Viếng Lăng Bác - Bài giảng
Đại Nam liệt truyện tập 2

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:29' 07-04-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:29' 07-04-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Table of Contents
QUYỂN ĐẦU
QUYỂN 1
QUYỂN 2
QUYỂN 3
QUYỂN 4
QUYỂN 5
QUYỂN 6
QUYỂN 7
QUYỂN 8
QUYỂN 9
QUYỂN 10
QUYỂN 11
QUYỂN 12
QUYỂN 13
QUYỂN 14
QUYỂN 15
QUYỂN 17
QUYỂN 18
QUYỂN 19
QUYỂN 20
QUYỂN 21
QUYỂN 22
QUYỂN 23
QUYỂN 25
QUYỂN 26
QUYỂN 27
QUYỂN 28
QUYỂN 29
https://thuviensach.vn
QUYỂN 30
QUYỂN 31
QUYỂN 32
QUYỂN 33
CHÚ THÍCH
https://thuviensach.vn
LIỆT TRUYỆN SƠ TẬP
QUYỂN ĐẦU
Bọn thần là Tổng tài, Toản tu ở Quốc sử quán, kính cẩn tâu về việc xin đem
sách "Chính biên liệt truyện sơ tập" để tỏ ra điển tất.
Trộm nghĩ, ử để lưu truyền lại, đã có từ lâu. Vì từ đế vương đời cổ, nhận
giữ đồ, lục (1), kinh Dịch bắt đầu quẻ Kiền quẻ Khôn giúp nền giáo hóa ở
trong, cùng là những hàng giúp mệnh, các người giúp sức, phong thanh khí
tập, người hay người dở, điều tốt điều xấu, cũng không việc gì là không có
sự thực. Thể cách làm ra liệt truyện, do đây mà tỏ ra, thực không thể thiếu
được.
Nhà nước ta, nhận mệnh yêu mến của trời, nên cơ đồ ở cõi Nam. Thánh
thần truyền nối, hơn hai trăm năm, sách Thực lục tiền biên, sáng để muôn
thuở.
Kính nghĩ, Thế tổ Cao Hoàng đế, ứng mệnh trời thuận lòng người; dẹp yên
rối loạn, trở lại đạo chính, thần hóa sánh với đất trời; công tốt đầy khắp vũ
trụ. Đã từng phụng chỉ làm sách "Chính biên đệ nhất kỷ", duy khi ấy, bên
trong việc sửa sang, bên ngoài làm chính trị, quy mô xa rộng, bút của sử
thần, không thể chép xiết.
Bọn thần phụng chỉ tra cứu suốt từ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đặt ra Sử
quán, chọn sai nho thần, biên chép lâu năm. Đến buổi đầu năm Thiệu Trị
kính vâng sắc chỉ chuẩn cho sửa lại làm Liệt truyện, để đủ làm quan chiêm
của một triều đại và để bảo rõ điển chương đến muôn đời sau. Tới năm Tự
Đức thứ 5 (1852) bộ "Tiền biên liệt truyện" làm xong; phụng chỉ kế tiếp,
làm bộ "Đệ nhất kỷ chính biên liệt truyện", các viên ở Sử quán lúc ấy, tham
bổ khảo xét đính chính, chia từng mục, biên thành từng loại. Đầu là các
https://thuviensach.vn
truyện của Hậu phi; thứ là Hoàng tử, Công chúa; thứ nữa là các bề tôi; thứ
nữa là người có hạnh có nghĩa, và các liệt nữ; cuối rốt chép phụ thêm các
truyện về bọn tiếm thiết và việc nước ngoài, gồm có 8 mục, cộng 33 quyển,
nhan đề là "Chính biên liệt truyện sơ tập". Trong đó tìm lấy nguyên nhân từ
trước cốt yếu về sau, việc xét đúng, văn rõ ràng, thực đáng làm gương để
khảo xét nhân lúc nhiều việc chưa kịp đem khắc ra ban hành, bản thảo vẫn
để ở Lan Đài (2) không ai được thấy sự bí mật của bộ sách ấy.
Bọn thần nghĩ rằng: sách này sửa chép đến nay đã vài mươi năm rồi, về
người về việc, đã rõ, há nên để mãi lâu ngày mà chưa nêu rõ ra ư? Nay xin
kính đem nguyên bản kiểm xét kỹ lại viết ra rõ ràng tiến trình, đợi vâng chỉ
chuẩn cho giao khắc bản in, để vào kho sử; ngõ hầu công liệt lớn của nhị kỷ
trở về sau, cũng xin thư đệ biên, chép nối thêm, khiến cho điển chương
nhân vật của thịnh triều đều có sách chép sẵn, truyền mãi không cùng, thực
là nguyện vọng lớn của bọn thần vậy.
Về việc khắc in xin đều do ty có chức trách sửa làm.
Vậy dám kính làm tập tâu lên, đợi Hoàng thượng quyết định.
Kính cẩn tâu lên
Thành Thái năm thứ I (1889), tháng 10 ngày 13 đệ tâu (ngày 5 tháng 11
năm 1889). Vâng chỉ chuẩn y lời tâu, phải kính theo lời chỉ.
(Thần) Nguyễn Trọng Hợp
Bùi n Niên
Trương Quang Đản
Đoàn Văn Bình
Hoàng Hữu Sứng
https://thuviensach.vn
Thành Ngọc Uẩn
Trịnh Quang Chiểu
Tô Châu
Phụng kiểm:
Hàn lâm viện kiểm thảo sung khảo hiệu, thần: Hồ Đắc Mưu, Hàn lâm viện
điển bạ sung khảo hiệu, thần: Hồ Quý Thiều.
Phụng tả:
Nguyên điển nghi ty tư vụ sĩ bổ, thần: Trương Giảng, Chánh cửu phẩm sĩ
bổ, thần: Nguyễn Quát, thần: Lê Quang Huân.
Tòng cửu phẩm sung đăng lục sĩ bổ, thần: Hoàng Cương, thần: Nguyễn
Hữu Tuyên.
Thị sai tòng cửu phẩm sĩ bổ, thần: Lê Văn Hào.
Thư lại sĩ bổ, thần: Trần Văn Kinh.
Hành nhân ty hành nhân sĩ bổ, thần: Nguyễn Ngoạn.
Thu chưởng:
Hàn lâm viện đãi chiếu sung thu chưởng, thần: Lê Bá Nhượng.
ĐẠI NAM CHÍNH BIÊN LIỆT TRUYỆN
QUYỂN 1
TRUYỆN CỦA CÁC HẬU PHI
https://thuviensach.vn
Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng hậu
Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng hậu là Nguyễn Thị, người ở làng Minh Linh,
phủ Thừa Thiên, con gái Diễn quốc công Nguyễn Phúc Trung (nguyên là
họ Nguyễn, hoặc được cho họ là Nguyễn Phúc, không thể xét được), mẹ là
họ Phùng.
Khi hậu mới vào hầu ở nhà để (3) theo đạo trinh thuận, tập quen quy tắc
trong chốn khuê môn. Sinh được ba con trai, con cả là Đông Hải Quận
vương tên là Đồng, con thứ hai là Thế Tổ Cao Hoàng đế, con thứ ba là
Thông Hóa Quận vương tên là Diễn; một con gái là Long Thành Công
chúa, tên là Ngọc Tú. Khi biến loạn năm Giáp Ngọ (4), hậu ẩn náu ở làng
An Du, các Trưởng công chúa đều theo đến cả đấy. Mùa xuân năm Kỷ Hợi
(1779), Thế Tổ Cao Hoàng đế sai người đón đến Gia Định, tôn làm quốc
mẫu; gặp khi giặc Tây Sơn vào lấn cướp, Thế Tổ phải thiên đi nơi khác,
hậu và cung quyến lui đóng ở đảo Phú Quốc. Thuyền của Thế Tổ ngự đi
đảo Côn Lôn, gặp gió lớn, trôi giạt ở ngoài biển 7 ngày, trong thuyền hết
nước uống, bỗng chốc nước nhạt chảy ra, nhờ thế mới đỡ. Tới khi thuyền
của Thế Tổ lại trở về đảo Phú Quốc, Thế Tổ thuật lại tình trạng cay đắng
khi ở giữa biển, hậu than rằng: "Gió lớn ở đảo Côn Lôn, giữa biển có suối
nước ngọt, có thể biết là lòng trời ngầm giúp cho, con ta chớ nên lấy sự khó
nhọc ấy mà tự nản chí". Thế Tổ lạy tạ nói rằng: Xin kính cẩn vâng lời dạy.
