước bỏ họ,
chỉ viết tên (như loại Hiệp, Trạch) không cho dự trong Khánh phả nữa.
10. Sự tích trong Liệt truyện đều dựa vào Thực lực và tham khảo các hành
trạng các gia phả, ngoài ra còn hỏi rộng, tìm thêm nếu có sự thực căn cứ
được thì đều thâu lượm mà ghi chép.
CHỨC TƯỚC, TÊN HỌ CÁC QUAN THAM GIA
BIÊN SOẠN "ĐẠI NAM LIỆT TRUYỆN TIỀN BIÊN"
Vâng sắc kê khai chức tước, tên họ các bề tôi biên soạn quyển Đại Nam liệt
truyện tiền biên:
Tổng tài:
Cố mệnh lương thần, Phụ chính đại thần, Thái bảo, Cần chính điện Đại học
sĩ, lĩnh Binh bộ Thượng thư sung Cơ mật viện đại thần, Quản lý Khâm
thiên giám kiêm lĩnh Quốc tử giám sự vụ, sung Kinh diên giảng quan, Tuy
Thịnh quận công, thần: Trương Đăng Quế.
Nguyên Ngự tiền đại thần, Thái bảo, Đông các Đại học
sĩ Quản lý Lộ sự vụ, kiêm sung Hoàng thân Sư bảo, kiệm
lĩnh Quốc tử giám sự vụ, thần: Vũ Xuân Cẩn.
Phó Tổng tài:
Thái tử Thiếu bảo, Hiệp biện Đại học sĩ, lĩnh Hộ bộ Thượng thư sung Cơ
mật viện đại thần, thần: Hà Duy Phiên.
Phụ chính đại thần, Hiệp biện Đại học sĩ, lĩnh Lễ bộ Thượng thư, sung Cơ
mật viện đại thần, Hiệp lý Kinh kỳ thủy sư, thần: Lâm Duy Nghĩa.
Toản tu:
Hàn lâm viện Chưởng viện học sĩ, sung Kinh diên nhật giảng quan, thần:
Tô Trân.
https://thuviensach.vn
Thiêm sự phủ Thiêm sự, sung Kinh diên nhật giảng quan, thần: Phạm Hữu
Nghi.
Nguyên Hàn lâm viện Trực học sĩ, thần: Nguyễn Hữu Tố.
Thái bộc tự khanh, thần: Phạm Bá Thiều.
Nguyên Hồng lô tự khanh, thần: Trần Trứ.
Hồng lô tự khanh, thần: Bùi Quỹ.
Khảo hiệu:
Hàn lâm viện Biên tu, thần: Nguyễn Công Thụy.
Hàn lâm viện tòng bát phẩm bút thiếp thức, thần: Nguyễn Đức Ý.
Đằng lục:
Hàn lâm viện tòng bát phẩm Bút thiếp thức, thần: Nguyễn Tường Giảng.
Hàn lâm viện tòng cửu phẩm Bút thiếp thức, thần: Trần Viết Khai.
Hàn lâm viện tòng cửu phẩm Bút thiếp thức, thần: Lê Văn Thiều.
Hàn lâm viện tòng cửu phẩm Bút thiếp thức, thần: Lê Văn Chân.
Thu chưởng:
Hàn lâm viện Kiểm thảo, thần: Lê Quang Linh.
Hàn lâm viện tòng cửu phẩm Bút thiếp thức, thần: Nguyễn Văn Dĩnh.
QUYỂN 1 TRUYỆN CÁC HẬU
PHI
Triệu Tổ(9) Tĩnh Hoàng Hậu
Bà họ Nguyễn họ Nguyễn khác) tiên tổ là người huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải
Dương, sau dời đến ở Quý huyện(10) tỉnh Thanh Hóa. Cha là Minh Biện,
làm quan đời Lê đến Đặc tiến, Phụ quốc Thượng tướng quân, Thự vệ sự
(năm Minh Mạng thứ 4) (1823) truy phong làm Hựu chính phù bình trung
đẳng thần. Anh là Ư Tỵ cũng làm quan nhà Lê đến Thái phó Uy quốc công.
Hậu lấy Triệu Tổ Hoàng Đế ta, sinh được một con trai là Thái Tổ Hoàng
Đế, mùa xuân tháng Giêng (không nhớ năm) bà mất. Đời truyền là táng
chung vào lăng Trường Nguyên ở núi Thiên Tôn, tỉnh Thanh Hóa.
https://thuviensach.vn
Năm Giáp Tý (1744), Thế Tông Hoàng Đế(11) năm thứ 6, truy dâng tôn
thụy là Từ Tín Chiêu Ý Đức Phi, sau lại thêm hai chữ Hoằng Nhân".
Năm Bính Dần (1806), Gia Long thứ 5 lại truy tôn là Từ Tín Chiêu Ý
Hoằng Nhân Thục Đức Tĩnh Hoàng Hậu.
Bài sách văn đại lược nói: Khôn nguyên to sáng, đều sánh với đức Kiền.