ăm Giáp Thìn (1784) Thế Tổ sang nước Xiêm cầu viện, Hậu và cung quyến
dời đi đóng ở đảo Thổ Châu, mùa thu năm ấy, Thế Tổ đem quân đi Xiêm
về đánh nhau với giặc không lợi. Mùa xuân năm Ất Tỵ (1785) Thế Tổ lại
sang nước Xiêm, bèn đóng tạm ở Long Khâu, sai người rước từ giá (mẹ
vua) và cung quyến đến nơi hành tại (5). Mùa
thu năm Đinh Mùi (1787) Thế Tổ từ nước Xiêm về, thuyền ngự tiến đóng ở
Hà Tiên, sai Vũ Di Nguy, Phạm Văn Nhân, hộ vệ từ giá và cung quyến lưu
lại ở đảo Phú Quốc. Mùa thu năm Mậu Thân (1788) quân ta lấy lại được
https://thuviensach.vn
thành Gia Định, liền sai bọn Nguyễn Văn Nhân rước về Gia Định, mùa
xuân năm Canh Tuất (1790) dựng làm hậu điện rước đến ở.
Năm Bính Thìn (1796) mùa đông, tháng 10 ngày Kỷ Mão, Thế Tổ thân
đem các quan bưng sách vàng, ấn vàng tôn làm Quốc mẫu Vương thái phi.
Năm Tân Dậu (1801) dã lấy được đô thành, Gia Long năm thứ I (1801)
mùa hạ tháng 4, Thế Tổ sai bọn Hoàng Viết Toản làm phụng nghinh sứ
tháng 6 đến kinh. Tháng 11, Thế Tổ ra ơn cho làng họ ngoại, dân làng An
Du, các việc ra lính tạp dịch thân thế đều miễn cho cả. Năm thứ 2, mùa
xuân tháng 3, ngày Nhâm Dần, tôn làm Vương thái hậu.
Sách văn rằng: Vốn nghe: đức rất tốt của đế vương, sự cốt yếu không gì
trước hơn điều hiếu, cho nên yêu kính làm ở trong nhà, mà phong hóa
ngấm khắp cả nước, thế gọi là đạo hiếu suốt cả trong nước.
Kính nghĩ Thánh mẫu bệ hạ, là dòng dõi nhà thế phiệt có đức tiếng thơm
chuyện tốt ở chốn khuê phòng. Kịp thời hầu đức nhân khảo sửa sang công
việc trong cung cấm, tuy ở trong lúc biến nguy hầu quanh bên cạnh không
lúc nào trễ biếng, vỗ nuôi thân nhỏ mọn này cho đến trưởng thành. Gặp
trong nước có tai nạn, càng ân cần lắm. Quan hà ngoại cõi, không lúc nào
yên ổn, lo về nước nhà, sớm khuya răn sợ, để có ngày nay. Trên nhờ linh
thiêng của các tiên thánh vương ở trên thời giúp cho thành công; cũng là do
thánh mẫu sinh ra dậy nuôi được thế. Nhân đức rất lớn không thể xưng tụng
ra được. Tham xét điển chương, danh hiệu tốt đẹp, để hậu lòng hiếu kính
mà đáp lại ơn nhân tử. Than ôi! Tôn kính bề thân ngửa trông đức Kiền
nguyên (6) rất lớn, trời ban cho chịu nhiều điềm Lý cát (7) vô cùng. Ngày
Giáp Thìn, Thể Tổ ngự ở điện, các quan dâng biểu mừng, cho ăn yến cỗ thứ
bậc khác nhau. Xuống chiếu bá cáo cho trong ngoài biết.
Mùa hạ tháng 4, truy tặng cho ông của Thái hậu là Phúc Kiêm làm Dương
Vũ công, Khai phủ phụ quốc, Quang tiến trấn quốc đại tướng quân, Cẩm y
vệ đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ, Thiếu úy, Quận công, thụy là Đôn Hậu,
cha sinh ra Thái hậu là Phúc Trang làm Tán trị công thần, Đặc tiến khai phủ
https://thuviensach.vn
phụ quốc thượng tướng quân, Thượng trụ quốc, Trung quân, Đô đốc phủ
chưởng phủ sự, Thái bảo, Miên quốc công, thụy Chính Trực. Lập đền thờ ở
Phú Xuân gọi là đền Dục Đức, lại vì họ Phùng dựng đền ở xã An Du cho
điệt ôn (cháu gọi mẹ Thái hậu là cô) là Phùng Thế Bình làm Cai đội, coi
giữ việc thờ tự. (Minh Mạng thứ 13 đổi phong đền Dục Đức của Diễn quốc
công, gọi là đền Diễn quốc công).
Năm thứ 3 (1804), mùa xuân tháng 3, dựng cung Trường thọ, mùa dông
tháng 10, cung làm xong rước Vương thái hậu đến ở, Thế Tổ thân đến làm
lễ chúc mừng, các quan và mệnh phụ đều đem giấy mừng cùng lễ phẩm
tiến lên. (Các con tiến 20 lạng vàng, 100 lạng bạc, mệnh phụ tiến 10 lạng
vàng, 50 lạng bạc).
Năm thứ 5 (1806) mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Thân, dâng kim sách tôn
làm Hoàng thái hậu.
Sách văn rằng: Trộm nghe, hiếu tất phải trước ở có lòng yêu kính, lễ không
gì lớn hơn tôn bề thân, đã xét khắp đạo thường, đủ chứng tỏ điển thịnh.
Kính nghĩa Vương thái hậu bệ hạ, tiếng tốt rộng khắp, cao hxưa: đức hậu
nết tốt, lúc yên lúc nguy một mực; đứa hóa làm phép cho chốn đình vi, lợi
trạch khắp cả đến nền xã tắc; phúc để lại cho con cháu, ơn ngấm khắp đến
thần dân; công nhân tích lũy, để có ngày nay. Cho nên thần (tức Thế Tổ)
mới hợp lời của mọi người đã nhận danh hiệu là đế. Nghĩ đến công ơn sinh
dục, nhưng trời không cùng, dám không tôn xưng danh hiệu tốt đẹp, để đáp
lại ơn lớn. Kính cẩn bưng sách vàng, ấn vàng kính dâng tôn hiệu làm
Hoàng thái hậu. Cúi xin nhận lấy danh hiệu to lớn chịu nhiều phúc tốt lâu
dài; phúc ban từ trời, càng dài tuổi thọ, giống chín điều như (8).
Ngày Canh Tuất, Thế Tổ ngự điện Thái Hòa nhận lễ chúc mừng, xuống
chiếu bá cáo trong ngoài biết.
https://thuviensach.vn
Năm thứ 6 (1807) mùa thu tháng 7, khánh tiết lớn mừng Thánh thọ bảy
mươi tuổi, Thế Tổ thân đem các quan đến làm lễ chúc mừng. Tôn nhân
phủ, hoàng tử, hoàng tôn, tá hữu cung tần, văn ban, vũ ban, văn vũ mệnh
phụ, công tính, cung thuộc, các thành doanh, trấn, đạo, dòng dõi công thần
ở huyện Tống Sơn, họ Lê, họ Trịnh đều dâng lễ mừng, sai nhạc công múa
bát dật (9), hát khúc Vạn niên hoan, Thiên hạ lạc, Thái bình lạc.