Hậu đức thuần toan cho nên hay giúp chúa; biểu hiện tôn sùng cử hành mọi
lễ. Kính nghĩ, Từ Tín Chiêu Ý Hoằng Nhân Nguyễn Đức Phi điện hạ đức
kính êm đềm, tiếng tốt vang dậy. Con cháu đông như chung tư(12) đàn đầy
nhà cửa. Siêng năng dậy từ gà gáy, chăm sóc gia đình. Cho nên, nay nhờ
phúc to; càng thêm sáng rộng. Nết tốt công cao, biểu dương sao dám để
chậm. Vậy kính làm sách vàng, dâng tôn hiệu là Từ Tín Chiêu Ý Hoằng
Nhân Thục Đức Tĩnh Hoàng Hậu, thờ chung vào Triệu Miếu.
Thái Tổ Gia Dụ(13) Hoàng Hậu
Bà họ Nguyễn - (họ Nguyễn khác) sự tích không rõ. Bà sinh một trai là Hy
Tông Hoàng Đế. Mùa hạ tháng 5 (không nhớ năm) bà mất, táng ở lãng
Vĩnh Cơ (thuộc sơn phận Hải Cát Gia Long năm thứ 7 (1808) mới truy
dâng tên lăng. Các lăng sau đây cũng thế. Năm Giáp Tý (1744) Thế Tông
Hoàng Đế năm thứ 6, truy dâng thụy tôn là Từ Lương Quang Phục Ý Phi,
sau lại thêm hai chữ "Minh Đức". Năm Bính Dần, Gia Long thứ 5 lại truy
tôn làm Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý Cung Gia Dụ Hoàng Hậu. Bài
sách văn đại lược rằng: giương oai cầm cây việt cờ mao, định yên thế nước,
thực bởi thánh công, trong sáng như ngọc cư ngọc vũ, chỉnh đốn việc nhà
đều nhờ hậu đức. Kính nghĩ, Từ Lương Quan Thục Minh Đức Nguyễn Ý
Phi điện hạ: thánh sánh đối với thánh, đến ở ấp mới này. Khuyến tướng sĩ
cần lao ở hàng trận, nêu đức, tính trinh tĩnh ở đình vi. Đức hóa khắp nước
nhà, phúc trạch nhuần cháu chắt. Cho nên, nay trên nhờ bóng cả, thêm sáng
tốt xưa. Coi phước đức này, dám dâng sùng báo. Kính làm sách vàng, dâng
tôn hiệu là Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý Cung Gia Dụ Hoàng Hậu,
thờ chung vào Thái Miếu.
Hy Tông Hiếu Văn(14) Hoàng Hậu
Bà họ Nguyễn (cẩn án xét trước là họ Mạc sau đổi h Nguyễn). Tiên tổ là
người huyện Nghi Dương tỉnh Hải Dương. Bà là trưởng nữ Khiêm Vương
https://thuviensach.vn
Mạc Kính Điển. Khi Kính Điển bị bại vong, bà theo chú là Cảnh Huống
đem gia quyến vào Nam ẩn ở chùa Lam Sơn, nhân đó nhập tịch ở Quảng
Trị. Nguyễn Ngọc Dương vợ Cảnh Huống, là dì ruột Hy Tông Hoàng Đế,
nhân tiến bà vào hầu chúa ở nơi tiềm để(15). Tính minh mẫn thuần thục,
nói và làm đều đúng mực thước, bà được chúa yêu và quý trọng. Sinh được
5 con trai: Con trưởng là Kỳ, làm Hữu phủ chưởng phủ sự, trấn thủ Quảng
Nam - tặng Thiếu bảo, Khánh quận công; con thứ hai tức là Thần Tông
Hoàng Đế, con thứ ba là Trung, con thứ tư là An, con thứ năm là Nghĩa
chết sớm. Ba con gái: Trưởng là Ngọc Liên, thứ là Ngọc Vạn, út là Ngọc
Khoa. Năm Canh Ngọ (1630, Lê Đức Long năm thứ 2) mùa đông tháng 11,
bà mất, thọ 53 tuổi, truy tặng là Doanh Cơ, đặt tên thụy là Nhã Tiết, táng
lăng Vĩnh Diện (ở xã Chiêm Sơn, tỉnh Quảng Nam).
Năm Giáp Tý (1744) Thế Tông Hoàng Đế năm thứ 6, truy dâng tôn thụy là:
Huy Cung Từ Thận Thuận Phi.
Năm Bính Dần (1806) Gia Long thứ 5, lại truy tôn làm Huy Cung Từ Thân
Ôn Thục Thuận Trang Hiếu Văn Hoàng Hậu.
Bài sách văn đại lược rằng: Tốt thay đức khôn nguyên, trên sánh với thê
Kiều. Phô nêu đức tốt, là để đáp phúc dày mà tỏ đạo hiếu vậy.