Thái hậu tính hiền từ yêu mến tự trời sinh ra, đối với chị là Từ phi, tình yêu
càng quyến luyến, bỗng nhân khi Thái hậu trở trời gặp lúc Từ phi ốm kịch,
Thế Tổ chưa dám tâu lên, tới khi Từ phi mất, Hậu mới biết, giận không ăn
cơm. Thế Tổ thân đến thăm sức khỏe, Hậu bảo rằng: Thân già này có một
người chị, lúc ốm không được thấy, vì thế ăn không ngon, ngủ không yên.
Thế Tổ quỳ ở dưới thềm, yên ủi và xin lỗi hồi lâu, ý Thái hậu mới giải bèn
lại ăn cơm.
Năm thứ mười (1811) mùa thu, tháng 9, Thái hậu bị mệt nặng. Trước đây,
sao chổi mọc ra, người hầu tâu lên Hậu biết, Hậu buồn rầu không vui. Có
một đêm Hậu lẻn ra xem, vào bảo người hầu rằng: "ổi hiện ra, ứng vào thân
già này". Đến đây Hậu bị bệnh nặng.
Ngày Kỷ Sửu, Hậu mất, thọ 74 tuổi, đem quan tài để ở cung Trường Thọ.
Thế Tổ thương khóc không thôi, sai các quan bàn quy chế để tang. Ngày
sóc ngày vọng tế điện to, đặt bàn chay lớn ở chùa Thiên Mụ. Năm thứ 11
(1812) mùa xuân tháng 3, ngày Mậu Dần, sách dâng tên thụy là Y Tĩnh
Huệ Cung, Anh Trinh Từ Hiến, Hiếu Khang Hoàng hậu.
Sách văn rằng: thần nghe: kinh Dịch nói là thánh vật, kinh Thi khen là sinh
dân, duy có đức dày thể theo đức lớn của quẻ Khôn cho nên tiếng tốt để lại
đời sau mãi mãi.
Kính nghĩa Đại hành Hoàng thái hậu, nhân từ vốn tự tính trời, rộng lớn
sánh với đạo đất. Gian nan vẫn theo đạo thường, giúp đức nhân khảo ta đã
gặp vận nước tai biến lại đến khi thần phải khó khăn, chính mình đem
https://thuviensach.vn
khuôn phép kiên thuận, khuyên thần lấy mưu lược siêng lo, khiến cho thần
dựng lại được nước nhà, nhất thống được bờ cõi, không phải do tự lời dạy
của hậu, sao được đến thế. Đức hóa tốt đẹp khắp đến các phương, tuổi thọ
đã cao quá tuần bảy chục, sao đã vội bỏ sự cung dưỡng bằng cả thiên hạ,
mà đi chơi ở chốn cõi tiên. Công cao như trời, muốn báo đền ơn sâu mà
chẳng biết; ơn dầy như đất, nên thuật lại đức tốt đến vô cùng. Nay kính cẩn
thân đem các quan xin mệnh lệnh ở nhà tôn miếu, kính bưng kim sách dâng
lên thụy là Ý Tĩnh Huệ Cung, Anh Trinh Từ Hiến, Hiếu Khang Hoàng hậu.
Cúi xin anh linh sáng tỏ thêm lên, nhận lấy danh hiệu to lớn phối hưởng với
Nễ cung (10), cùng lâm hưởng muôn thủa.
Ngày Kỷ Mão, bá cáo cho trong ngoài biết. Mùa hạ, tháng 4 táng ở lăng
Thụy Thánh (ở núi Đinh Môn, thuộc huyện Hương Trà), ngày Giáp Dần
rước thần chủ để ở cung Trường Thọ.
Năm thứ 12 (1813), tháng 9, lễ đại tường xong, Lễ thần dâng nói: Hiếu
Khang Hoàng hậu lấy đức sánh với đức, sinh ra bệ hạ, rộng giúp nhân dân,
lợi đến xã tắc, làm nên trung hiếu cho bệ hạ không gì lớn hơn, để lại công
đức vô cùng cho đời sau, không những là có công với Hiếu Khang Hoàng
đế cũng có công với tổ tông, có công với trăm họ nữa. Kinh Thi có nói
rằng: "Hiệu thiên võng cực" (11) là nghĩa ơn đức của mẹ cũng như cha vậy.
Xin đến sau ngày tế đàm, kính rước thần chủ lên phối hưởng ở Nễ cung. Sớ
dâng lên, bảo là phải. Tháng 11, tế đàm rước thần chủ lên phối hưởng ở
miếu Hoàng khảo (Minh Mạng năm thứ 2 đổi dâng miếu hiệu là miếu
Hưng Tổ).
Đền Diễn quốc công nay do cai đội là Tôn Thất Tú coi giữ, hàng năm chi
tiền công để cung việc tế tự.
Nguyễn Từ Phi
https://thuviensach.vn
Nguyễn Từ Phi là chị Hiếu Khang Hoàng hậu. Trước kia vào hầu Hưng Tổ,
sinh 3 con trai: con cả là Tương Dương Quận vương, tên là Hạo, con thứ
nhì chết sớm, con thứ ba là An Biên Quận vương tên là Mân, 2 con gái lớn
là Phúc Lộc Công chúa Ngọc Du, con gái thứ là Minh Nghĩa Công chúa
Ngọc Tuyền. Khi biến l
oạn năm Giáp Ngọ, Phi ẩn náu ở dân gian. Mùa xuân năm Kỷ Hợi, Thế Tổ
Cao Hoàng đế sai người rước vào Gia Định, ở cùng với Hiếu Khang Hoàng
hậu. Buổi đầu năm Gia Long rước về kinh, theo ở sau cung Trường Thọ.
Mùa đông năm thứ 6 chết, tặng là Ý Thân Huy Gia Từ phi năm thứ 5
(1845) rước thần chủ thờ ở nhà thờộc Thái trưởng công chúa.
Thế Tổ Thừa Thiên Cao Hoàng hậu
Thế Tổ Thừa Thiên Cao Hoàng hậu, họ Tống, là người ở quý huyện (tức
huyện Tống Sơn) tỉnh Thanh Hóa, con gái Quý quốc công Tống Phúc
Khuông, mẹ là họ Lê.
Trước đây, Quốc công mang gia quyến vào Gia Đ
ịnh. Năm Mậu Tuất, hậu 18 tuổi, Thế Tổ Cao Hoàng đế đem đủ lễ vật đến
cưới, tấn phong là Nguyên phi. Hậu là người cung kính cẩn thận, cử động
có phép tắc lễ độ, vua rất quý trọng. Sinh được 2 con trai, con cả là Chiêu,
chết sớm, con thứ là Cảnh, đã có truyện chép riêng. Mùa thu năm Quý
Mão, giặc Tây Sơn đến cướp thành Gia Định, vua ngự ra đảo Phú Quốc,
người nước Xiêm đến đón. Khi vua sắp sang Xiêm, trước hết sai Hoàng tử
Cảnh sang Tây cầu viện. Bèn đem ra nửa dật vàng tốt cho Hậu, bảo rằng
con ta đi rồi, ta sẽ đi đây, Phi phụng dưỡng Quốc mẫu ở đây, chưa biết sau
này gặp nhau ở nơi nào và ở ngày nào, đem vàng này để làm của tin.
Mùa xuân, năm Giáp Thìn (1784) vua từ nước Xiêm về, Hậu rước quốc
mẫu ở lại đảo Phú Quốc. Mùa thu năm Mậu Thân (1788) lấy lại thành Gia
Định, sai người đến rước về Gia Định. Từ đây trở đi, mỗi khi vua đi đánh
https://thuviensach.vn
giặc, Hậu thường đi theo. Gia Long năm thứ 2 (1803) tháng 3, ngày Bính
Thân lập làm Vương hậu.