Kính nghĩ, Huy Cung Nguyễn Thuận Phi điện hạ; trinh tĩnh đoan trang, bao
hàm rộng sáng: phong hóa khắp gần xa, đức tốt không bờ bến. Đúc thành
giống tết, phồn thịnh phúc to. Nay trên nhờ đức thiêng liêng, nối mãi ngôi
tôn quý. Vậy xét điển lễ kính dâng tên hay. Cẩn tiến sách vàng dâng tôn
hiệu là Huy Cung Từ Thận Ôn Thục Thuận Trang Hiếu Văn Hoàng Hậu,
thờ chung vào gian tả nhất nhà Thái Miếu.
Thần Tông Hiếu Chiêu(16) Hoàng Hậu họ Đoàn
Ngườ
i huyện Diên Phúc, tỉnh Quảng Nam, bà là con gái thứ 3 của Thạch Quận
công Đoàn Công Nhạn. Mẹ là phu nhân Vũ Thuận Hóa. Bà là người minh
mẫn thông sáng. Năm 15 tuổi đêm hái dâu ở bãi, trong trăng mà hát. Bấy
giờ Hy Tông Hoàng Đế ta đi chơi Quảng Nam, Thần Tông Hoàng Đế ta
theo đi hộ giá. Đêm đáp thuyền chơi trăng. Đỗ thuyền ở gành Điện Châu
(bây giờ là bãi n Phú Tây) câu cá, nghe tiếng hát, lấy làm lạ, sai người đến
https://thuviensach.vn
hỏi, biết là con gái họ Đoàn, cho tiến vào hầu chúa ở tiềm để, được yêu
chiều lắm. Bà sinh một trai, ấy là Thái Tông Hoàng Đế. Năm Tân Sửu
(1661) Lê Vĩnh Thọ năm thứ 4 mùa hạ, tháng 5, bà mất, táng Vĩnh Diện (ở
Thượng Cốc Hùng Cương thuộc xã Chiêm Sơn, tỉnh Quảng Nam). Thế
Tông Hoàng Đế năm thứ 6, Giáp Tý (1744) truy dâng tôn thụy là Trinh
Thục Từ Tĩnh Huệ Phi, sau lại thêm 2 chữ "Mẫn Duệ". Gia Long năm thứ 5
Bính Dần (1806) lại truy tôn làm Trinh Thục Từ Tĩnh Mẫn Duệ Huệ Kính
Hiếu Chiêu Hoàng Hậu.
Bài sách văn đại lược nói: Lễ nhà tôn miếu, kính người mình tôn, yêu
người mình thân, là để báo công mà tôn đức vậy.
Kính nghĩ, Trinh Thục Từ Tĩnh Mẫn Duệ Đoàn Huệ Phi điện hạ: sáng thơm
tú my, phép tốt trinh thuần. Khôn nguyên hợp đức, phong hóa gây từ đình
vi, cảm động kết thai, phúc trạch truyền cho xã tắc. Để phúc yên tốt nối đời
vô cùng. Nay, trên nhờ phúc thiêng, lại dựng nghiệp cả. Kính dâng huy
chương, để tôn nền tốt. Cẩn tiến sách vàng dâng tôn hiệu là: Trinh Thục Từ
Tĩnh Mẫn Duệ Huệ Kính Hiếu Chi Hoàng Hậu, thờ chung vào gian hữu
nhất nhà Thái Miếu.
Thái Tông Hiếu Triết(17) Hoàng Hậu họ Chu
(không rõ quê quán)
Ban đầu, bà hầu chúa ở nơi tiềm để, làm chánh phu nhân, sinh 2 trai, một
gái. Con trai trưởng là Diên được tấn phong Phúc Quận công, con thứ là
Thuần, được phong Hiệp Quận công, con gái là Ngọc Tào. Năm Giáp Tý
(1684), Lê Chính Hòa năm thứ 5 mùa đông, tháng 11, bà mất, thọ 60 tuổi,
tặng Tán Quốc Chánh Phu Nhân, táng lăng Vĩnh Hưng thuộc sơn phận
phường An Ninh huyện Hương Thủy. Thế Tông Hoàng Đế năm thứ 6, Giáp
Tý (1744) truy dâng tôn thụy là Từ Mẫn Chiêu Thánh Trang Phi sau thêm 2
chữ "Trang Liệt".
Gia Long năm thứ 5 Bính Dần (1806) lại truy tôn làm Từ Mẫn Chiêu
Thánh Cung Tĩnh Trang Thận Hiếu Triết Hoàng Hậu.
Bài sách văn đại lược rằng: Có thánh quân nối trị; tức có thục đức tề gia.
Cùng tôn cùng quý, là chính lễ vậy.
https://thuviensach.vn
Kính nghĩ, Từ Mẫn Chiêu Thánh Trang Liệt Chu Trang Phi điện hạ. Dáng
tốt trinh tĩnh, phép cả trang nghiêm. Hợp đức với liên nguyên, truyền sáng
bởi khôn hậu, phong hóa gây từ thơ "quan thư"(18) ân trạch đầm ấm như
thơ "cù mộc"(19). Khuôn mẫu đáng làm phép, thánh thiện khó hình dung.
Nay, đã thành công to, nhớ lại nghiệp tốt, bèn theo điển lễ, báo đáp đức
lành. Cẩn tiến sách vàng dâng tôn hiệu là: Từ Mẫn Chiêu Thánh Cung Tĩnh
Trang Thận Hiếu Triết Hoàng Hậu , thờ chung vào gian tả nhị nhà Thái
Miếu.
Hiếu Triết Hoàng Hậu họ Tống
Người quý huyện(20) tỉnh Thanh Hóa. Cha là Tống Phúc Khang, tặng
Thiếu phó Quậ
n công, mẹ là Phạm thị. Tính người hiền từ hòa thuận, khi mới vào cung bà
được liệt vào hàng Cơ, càng ngày càng được yêu chiều. Bà sinh 2 trai: con
trưởng là Anh Tông Hoàng Đế, con thứ hai là Trân, tặng Thiếu phó, Cương
Quận công. Mùa xuân tháng 3 (không nhớ năm) bà mất, táng lăng Quang
Hưng (thuộc sơn phận xã Định Môn, huyện Hương Trà). Thế Tông Hoàng
Đế năm thứ 6, Giáp Tý (1744) truy dâng tôn thụy là Từ Tiên Huệ Thánh
Tĩnh Phi, sau lại thêm 2 chữ "Trinh Thuận", Gia Long năm thứ 5 Bính Dần
(1806) lại truy tôn là Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tĩnh Nhân Hiếu
Triết Hoàng Hậu.
Bài sách văn lược rằng: Giữ nhân luân, dùng điển lễ, báo nguồn gốc tôn
người thân, là đạo hiếu con cháu vậy.
Kính nghĩ, Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tống Tĩnh Phi điện hạ sao Bảo
vụ sáng soi, quẻ Thần khôn hợp đức. Phép khuê môn tập quen, lễ tôn miếu
kính cẩn. Trên sách Kiền nguyên, sinh ra con trưởng, kế thừa dẫn mối lâu
dài, khánh trạch mở nền thịnh lớn. Cho nên nay trên nhờ thiêng liêng mở
mang bờ cõi, thành nghiệpnày, bèn theo điển lễ, lẽ cả cùng tôn. Cẩn tiến
sách vàng dâng tôn hiệu là: Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tĩnh Nhân
Hiếu Triết Hoàng Hậu, thờ chung vào gian tả nhị nhà Thái Miếu.
Anh Tông Hiếu Nghĩa(21) Hoàng Hậu họ Tống
Bà người quý
https://thuviensach.vn
huyện tỉnh Thanh Hóa, cha là Tống Phúc Vinh, tặng Thiếu phó Quận công,
mẹ là Lê thị. Ban đầu bà tiến hầu nơi tiềm để, rồi được thăng làm Cung
tần(22). Lúc có thai, trên chỗ ở về phương tây nam, trời mở một khoanh
tròn mây đẹp bay vòng quanh, ở giữa có một chỗ sáng tròn khác thường từ
trên không trung mà xuống, ánh sáng soi rọi lên trời. Người thức giả cho là
điềm sinh thánh. Đầy năm, bà sinh con trai, tức là Hiển Tông Hoàng Đế.
Nguyễn Gia phi không có con, yêu mà vỗ về, nuôi nấng. Năm Bính Tý
(1696) Lê Chính Hòa năm 17 mùa xuân tháng 3, bà mất, thọ 44 tuổi. Hiển
Tông Hoàng Đế(23) truy tôn là Quốc Thái Phu Nhân, táng lăng Vĩnh Mậu
(thuộc sơn phận xã Định Môn, huyện Hương Trà). Thế Tông Hoàng Đế
năm thứ 6, Giáp Tý (1744) truy dâng tôn thụy là Từ Tiết Tĩnh Thục Hiển
Phi, sau thêm 2 chữ "Hiếu Từ". Gia Long năm thứ 5, Bính Dần (1806) lại
truy tôn là Từ Tiết Tĩnh Thục Tuệ Mẫn Hiến Thuận Hiếu Nghĩa Hoàng
Hậu.
Bài sách văn đại lược nói: dựng nghiệp Tây kỳ, bà Thái Nhâm, bà Thái
Khương gây phúc cả. Mở nền Đông lạc, bà Mã hậu, b Đăng hậu nối điềm
lành. Đức tốt sánh đời xưa, tên hay để hậu báo. Kính nghĩ, Từ Tiết Tĩnh
Thục Hiếu Từ Tống Hiển Phi điện hạ: Trăm nết có đủ, muôn thiện đều
kiêm. Bao hàm rộng rãi trên sách Kiền nguyên, nội trị có khuôn phép từ
ngọc cư, ngọc hành(24) mở dấu tốt lành sinh ra con trưởng truyền gia vững
cơ đổ như thái sơn, bàn thạch. Cho nên nay được nhờ phúc thiêng liêng,
mới chịu mệnh sáng, xưng dương đức tốt, để báo tốt lành cẩn tiến sách
vàng dâng tôn hiệu là Từ Tiết Tĩnh Thục Tuệ Mẫn Hiếu Thuận Hiếu Nghĩa
Hoàng Hậu, thờ chung vào gian hữu nhị nhà Thái Miếu.
Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng Hậu, họ Tống
Bà vốn họ Hồ, sau khi vào cung, được cho họ là Tống, người huyện Hương
Trà phủ Thừa Thiên, là con gái Chưởng doanh Hồ Văn Mai.
Vào cung được chúa yêu chiều, cho làm Hữu Cung tần thứ 4. Sau đó được
thăng Chiêu Nghi. Tính người nhân thuận, cung kính, trong cung đều được
cảm hóa vì đức tính bà. Sinh được 2 trai: trưởng là Túc Tông Hoàng Đế(25)
lúc sinh có hương lạ đầy nhà, thứ là Tứ, phong Luân Quốc công. Năm Bính
Thân (1716, Lê Vĩnh Thịnh năm thứ 12), mùa xuân tháng 2, bà mất, thọ 37
https://thuviensach.vn
tuổi, tặng Minh Phi, liệt vào hàng phu nhân, thụy là Từ Tuệ, táng lăng Vĩnh
Thạnh (thuộc xã Trúc Lâm, huyện Hương Trà). Năm Giáp Tý (1744) Thế
Tông Hoàng Đế năm thứ 6, truy dâng tôn thụy là Từ Huệ Cung Thục Kính
Phi, sau thêm 2 chữ "Ý Đức". Gia Long năm thứ 5 Bính Dần (1806) truy
tôn là Từ Huệ Cung Thục Ý Đức Kính MHiếu Minh Hoàng Hậu. Bài sách
văn đại lược rằng: Đón quẻ Kiền là quẻ Khôn sánh với đế gọi là hậu. Lễ đặt
bởi nghĩa, kính với người tôn, là để tỏ lễ nhà tôn miếu. Kính nghĩ, Từ Huệ
Cung Thục Ý Đức Tống Kính Phi điện hạ: dáng đẹp nổi trâm cài hoa giắt,
đức tốt như ngọc cư, ngọc hành. Thùy mị đề tiên phòng gương mẫu ưu cần
giúp chúa như thơ Kê minh(26) chung đúc điềm Hoa chử(27) tốt lành,
thịnh vượng về sau thơ Lân chỉ(28). Cho nên nay trên đội ơn thừa, mở
mang nghiệp lớn. Bèn xét lẽ văn, tán dương đức tốt. Cẩn tín sách vàng
dâng tôn hiệu là: Từ Huệ Cung Thục Ý Đức Kính Mục Hiếu Minh Hoàng
Hậu, thờ chung vào gian tả tam nhà Thái Miếu.
Nguyễn Kính Phi
Là con gái Tham chính Nguyễn Hữu Hiệp, năm Hiển Tông mới làm chúa,
bà vào hầu ở nội đình, được cất nhắt làm Hữu Cung tần thứ 3, rồi thăng
Chánh Nội phủ. Nă
m Giáp Ngọ (1714, Lê Vĩnh Thịnh thứ 10) mùa thu, bà mất, được tặng là
Kính Phi, tôn bằng hàng phu nhân, thụy là Từ Đức, táng ở xã Trúc Lâm,
lập đền thờ ở Hà Khê.
Bà là con nhà dòng vào hầu chúa được yêu chiều (tương truyền: bà sinh 11
con, nay còn một ngành, ngoài ra không rõ). Bà mất được một năm, chúa
thương không thôi, làm đàn chay trọng thể ở chùa Thiên Mụ, chúa (Hiển
Tông Nguyễn Phúc Chu) làm 4 bài thơ; thương nhớ viết vào tường chù
BÀI 1
Phiên âm:
Vấn thiên hà sự thiết ngô phi !
Hoa tạ, tam cung nguyệt yếm huy !
Bất đạc nữ trung vong khổn phạm !
Hoàn tri kỳ nội thất dung nghi.
Thời đương thất tịch Ngân hà ám.
https://thuviensach.vn
Sầu ký thiên niên giới lộ hi !
Mạn đạo tiếu nhân nhi phụ thái.
Cổ kim thùy cánh thử tình vi.
Dịch nghĩa:
Cớ chi trời lại cướp phi ta !
Hoa rụng, ba cung bóng nguyệt tà.
Chẳng những gương treo trong bạn gái,
Lại đầy năm chẵn vắng người hoa !
Đêm vừa mồng bảy sông Ngân tối !
Sầu để ngàn năm móc hẹ pha !
Đừng có cười trò nhi nữ nhé !
Tình nay ai để tránh từ xưa.
BÀI 2
Phiên âm:
Khứ niên Chức nữ nhập song minh.
Khước bị trùng vân tựu địa sinh.
Chế cẩm vị hoàn, ty tại trục !
Xuyên châm tài bãi, tuyên phiêu doanh !