Sách văn rằng: Đạo trời nhờ công khí âm để nôi, hóa tốt muôn vật; Thánh
nhân đặt chức lên trong để giúp, nêu mẫu sáu cung. Xướng được điều tốt
đẹp ấy thuộc về người có đức hay. Nghĩ đến Nguyên phi họ Tống, công
nghiệp tốt như ngọc cư ngọc hoàng, dáng nghi đẹp như ngọc uyển ngọc
diễm. Lúc rồng vàng còn ẩn núp, điềm lành sớm định, đức trinh tĩnh đã nối
theo tiếng hay. Ngày chim cưu về tổ xưa tiếng tốt nêu cao, nết kiệm cần đã
gây nền vương hóa. Con cháu được đông đàn, khác gì cây tiêu liêu nhiều
quả, cung tần được yêu tới nhờ ở bóng cù mộc rộng che. Gặp bước gian
truân, vui được vợ tốt; chật vật cờ bái vua Thang, cờ mao vua Vũ cùng
trẫm rửa căm thù cho tiên vương tám chín đời; Xa xôi thành nước Thục,
đường nước Tần theo ta chịu phong trần ba mươi năm ở nước bạn. Vất vả
càng thêm kiên trì. Mềm dịu vốn quen lễ độ, có lòng hiếu thảo với cung
Trường Lạc (12), thân làm đồ ngon đồ ngọt trong bữa cơm. Chia sự đắng
cay ở núi
Cối Kê (13), tự dệt vải mỏng vải dầy cho quân lính. Bỏ trâm (14) ra chốn
ngõ sâu, phần nhiều khuyên chăm chính sự. Trẫm nghĩ tế chứng thường nơi
chín miếu, chân dày sương cùng nhớ đến tổ tông. Trẫm nghĩ sự lao khổ của
sáu quân, nghe trống trận cũng chau mày thương tướng sĩ. Nhiều lo toan và
trong lòng thành thực sâu xa, vẫn giấu kín mà tỏ đức ôn hòa mềm dẻo.
Chắn gấu (15) để giữ vua nhà Hán, không hổ với Phùng Cơ, chạy ngựa (16)
cùng dựng nghiệp nhà Chu, có phần hơn Khương Nữ. Kiền khôn gây dựng
lại, đã giúp nhau trong lúc gian nan; nhật nguyệt cùng sáng soi, cùng hưởng
trong khi phú quý. Bèn xét điển đời cổ ban cho danh hiệu hay.
Vâng mệnh của Vương thái hậu, sai viên Chưởng thần vũ quân là Phạm
Văn Nhân, Lễ bộ là Đặng Đức Siêu bưng sách vàng ấn ngọc lập làm
Vương chính hậu
https://thuviensach.vn
Ôi! Duy có nghiêm kính có thể thờ được người trên. Nhân từ có thể tiếp
được kẻ dưới. Hậu siêng năng thì người không dám biếng lười. Hậu kiệm
ước thì người không dám xa xỉ. Hậu nên nghĩ về điều ấy, để chịu phúc của
nhà tôn miếu, để được tốt cho con cháu sau.
Năm thứ 3 (1804) truy tặng bốn đời: Cao tổ là Tống Phúc Đức làm Cai cơ,
tước Hầu; Tằng tổ là Tống Phúc Dương làm Chưởng cơ, tước Quận công;
ông là Tống Phúc Thành làm Chưởng doanh, tước Quận công; cha là Tống
Phúc Khuông làm Thái bảo, tước Quốc công, lập đền ở Phú Xuân, gọi là
đền Tống công. (Năm Minh Mạng thứ 13, đổi phong là Quy quốc công, đền
Tống công sau dời đến Kim Long, đổi tên là đền Quy quốc công).
Năm thứ 5 (1806) mùa thu, tháng 7, ngày Kỷ Mùi, lập làm Hoàng hậu.
Sách văn rằng: Trộm nghĩ thế của thuần khôn, sánh với kiền nguyên, bắt
đầu vương hóa, gây ở nội trị: cùng tôn cùng quý đối với lễ là trinh. Nghĩ
đến vương hậu họ Tống: tiếng nghĩa rộng khắp, nết tốt đầy đủ: giữ việc
trong cung cho Trẫm, chốn nấu ăn được nghiêm lặng. Lúc trước trong khi
xiêu giạt, trẫm lo nghĩ khó nhọc ở ngoài, Hậu siêng năng giúp đỡ ở trong;
gian nan cùng giúp lẫn nhau, hiểm bằng nếm đủ tất cả; khoan thai khép nép
rất là kính, tiến dâng ngon ngọt hết đạo hiếu; ơn huệ để cho con cháu, đức
trạch khắp tới quân nhưng; ôn hòa kính cẩn kiệm ước đã giúp đỡ ta, đức tốt
như ngọc hành ngọc vũ làm khuôn phép trong cung cấm, thói hay ở thơ
Quang thủ đem giáo hóa cả thiên hạ, tu tề trị bình, cũng nhờ ở đấy. Trẫm
mới hợp lời đình thần tâu xin, đã chính vì hoàng đế; nghĩ tới ngôi hậu ở
trong cùng trẫm cùng trị, chúc ở trong cung; tốt ở triều đình là gốc. Đã
dâng lời tâu xin chỉ Hoàng thái hậu, sai Chưởng thần vũ quân kiêm coi
quân thần sách là Kiêm quận công Phạm Văn Nhân mang cờ tiết, Hộ bộ
thượng thư. Tích thiện hầu là Nguyễn Kỳ Kế làm phó, mang sách vàng ấn
vàng, tấn phong làm Hoàng hậu5; cho long trọng vị hiệu. Hậu nên nhận lấy
danh hiệu cao quý ấy, sửa sang chính sự ở trong cung, kính cẩn việc thờ
phụng ở nhà tôn miếu, làm khuôn phép người mẹ cho thần dân, kính siêng
https://thuviensach.vn
sửa đức nghĩ điều nghĩa cho sáng thêm; được hưởng nhiều phúc, giữ tốt
mãi không chán.
Năm thứ 13 (1814) mùa xuân, tháng 2 ngày Ất Mùi Hậu mất, thọ 54 tuổi,
để quan tài ở điện Khôn nguyên. Vua thương tiếc không thôi. Dụ các quan
rằng Hoàng đế để tang Hoàng hậu một năm, là phải lễ. Trẫm ở trong cung
để tang một năm, còn từ Hoàng tử xuống bàn định phép để tang có thứ bậc.
Ngày Canh Tuất làm lễ thành phục, vua sai hoàng tử thứ tư (tức là Thánh
Tổ Nhân Hoàng đế) dâng lễ tế điện. (Thánh Tổ Nhân Hoàng đế tuổi mới
lên ba, vua sai Hậu nuôi, Hậu yêu sách phải có khế khoán. Vua sai Lê Văn
Duyệt viết một tờ giấy đưa cho. Hậu giao cho cung tỳ là Nguyễn Thị Lê cất
giữ. Từ đấy Thánh Tổ Nhân Hoàng đế, vào hầu ở trong cung làm con của
Hoàng hậu. Đến sau Hoàng trưởng tử là Cảnh, Hoàng nhị là Hi, Hoàng ba
là Noãn nối nhau chết đi, đến lúc có tang hậu, các quan hặc có người bàn
đem Hoàng tôn Đán giữ việc thừa tự, Vua dụ rằng: Hoàng tử là con của
Hoàng hậu, còn có khế khoán ở kia, nên sai làm chủ việc thờ cúng: việc lớn
của nước không thể nhất khái câu nệ lễ của nhà mọi người. Nguyễn Văn
Thành lại cho là lời xưng hô trong văn khấn khó nói. Vua bảo rằng: Con
phụng mệnh cha để tế mẹ, danh chính ngôn thuận, có gì là không được. Lời
nghị mới quyết định).
Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Tuất, tấn phong tên thụy là Giản Cung Tề
Hiến Đức Chính Thuận Nguyên Hoàng hậu.
Sách văn rằng: Trị bên trong nhờ ở người nội tướng, nên Kinh Thi mở đầu
là thiên gây nên nền phong hóa; có đức lớn thì nhận danh hiệu lớn nên
Kinh Lễ trọng về điểm tôn xưng lúc tống chung. Lâu nhớ đức hay nêu rõ
hiệu tốt. Đại hành Hoàng hậu Tống thị, con nhà danh giá kính giữ lời dạy,
tự trời phối hợp cùng trẫm sửa mình, xếp dặt việc nhà, sấm gió đương lúc
gian truân phong trần hợp sức giúp đỡ. Trời biển gian hiểm cố gắng giúp ta,
quê ngư̖i lạnh lùng, kính hầu mẫu hậu, sớm khuya không trễ, răn bảo cùng
nhau, nghĩ cùng trẫm báo phục mối thù cho miếu xã; nghĩ cùng trẫm cứu
https://thuviensach.vn
vớt nỗi khổ cho nhân dân. Cho nên trẫm lấy lại được cõi bờ dẹp yên được
trong nước, nghĩ đến Hậu lấy hiếu để phụng thờ tổ tiên, lấy kính để tiếp đãi
người dưới, nhân đến phi tần, yêu cả con cháu, ra ơn cả thân hiền, để tâm
đến cả làng xóm. Việc đưa đám Thụy lăng, xót thương hết lòng. Trước sau
vẫn một tâm đức, trong ngoài theo về người thân. Tuổi thọ chưa đầy sáu
chục, xe tiên đã vội xa vời. Nhớ đến người giúp giỏi, cử hành điển chương
thường. Bèn xin mệnh lệnh ở tôn miếu, sai Khâm sai chưởng Hữu quân
giám Thần sách quân, Khiêm quận công là Phạm Văn Nhân làm chánh sứ.
Lễ bộ thượng thư, Hưng nhượng hầu là Phạm Đăng Hưng làm phó sứ,
bưng sách vàng, ấn vàng tấn phong tên thụy là: Giản Cung Tề Hiếu Đức
Chính Thuận Nguyên Hoàng hậu. Mong nhận lấy tên hiệu long trọng, để tỏ
lâu đời. Than ôi! Ghi về việc, nêu về công lễ vẫn nên thế, sống thì vinh,
chết thì thương, Hậu nên xét cho.
Năm thứ 14 (1815) mùa xuân, tháng giêng, vua sai bộ Lễ bàn về lễ tiểu
tường, đại tường và trừ phục về cung Khôn nguyên. Quan bộ Lễ tâu nói:
Theo sách Lễ ký, về tang một năm, 11 tháng thì tế luyện (tiểu tường), 13
tháng thì tế đại tường, 15 tháng thì tế đàm, thế là lễ chính. Nhưng quan tài
còn để quàn, chưa nên đem cát lễ mà đổi áo tang. Kính xét: Thiên tang
phục Tiểu ký nói rằng sau ba năm mới làm ma, thì tất phải hai lần tế, trong
khoảng hai lần tế ấy không được tế cùng một lúc mà bỏ áo tang, là vì có
việc chưa thể sửa việc tang được. Về việc tế luyện (tiểu tường), tế đại
tường, tất đợi khi chôn cất rồi, lại cử hành hai lễ tế ấy; nhưng phải tế làm
hai lần không được cùng tế một lúc. Tiểu ký lại nói rằng: quàn lâu mà chưa
chôn, duy có người chủ tang không được bỏ áo tang, còn người khác để
tang bằng áo vải gai cứ hết số tháng bỏ áo trở thì thôi. Người chủ tang
không được bỏ áo tang là con để tang cho mẹ, cháu để tang ông bà, chưa
chôn thì không được bỏ áo sô gai và dây lưng gai. Hết số tháng mặc áo gai
nhưười thân thuộc để tang một năm đến 3 tháng, cứ đủ số tháng thì bỏ áo
tang, nhưng áo trở ấy vẫn còn phải thu cất đi, để đợi khi tống táng. Thế là
khi chưa chôn, lễ tế luyện, tế đại tường chưa thể cử hành được, áo trở chưa
được bỏ đi được, kinh có chép rõ ràng nghĩa nên tham khảo. Lại xét: Tiên
https://thuviensach.vn
nho Dữu Uất Chi nói rằng: Thiên Phục Vấn có nói "Vua chủ việc tang cho
phu nhân", thế là lấy người tôn chủ việc tang cho người ti, không được
giống như người ti chủ việc tang của người tôn, không lấy cớ rằng người ti
chưa chôn mà để cho người tôn phải mặc áo trở mãi được. Từ Kiều Học
cũng cho tới Dữu thị là phải. Thế mới biết là người tôn chủ việc tang cho
người ti, tuy lâu chưa táng, nhưng không thể không từ phục vụ được. Vua
cho là phải.
Năm thứ 1 4 (1815) mùa xuân tháng 3, ngày Nhâm Dần, chôn ở bên hữu
chỗ huyệt lăng Thiên Thọ ( thuộc núi Thụ Sơn, xã Định Môn, huyện
Hương Trà, năm Gia Long thứ 13 mới dựng phần. Vua dùng phép hợp lăng
đời cổ làm hai cái quách đá ở huyệt, chôn trong Bảo Thanh, trước cửa xây
đá làm thềm bậc, đổi tên là núi Thiên Thọ). Ngày Ất Ty đem thần chủ để ở
điện Hoàng Nhân.
Minh Mạng năm thứ 1 (1820), mùa hạ, tháng sáu, ngày Tân Mão dâng
thêm tôn thụy là Thừa Thiên Tá Thánh, Hậu Đức Từ Nhân Giản Cung Tề
Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao Hoàng hậu.
Sách văn rằng: Lễ không gì lớn bằng tôn lấy danh hay; hiếu không gì trước
hơn thuật lại đức tốt, nhớ mãi khuôn phép tốt nên tỏ danh hiệu nay.
Kính nghĩ: Hoàng tỉ, Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao
Hoàng hậu, từ hiếu trời phú cho, đoan trang giữ lời dạy, việc nội trợ giúp cơ
nghiệp gian nan tu tề trước chính vương hóa, thờ bề trên có dung nghi dịu
thuận, trước sau đạo hiếu vẹn tuyền. Giáo hóa làm khuôn phép người mẹ
khắp thiên hạ. Tin yêu nuôi nấng mọi người, đến cả phi tần. Tuy xe mây đã
sớm đuổi tới cõi tiên, mà đức tốt vẫn lưu nơi cung cấm. Cho nên quả đức
nới nối nghiệp lớn, truy tôn đã thuật lại thánh công, nhưng khôn nghi trên
sánh với kiền nguyên (17) nối tốt lại xét theo điển lớn kính cẩn đem các
quan xin mệnh lệnh nhà tôn miếu, đem sách ấn dâng thêm tôn thụy là:
Thừa Thiên Tá Thánh, Hậu Đức Từ nhân, Giản Cung Tề Hiếu, Dực Chính
Thuận Nguyên Cao Hoàng hậu.
https://thuviensach.vn
Cúi xin Thái hậu nhận lấy tên thụy vẻ vang, lên phối hưởng ở cung Nễ
(18). Than ôi ! kính trọng người tôn đức đầy khó hình dung ra dược. Anh
linh đầy rẫy, phúc nhiều đón hưởng mãi lâu dài, kính rước thánh vị, lên
phối hưởng ở điện Minh Thành.