Không hoài ngũ dạ Quỳnh lâu địch,
Khởi vọng song xuy ngọc điện sinh.
Nhất phiến mê ly nghi thử tế.
Uyên ương tú chẩm mộng n.
Dịch nghĩa:
Sao nữ năm qua soi cửa sổ
Làn mây lớp lớp đến che rồi !
Gấm dệt chưa xong tơ lở dở !
Kim xâu vừa được, chỉ tơi bời !
Sáo Quỳnh lâu, canh khuya luống nhớ !
Sênh ngọc điện, nay dễ thổi đôi
Mơ hồ tấc dạ ngờ đâu đó,
Giấc mộng uyên ương uổng kiếm hoài !
BÀI 3
https://thuviensach.vn
Phiên âm:
Nội trợ tằng kinh ức ỷ ni,
Duy dư đồng nhữ lưỡng nan kỳ,
Phi nhân mộ sắc tiềm huy lệ,
Chỉ vị tôn hiền tụng phú thi.
Việt hải tuy khoan, nan tải hận,
Tẩm lăng nghi cận, dị quan bi.
Trường đê thả mạc tài dương liễu
Hảo đãi Thanh minh túng mục thì.
Dịch nghĩa:
Dịu dàng nội trợ nghĩ thương âu …
Chỉ chúng ta sao khó hẹn nhau.
Há vì sắc đẹp rơi hàng lệ,
Chỉ vị người hiền vịnh mấy câu.
Biển Việt dầu to khôn chở hận,
Bia lăng gần đọc để khuây sầu.
Đê dài đừng có trồng dương liễu.
Đợi tiết Thanh minh mắt ắm lâu.
BÀI 4
Phiên âm:
Nhữ thọ tuy vi, phúc tự trường
Nhân truyền phúc trạch Nguyễn cung hương.
Phao tư kim ngọc doanh song níp
Lưu thử nhi tôn mãn nhất đường.
Đối cảnh kỷ hồi hàm biệt lệ
Lân tài nhất thế động trung trường.
Kim bằng diệu pháp không vương lực.
Tiến bạt u hồn đạt thượng phương.
Dịch nghĩa:
Tuổi thọ ngắn thôi phúc lại dài.
Phúc lưu cung Nguyễn ngát hương t
Quăng đi vàng ngọc đầy hai tráp,
https://thuviensach.vn
Để lại cháu con nối vạn đời;
Đối cảnh đòi phen cầm giọt lệ,
Thương tài một kiếp động lòng ai.
Nhờ phép Như Lai mầu nhiệm ấy
U hồn siêu độ thoát luân hồi.
Bấy giờ, trong các cung tần từ trần, không ai được ân sủng lạ lùng như thế.
Người đời cho là việc long trọng vậy.
Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng Hậu họ Trương
Bà người quý huyện tỉnh Thanh Hóa, cha là Trương Phúc Phan làm đến
Trấn biên doanh lưu thủ Chưởng doanh, tặng Quốc công, có truyện riêng(
29 ). Bà lúc mới vào hầu nơi tiềm để được phong làm Nhã cơ, sinh 2 trai:
trưởng là Thế Tông Hoàng Đế, thứ là Du, lại có tên là Nghiễm, tặng Thiếu
bảo quận công. Năm Canh Tý (Lê Thái Bảo năm thứ nhất) 1720 mùa thu,
tháng 7, bà mất thọ 22 tuổi, tặng Tu Dung Á Phu Nhân, thụy là Từ Ý, táng
lăng Vĩnh Phong (thuộc sơn phận xã Long Hổ, huyện Hương Trà), Thế
Tông Hoàng Đế năm thứ 6 Giáp Tý (1744) truy dâng tôn thụy là Từ ý
Quang Thuận Thục Phi, sau thêm 2 chữ "Chiêu Hiến". Gia Long năm thứ 5
Bính Dần (1806) lại truy tôn làm Từ ý Quang Thuận Chiêu Hiến Thục Huệ
Hiếu Ninh Hoàng Hậu.
Bài sách văn đại lược rằng: Đạo trời đất kiền khôn hợp đức, lễ tôn miếu, đế
hậu cung tôn.
Kính nghĩ, Từ Ý Quang Thuận Chiêu Hiến Trương Thục Phi điện hạ: tiếng
hay trong sáng, đức tốt đoan trang, sao bảo vụ sáng liền thần cực, nghi hình
túc mục như ngọc cư ngọc hành, khí phù dư(30) đúc được thánh minh,
dòng dõi lâu bền như thái sơn bàn thạch. Cho nên nay trên nhờ ơn thiêng
thêm sáng phúc trước. Kính dâng huy xưng, để tỏ đức tốt. Cẩn tiến sách
vàng dâng tôn hiệu là: Từ Ý Quang Thuận Chiêu Hiến Thục Huệ Hiếu
Ninh Hoàng Hậu, thờ chung vào gian hữu tam nhà Thái Miếu.
Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng Hậu họ Trương
Bà là người quý huyện Thanh Hóa. Cha là Trương Văn Sáng làm đến
Chưởng cơ; mẹ là Tống thị. Lúc mới vào hầu nơi tiềm để, bà được phong
làm Hữu
https://thuviensach.vn
Cung tần. Tính e thẹn cẩn thận, dạy bảo nội chức, có phong độ hậu phi đời
xưa. Sinh được 3 trai 1 gái3;ng là Chương, tặng Thành Công, con thứ hai là
Hưng Tổ Hoàng Đế(31), con thứ ba là Dục, tặng Ý Công, con gái là Ngọc
Đào. Năm Bính Thìn (1736, Lê Vĩnh Hựu năm thứ 2) mùa đông, tháng 10,
bà mất thọ 25 tuổi, được phong tặng là Tu Nghi Phu Nhân sau truy tặng là
Ôn Thành Trương Thái Phi, táng lăng Vĩnh Thái (thuộc sơn phận xã Dương
Xuân, huyện Hương Thủy).
Gia Long năm thứ 5 , Bính Dần (1806) lại truy tôn là Ôn Thành Huy Ý
Trang Từ Dục Thánh Hiếu Vũ Hoàng Hậu.
Bài sách văn đại lược rằng: Bà Đồ Sơn mở nhà Hạ, bà Hữu Nhung gầy nhà
Thương. Đẹp cùng sánh với người đời trước lễ nên tôn để hậu báo đền.
Kính nghĩ, Ôn Thành Trương Thái Phi điện hạ: Bốn đức gồm đủ, trăm nết
đều hay, bao hàm rộng sánh đế, trinh thuần đón lấy trời. Tiết tấu ngọc cư
ngọc vũ, êm vang ở công đường, lợi ích cái tóc tấc da, để phúc cho cháu
chắt. Cho nên nay trên nhờ thiêng liêng nối dài ngôi báu, bèn theo lễ to,
kính dâng tên quý. Cẩn tiến sách vàng dâng tôn hiệu là Ôn Thành Huy Ý
Trang Từ Dục Thánh Hiếu Vũ Hoàng Hậu, thờ chung ở gian tả tứ nhà Thái
Miếu.
Tuệ Tĩnh Thánh Mẫu Nguyên Sư Nguyễn thị
Bà lúc mới vào cung, rất được yêu quý, sinh 2 trai, con trưởng là Diệu, tặng
Thiếu bảo Quận công, con thứ hai tức là Duệ Tông Hoàng Đế(32
). Loạn năm Giáp Ngọ (1774) bà đi tu ở chùa Phước Thành. Năm Gia Long
thứ 3 (1804) mùa hạ, bà mất. Sách tặng làm Tuệ Tĩnh Thánh Mẫu Nguyên
Sư, hiệu là Thiệu Long giáo chủ, táng ở xã An Cựu (thuộc huyện Hương
Thủy) Gia Long năm thứ 4 (1805), cấp điền 15 mẫu. Tôn Thất Sài coi việc
thờ cúng.
Trần Quý nhân
Bà là người huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình, là con gái Khám Lý Năng
Tài Hầu. Ngày Thế Tông ở Thạnh cung(33) bà 20 tuổi, vì người đẹp nết tốt,
đ
ược vào hầu nơi tiềm để. Tính cơ cảnh, nhanh nhẹn, khéo đón ý tứ ở nét
mặt, sớm khuya kính cẩn, không trái ý chúa bao giờ. Bà tính thanh nhã
https://thuviensach.vn
thích tu hành. Mỗi khi lui chầu, thường đến chùa, thắp hương, lễ Phật. Năm
Mậu Ngọ (1738) chúa nối ngôi, phong làm Quý nhân, ngày càng thêm yêu
quý. Sinh 4 trai: trưởng là Kính, thứ hai là Bản, thứ ba là Tuấn, thứ tư là
Yến, đều có truyện riêng, còn hai con gái của bà không rõ sự tích. Năm
Canh Ngọ (1750), mùa thu, bà mất, thọ 35 tuổi. Bà là người thuần thục cẩn
thận, nói và làm đều có phép tắc, thông thạo nội huấn, Lúc mới ốm, sợ chúa
săn sóc, bà nghiêm dặn những người ở bên không cho chúa biết. Đến lúc
ốm nặng, còn gượng dậy ăn uống, không trối trăn một lời nào. Khi bà chết,
chúa thương tiếc lắm, sắc tặng Chiêu Nghi, liệt vào hàng phu nhân, thụy là
Từ Mẫu, táng ở xã Dương Xuân, sai văn thần làm văn bia khắc vào đá dựng
lên mộ, đến nay hãy còn.
QUYỂN 2 TRUYỆN CÁC
HOÀNG TỬ
Con trưởng Triệu Tổ
Hoàng Đế
Hoàng trưởng tử Uông, sinh mẫu là ai không rõ (Năm Ất Tỵ 1545 , Lê
Nguyên Hòa năm 13) tập ấm, phong làm: Lãng Xuyên Hầu, sau tiến phong
Tả tướng quân, rồi bị Trịnh Kiểm làm hại, chết (không nhớ năm).