Năm thứ 3 (1822) mùa xuân, tháng giêng, rước thần chủ hợp thờ ở miếu
Thế Tổ. Hậu là người nhân hậu cần kiệm, hiền từ yêu người. Trước kia
trong lúc xiêu giạt, phụng dưỡng Hoàng thái hậu nếm trải mọi mùi gian nan
hiểm trở, thường thân hành dệt cửi chính tay may lấy áo trận, để cấp cho
quân sĩ. Một hôm thuyền đi gặp giặc, vua đốc quân cố sức đánh, Hậu cùng
cầm dùi đánh trống, quân lính tranh nhau phấn khởi thành ra đánh được
quân giặc. Đầu năm Quý Mão (1783), vua cho Hậu dật vàng, Hậu nhận lấy
cất đi, kịp khi thiên hạ đã yên định, Hậu thong dong trình dâng. Vua nói
rằng: Vàng giữ làm tin đây, thực trời giúp đấy, không thể quên lúc gian nan,
vậy nên lưu lại để bảo cho con cháu biết. Hậu nhận lấy dật vàng ấy cho
Thánh Tổ Nhân Hoàng đế. Minh Mạng năm thứ nhất (1820) Thánh Tổ đem
dật vàng ra bảo Phạm Đăng Hưng, Nguyễn Hữu Thận rằng: đấy là vật làm
tin của hoàng khảo, khi dời đi xa lưu lại để đưa cho trẫm. Bèn sai khắc chữ
vào dật vàng ròng: "Thế Tổ Đế Hậu Quý Mão bá thiên thời tín vật" (Vật
giữ làm tin của Thế Tổ Đế Hậu lúc xiêu dạt đi xa về năm Quý Mão) rồi
đem để ở điện Phụng Tiên.
Đền thừ Quy quốc nay do Cai đội là Tống Phúc Sở coi giữ, hàng năm chi
tiền công, để cung việc tế tự.
Thuận Thiên Cao Hoàng hậu
Thuận Thiên Cao Hoàng hậu họ Trần, người ở huyện Hương Trà phủ Thừa
Thiên, là con gái Thọ quốc công Trần Hưng Đạt, mẹ là họ Lê. Lúc biến
loạn năm Giáp Ngọ, Hiếu Khang Hoàng hậu, ẩn nấp ở làng An Du, Hậu là
con nhà danh giá, được tiến vào hầu. Năm Mậu Tuất(1778) Thế Tổ Cao
Hoàng đế nhiế
https://thuviensach.vn
p chính ở Gia Định sai người rước từ giá (tức Hiếu Khang Hoàng hậu).
Mùa xuân năm Kỷ Hợi (1789) Hậu và các Trưởng công chúa đều theo đi.
Hậu 14 tuổi được tiến vào cung, rồi tấn phong là Tả cung tần, hiệu là Nhị
phi.
Khi ấy giặc Tây Sơn đương hăng, Thế Tổ phải xiêu dạt đi xa, Hậu cứ hàng
đêm đốt hương khấn trời rằng: "Nay vận nước còn bối rối, chưa có yên
định hẳn, may mà sinh con, sợ đương lúc chạy xa này, bỏ đi thì không nỡ,
bế cõng đi theo, lại không khỏi bận lòng cho chúa thượng; nếu mệnh đáng
có con, xin đợi thiên hạ thái bình, rồi sau hãy sinh con thực là trời cho vậy".
Năm Mậu Thân (1788) lấy lại được thành Gia Định. Có một đêm, Hậu nằm
chiêm bao thấy người thân trình một cái ấn báu, hai cái ấn, cái ấn báu thì
sắc đỏ bóng nhẫy tươi sáng như mặt trời; một cái ấn thì sắc tía, một cái ấn
thì sắc rất nhạt, Hậu đều nhận cả.
Năm Tân Hợi (1791) Hậu 24 tuổi, sinh ra Thánh Tổ Nhân Hoàng đế ở thôn
Hoạt Lộc (thuộc Gia Định, khoảng năm Minh Mạng dựng đền Khải Tường
ở đấy), con thứ hai là Kiến An vương, tên là Đài; thứ ba là hoàng tử Hiệu
chết sớm; thứ tư là Thiệu Hóa quận vương tên là Chẩn.
Minh Mạng năm thứ nhất (1820) dựng cung Từ Thọ, ban ơn cho làng họ
ngoại 150 lạng bạc (họ Trần 100 lạng, xã Văn Xá 50 lạng). Các quan xin
dâng tôn hiệu, Thánh Tổ đem tờ biểu tấu lên. Hậu dụ rằng: Ta xem tờ biểu,
đã biết Hoàng đế và các quan thành tâm rồi, Nhưng nghĩ Tiên đế ta chôn
vào lăng chưa được bao lâu, quân dân phần nhiều ốm đau, ta thấy Hoàng đế
lo siêng sợ hãi như thế, sớm khuya không yên, lòng ta tự thấy thương xót
biết bao, tuy rằng tai họa ấy vị tất là do người làm vua kém đức nên nỗi thế,
nhưng có thiên hạ, thì nên chịu lấy trách nhiệm của thiên hạ, cũng phải lo
về sự lo của thiên hạ cũng là phải.Ta xin các lão tiên sinh, cùng một tâm
đức giúp đỡ các điều hoàng đế không nghĩ tới để hồi lại ý trời, để vui sự
sinh sống cho dân, thì ta vui mừng nhiều lắm. Về tờ biểu xin tôn sùng, bất
tất cử hành là phải.
https://thuviensach.vn
Mùa đông năm ấy, cung Từ Thọ làm xong, Thánh Tổ đem các quan xin
chúc mừng. Hậu xuống dụ miễn cho, các quan lại dâng tờ biểu xin tiến tôn.
Hậu xuống chỉ bằng lòng y theo: năm thứ 2 (1821) mùa xuân, tháng 3 ngày
Quý Sửu, tấn tôn làm Hoàng thái hậu.
Sách văn rằng: Chí nguyên để xưng cho mẹ, sinh ra muôn vật nhân kia
sánh với Kiền nguyên; đức lớn được danh hiệu lớn, được mệnh trời yên,
phúc ấy bởi tự trời giúp. Thư đỏ chói lọi, sách ngọc rõ ràng.
Kính nghĩ hoàng mẫu bệ hạ, nhân hậu tự trời, hiền minh đức cũ từ ái đối
với con cháu, phúc lộc thịnh cho nước nhà; dậy bảo cho thần, nên mới có
ngày nay. Đã hưởng phụng dưỡng rất mực của thiên hạ, nên nhận lấy vinh
hiển của thiên hạ. Tấm lòng thành thực tin ở mọi người đều nói, ngửa trông
đức tốt khiêm khiêm (19), danh hiệu to lớn, để nêu rõ khuôn phép rất hay, ở
văn quý quý (20), vậy đã mệnh lệnh ở nhà tôn miếu thân đem các quan
kính bưng sách ấn dâng tôn hiệu là Hoàng thái hậu.
Kính nghĩ: Chính danh hiệu to chịu nhiều phúc tốt; một nhà đầy phúc vui
vẻ, gốc giáo hóa làm phép bởi từ nhà; muôn năm tuổi thọ dài lâu, phúc lộc
để mãi đến con cháu. Ngày hôm sau, ban ân chiếu cho trong ngoài, lấy
ngày 27 tháng 11 làm tiết thánh thọ. Lại truy tặng cho tằng tổ là Trần Mậu
Tài làm Thị trung trực học sĩ, phong là Văn Xá bá; ông là Trần Mậu Quế
làm Lại bộ Thượng thư, phong là Gia Bình hầu; cha là Trần Hưng Đạt làm
Thái phó, phong là Hà Ba (Hoa) quận công. Miễn lệ thuế tô công tư điền ba
năm, tiền đầu quan về thuế thân và giao dịch 30 năm cho làng họ ngoại.
Mùa...
Table of Contents
QUYỂN ĐẦU
QUYỂN 1
QUYỂN 2
QUYỂN 3
QUYỂN 4
QUYỂN 5
QUYỂN 6
QUYỂN 7
QUYỂN 8
QUYỂN 9
QUYỂN 10
QUYỂN 11
QUYỂN 12
QUYỂN 13
QUYỂN 14
QUYỂN 15
QUYỂN 17
QUYỂN 18
QUYỂN 19
QUYỂN 20
QUYỂN 21
QUYỂN 22
QUYỂN 23
QUYỂN 25
QUYỂN 26
QUYỂN 27
QUYỂN 28
QUYỂN 29
https://thuviensach.vn
QUYỂN 30
QUYỂN 31
QUYỂN 32
QUYỂN 33
CHÚ THÍCH
https://thuviensach.vn
LIỆT TRUYỆN SƠ TẬP
QUYỂN ĐẦU
Bọn thần là Tổng tài, Toản tu ở Quốc sử quán, kính cẩn tâu về việc xin đem
sách "Chính biên liệt truyện sơ tập" để tỏ ra điển tất.
Trộm nghĩ, ử để lưu truyền lại, đã có từ lâu. Vì từ đế vương đời cổ, nhận
giữ đồ, lục (1), kinh Dịch bắt đầu quẻ Kiền quẻ Khôn giúp nền giáo hóa ở
trong, cùng là những hàng giúp mệnh, các người giúp sức, phong thanh khí
tập, người hay người dở, điều tốt điều xấu, cũng không việc gì là không có
sự thực. Thể cách làm ra liệt truyện, do đây mà tỏ ra, thực không thể thiếu
được.
Nhà nước ta, nhận mệnh yêu mến của trời, nên cơ đồ ở cõi Nam. Thánh
thần truyền nối, hơn hai trăm năm, sách Thực lục tiền biên, sáng để muôn
thuở.
Kính nghĩ, Thế tổ Cao Hoàng đế, ứng mệnh trời thuận lòng người; dẹp yên
rối loạn, trở lại đạo chính, thần hóa sánh với đất trời; công tốt đầy khắp vũ
trụ. Đã từng phụng chỉ làm sách "Chính biên đệ nhất kỷ", duy khi ấy, bên
trong việc sửa sang, bên ngoài làm chính trị, quy mô xa rộng, bút của sử
thần, không thể chép xiết.
Bọn thần phụng chỉ tra cứu suốt từ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đặt ra Sử
quán, chọn sai nho thần, biên chép lâu năm. Đến buổi đầu năm Thiệu Trị
kính vâng sắc chỉ chuẩn cho sửa lại làm Liệt truyện, để đủ làm quan chiêm
của một triều đại và để bảo rõ điển chương đến muôn đời sau. Tới năm Tự
Đức thứ 5 (1852) bộ "Tiền biên liệt truyện" làm xong; phụng chỉ kế tiếp,
làm bộ "Đệ nhất kỷ chính biên liệt truyện", các viên ở Sử quán lúc ấy, tham
bổ khảo xét đính chính, chia từng mục, biên thành từng loại. Đầu là các
https://thuviensach.vn
truyện của Hậu phi; thứ là Hoàng tử, Công chúa; thứ nữa là các bề tôi; thứ
nữa là người có hạnh có nghĩa, và các liệt nữ; cuối rốt chép phụ thêm các
truyện về bọn tiếm thiết và việc nước ngoài, gồm có 8 mục, cộng 33 quyển,
nhan đề là "Chính biên liệt truyện sơ tập". Trong đó tìm lấy nguyên nhân từ
trước cốt yếu về sau, việc xét đúng, văn rõ ràng, thực đáng làm gương để
khảo xét nhân lúc nhiều việc chưa kịp đem khắc ra ban hành, bản thảo vẫn
để ở Lan Đài (2) không ai được thấy sự bí mật của bộ sách ấy.
Bọn thần nghĩ rằng: sách này sửa chép đến nay đã vài mươi năm rồi, về
người về việc, đã rõ, há nên để mãi lâu ngày mà chưa nêu rõ ra ư? Nay xin
kính đem nguyên bản kiểm xét kỹ lại viết ra rõ ràng tiến trình, đợi vâng chỉ
chuẩn cho giao khắc bản in, để vào kho sử; ngõ hầu công liệt lớn của nhị kỷ
trở về sau, cũng xin thư đệ biên, chép nối thêm, khiến cho điển chương
nhân vật của thịnh triều đều có sách chép sẵn, truyền mãi không cùng, thực
là nguyện vọng lớn của bọn thần vậy.
Về việc khắc in xin đều do ty có chức trách sửa làm.
Vậy dám kính làm tập tâu lên, đợi Hoàng thượng quyết định.
Kính cẩn tâu lên
Thành Thái năm thứ I (1889), tháng 10 ngày 13 đệ tâu (ngày 5 tháng 11
năm 1889). Vâng chỉ chuẩn y lời tâu, phải kính theo lời chỉ.
(Thần) Nguyễn Trọng Hợp
Bùi n Niên
Trương Quang Đản
Đoàn Văn Bình
Hoàng Hữu Sứng
https://thuviensach.vn
Thành Ngọc Uẩn
Trịnh Quang Chiểu
Tô Châu
Phụng kiểm:
Hàn lâm viện kiểm thảo sung khảo hiệu, thần: Hồ Đắc Mưu, Hàn lâm viện
điển bạ sung khảo hiệu, thần: Hồ Quý Thiều.
Phụng tả:
Nguyên điển nghi ty tư vụ sĩ bổ, thần: Trương Giảng, Chánh cửu phẩm sĩ
bổ, thần: Nguyễn Quát, thần: Lê Quang Huân.
Tòng cửu phẩm sung đăng lục sĩ bổ, thần: Hoàng Cương, thần: Nguyễn
Hữu Tuyên.
Thị sai tòng cửu phẩm sĩ bổ, thần: Lê Văn Hào.
Thư lại sĩ bổ, thần: Trần Văn Kinh.
Hành nhân ty hành nhân sĩ bổ, thần: Nguyễn Ngoạn.
Thu chưởng:
Hàn lâm viện đãi chiếu sung thu chưởng, thần: Lê Bá Nhượng.
ĐẠI NAM CHÍNH BIÊN LIỆT TRUYỆN
QUYỂN 1
TRUYỆN CỦA CÁC HẬU PHI
https://thuviensach.vn
Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng hậu
Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng hậu là Nguyễn Thị, người ở làng Minh Linh,
phủ Thừa Thiên, con gái Diễn quốc công Nguyễn Phúc Trung (nguyên là
họ Nguyễn, hoặc được cho họ là Nguyễn Phúc, không thể xét được), mẹ là
họ Phùng.
Khi hậu mới vào hầu ở nhà để (3) theo đạo trinh thuận, tập quen quy tắc
trong chốn khuê môn. Sinh được ba con trai, con cả là Đông Hải Quận
vương tên là Đồng, con thứ hai là Thế Tổ Cao Hoàng đế, con thứ ba là
Thông Hóa Quận vương tên là Diễn; một con gái là Long Thành Công
chúa, tên là Ngọc Tú. Khi biến loạn năm Giáp Ngọ (4), hậu ẩn náu ở làng
An Du, các Trưởng công chúa đều theo đến cả đấy. Mùa xuân năm Kỷ Hợi
(1779), Thế Tổ Cao Hoàng đế sai người đón đến Gia Định, tôn làm quốc
mẫu; gặp khi giặc Tây Sơn vào lấn cướp, Thế Tổ phải thiên đi nơi khác,
hậu và cung quyến lui đóng ở đảo Phú Quốc. Thuyền của Thế Tổ ngự đi
đảo Côn Lôn, gặp gió lớn, trôi giạt ở ngoài biển 7 ngày, trong thuyền hết
nước uống, bỗng chốc nước nhạt chảy ra, nhờ thế mới đỡ. Tới khi thuyền
của Thế Tổ lại trở về đảo Phú Quốc, Thế Tổ thuật lại tình trạng cay đắng
khi ở giữa biển, hậu than rằng: "Gió lớn ở đảo Côn Lôn, giữa biển có suối
nước ngọt, có thể biết là lòng trời ngầm giúp cho, con ta chớ nên lấy sự khó
nhọc ấy mà tự nản chí". Thế Tổ lạy tạ nói rằng: Xin kính cẩn vâng lời dạy.