Con là Uyên, theo Thái Tổ Hoàng Đế vào Nam, làm quan đến Đề lĩnh
Thượng khố Đội trưởng.
Uyên có 2 con là Thao và Thanh, đều làm đến Chưởng doanh Quận công.
Con Thao là Tráng, có dũng lược, thường đi đánh dẹp, nhiều lần lập được
quân công. Năm Mậu Tý (1588) mùa thu, Thái Tông Hoàng Đế mới nối
ngôi chúa, cho rằng Quảng Bình thủy doanh tham tướng Nguyễn Triều Văn
vốn hèn nhát, bèn triệu về dùng Tráng lên thay. Sau khi đến nơi, Tráng sửa
khí giới, dạy sĩ tốt, việc phòng bị ngoài biên càng được nghiêm mật. Năm
Bính Thân (1596) mùa hạ, Tráng theo tiết chế Nguyễn Hữu Tiến đem quân
lấy Nghệ An, cùng Phó tướng Nguyễn Cửu Kiều đem chu sư đánh nhau với
https://thuviensach.vn
thủy quân giặc. Bính Ngọ (1606) năm thứ 18, mùa đông, Tráng được thăng
Cựu doanh trấn thủ. Năm Đinh Mão (1627) mùa hạ, Anh Tông Hoàng Đế
nối ngôi chúa, thăng Chưởng doanh quận công. Năm ấy Tráng mất. Đến
năm Gia Long thứ 4 (1805) vì l thần hồi quốc sơ, Tráng được liệt vào bậc
ba, ấm thụ một người cháu được thế tập làm thứ đội trưởng để giữ việc thờ
cúng, cấp cho 3 mẫu ruộng thờ, 1 người coi mả. Tráng có 6 trai là Định,
Đạt, Đồng, Vĩnh, Thuận, Kính. Định và Đồng đều làm đến Chưởng doanh,
Đạt và Kính đều làm đến Cai cơ, Vĩnh và Thuận đều làm đến Cai đội.
Các con Thái Tổ Hoàng Đế
Hoàng trưởng tử: Hà
Mẹ là Đoan Quốc Thái Phu Nhân. Hà làm quan nhà Lê, vì có quân công,
làm đế
n Tả đô đốc Quận công. Năm Mậu Ngọ (1558, Lê Chính Tự năm đầu), mùa
đông, đem gia quyến theo vào Thuận Hóa. Năm Bính Tý (1576) mùa hạ,
Hà mất, tặng Thái bảo Hòa quận công. Hà có 6 trai: Lộc, Vệ, Hoằng,
Tuyên, Đống, Nghĩa. Duy Lộc, Vệ, Tuyên và Nghĩa làm to hơn cả, Lộc làm
đến Chưởng doanh.
Vệ thường đem quân đánh giặc, có nhiều chiến công, lên đến Chưởng cơ.
Hi Tông Hoàng Đế năm thứ 7, Canh Thân (1620) quân Trịnh vào lấn cướp.
Chúa sai Vệ đem quân đi chống cự, quân Trịnh không dám đến gần. Năm
thứ 14 Đinh Mão (1627) Trịnh Tráng lại rầm rộ kéo quân vào xâm lấn.
Tráng sai tướng là Nguyễn Khải đóng doanh trại ở bờ bắc sông Nhật Lệ.
Chúa sai Vệ làm Tiết chế quân bộ, chống đánh. Tôn Thất Trung làm Tiết
chế quân thủy, tiếp ứng. Hai bên đối lũy chống … Quân Trịnh đánh vào
trận của Vệ, Vệ sai bắn súng lớn để đánh phá, quân Trịnh kinh sợ. Tôn Thất
Trung đem quân thủy nhân lúc nước triều lên, tiến sát quân doanh của
Khải. Quân Trịnh sợ, vỡ chết rất nhiều, Trịnh Tráng bèn rút quân về.
Vệ có tài làm tướng, mang cờ tiết đi đánh dẹp lập nhiều công to, làm đến
chưởng doanh. Khi chết không con kế tự.
Tuyên ban đầu làm Cai cơ, sau dần thăng đến Chưởng cơ. Hi Tông Hoàng
Đế năm thứ 7, Canh Thân (1620) nghịch Hợp và nghịch Trạch mưu đồ làm
loạn, mật đưa thư cho chúa Trịnh, ước hẹn làm nội ứng. Chúa Trịnh tin, cho
https://thuviensach.vn
đóng quân ở Nhật Lệ để đợi. Hợp và Trạch đem quân làm phản, chúa Hi
Tông sai Tuyên làm tiên phong tự đem đại quân đi đánh. Hợp và Trạch thua
chạy, Tuyên đuổi theo bắt được đem về dâng. Thần Tông Hoàng Đế khi
mới lên ngôi chúa, nghịch Anh giữ Quảng Nam làm phản, đắp lũy Câu Đê
làm kế cố thủ. Chúa sa...
 