ăm Giáp Thìn (1784) Thế Tổ sang nước Xiêm cầu viện, Hậu và cung quyến
dời đi đóng ở đảo Thổ Châu, mùa thu năm ấy, Thế Tổ đem quân đi Xiêm
về đánh nhau với giặc không lợi. Mùa xuân năm Ất Tỵ (1785) Thế Tổ lại
sang nước Xiêm, bèn đóng tạm ở Long Khâu, sai người rước từ giá (mẹ
vua) và cung quyến đến nơi hành tại (5). Mùa
thu năm Đinh Mùi (1787) Thế Tổ từ nước Xiêm về, thuyền ngự tiến đóng ở
Hà Tiên, sai Vũ Di Nguy, Phạm Văn Nhân, hộ vệ từ giá và cung quyến lưu
lại ở đảo Phú Quốc. Mùa thu năm Mậu Thân (1788) quân ta lấy lại được
https://thuviensach.vn
thành Gia Định, liền sai bọn Nguyễn Văn Nhân rước về Gia Định, mùa
xuân năm Canh Tuất (1790) dựng làm hậu điện rước đến ở.
Năm Bính Thìn (1796) mùa đông, tháng 10 ngày Kỷ Mão, Thế Tổ thân
đem các quan bưng sách vàng, ấn vàng tôn làm Quốc mẫu Vương thái phi.
Năm Tân Dậu (1801) dã lấy được đô thành, Gia Long năm thứ I (1801)
mùa hạ tháng 4, Thế Tổ sai bọn Hoàng Viết Toản làm phụng nghinh sứ
tháng 6 đến kinh. Tháng 11, Thế Tổ ra ơn cho làng họ ngoại, dân làng An
Du, các việc ra lính tạp dịch thân thế đều miễn cho cả. Năm thứ 2, mùa
xuân tháng 3, ngày Nhâm Dần, tôn làm Vương thái hậu.
Sách văn rằng: Vốn nghe: đức rất tốt của đế vương, sự cốt yếu không gì
trước hơn điều hiếu, cho nên yêu kính làm ở trong nhà, mà phong hóa
ngấm khắp cả nước, thế gọi là đạo hiếu suốt cả trong nước.
Kính nghĩ Thánh mẫu bệ hạ, là dòng dõi nhà thế phiệt có đức tiếng thơm
chuyện tốt ở chốn khuê phòng. Kịp thời hầu đức nhân khảo sửa sang công
việc trong cung cấm, tuy ở trong lúc biến nguy hầu quanh bên cạnh không
lúc nào trễ biếng, vỗ nuôi thân nhỏ mọn này cho đến trưởng thành. Gặp
trong nước có tai nạn, càng ân cần lắm. Quan hà ngoại cõi, không lúc nào
yên ổn, lo về nước nhà, sớm khuya răn sợ, để có ngày nay. Trên nhờ linh
thiêng của các tiên thánh vương ở trên thời giúp cho thành công; cũng là do
thánh mẫu sinh ra dậy nuôi được thế. Nhân đức rất lớn không thể xưng tụng
ra được. Tham xét điển chương, danh hiệu tốt đẹp, để hậu lòng hiếu kính
mà đáp lại ơn nhân tử. Than ôi! Tôn kính bề thân ngửa trông đức Kiền
nguyên (6) rất lớn, trời ban cho chịu nhiều điềm Lý cát (7) vô cùng. Ngày
Giáp Thìn, Thể Tổ ngự ở điện, các quan dâng biểu mừng, cho ăn yến cỗ thứ
bậc khác nhau. Xuống chiếu bá cáo cho trong ngoài biết.
Mùa hạ tháng 4, truy tặng cho ông của Thái hậu là Phúc Kiêm làm Dương
Vũ công, Khai phủ phụ quốc, Quang tiến trấn quốc đại tướng quân, Cẩm y
vệ đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ, Thiếu úy, Quận công, thụy là Đôn Hậu,
cha sinh ra Thái hậu là Phúc Trang làm Tán trị công thần, Đặc tiến khai phủ
https://thuviensach.vn
phụ quốc thượng tướng quân, Thượng trụ quốc, Trung quân, Đô đốc phủ
chưởng phủ sự, Thái bảo, Miên quốc công, thụy Chính Trực. Lập đền thờ ở
Phú Xuân gọi là đền Dục Đức, lại vì họ Phùng dựng đền ở xã An Du cho
điệt ôn (cháu gọi mẹ Thái hậu là cô) là Phùng Thế Bình làm Cai đội, coi
giữ việc thờ tự. (Minh Mạng thứ 13 đổi phong đền Dục Đức của Diễn quốc
công, gọi là đền Diễn quốc công).
Năm thứ 3 (1804), mùa xuân tháng 3, dựng cung Trường thọ, mùa dông
tháng 10, cung làm xong rước Vương thái hậu đến ở, Thế Tổ thân đến làm
lễ chúc mừng, các quan và mệnh phụ đều đem giấy mừng cùng lễ phẩm
tiến lên. (Các con tiến 20 lạng vàng, 100 lạng bạc, mệnh phụ tiến 10 lạng
vàng, 50 lạng bạc).
Năm thứ 5 (1806) mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Thân, dâng kim sách tôn
làm Hoàng thái hậu.
Sách văn rằng: Trộm nghe, hiếu tất phải trước ở có lòng yêu kính, lễ không
gì lớn hơn tôn bề thân, đã xét khắp đạo thường, đủ chứng tỏ điển thịnh.
Kính nghĩa Vương thái hậu bệ hạ, tiếng tốt rộng khắp, cao hxưa: đức hậu
nết tốt, lúc yên lúc nguy một mực; đứa hóa làm phép cho chốn đình vi, lợi
trạch khắp cả đến nền xã tắc; phúc để lại cho con cháu, ơn ngấm khắp đến
thần dân; công nhân tích lũy, để có ngày nay. Cho nên thần (tức Thế Tổ)
mới hợp lời của mọi người đã nhận danh hiệu là đế. Nghĩ đến công ơn sinh
dục, nhưng trời không cùng, dám không tôn xưng danh hiệu tốt đẹp, để đáp
lại ơn lớn. Kính cẩn bưng sách vàng, ấn vàng kính dâng tôn hiệu làm
Hoàng thái hậu. Cúi xin nhận lấy danh hiệu to lớn chịu nhiều phúc tốt lâu
dài; phúc ban từ trời, càng dài tuổi thọ, giống chín điều như (8).
Ngày Canh Tuất, Thế Tổ ngự điện Thái Hòa nhận lễ chúc mừng, xuống
chiếu bá cáo trong ngoài biết.
https://thuviensach.vn
Năm thứ 6 (1807) mùa thu tháng 7, khánh tiết lớn mừng Thánh thọ bảy
mươi tuổi, Thế Tổ thân đem các quan đến làm lễ chúc mừng. Tôn nhân
phủ, hoàng tử, hoàng tôn, tá hữu cung tần, văn ban, vũ ban, văn vũ mệnh
phụ, công tính, cung thuộc, các thành doanh, trấn, đạo, dòng dõi công thần
ở huyện Tống Sơn, họ Lê, họ Trịnh đều dâng lễ mừng, sai nhạc công múa
bát dật (9), hát khúc Vạn niên hoan, Thiên hạ lạc, Thái bình lạc.
Thái hậu tính hiền từ yêu mến tự trời sinh ra, đối với chị là Từ phi, tình yêu
càng quyến luyến, bỗng nhân khi Thái hậu trở trời gặp lúc Từ phi ốm kịch,
Thế Tổ chưa dám tâu lên, tới khi Từ phi mất, Hậu mới biết, giận không ăn
cơm. Thế Tổ thân đến thăm sức khỏe, Hậu bảo rằng: Thân già này có một
người chị, lúc ốm không được thấy, vì thế ăn không ngon, ngủ không yên.
Thế Tổ quỳ ở dưới thềm, yên ủi và xin lỗi hồi lâu, ý Thái hậu mới giải bèn
lại ăn cơm.
Năm thứ mười (1811) mùa thu, tháng 9, Thái hậu bị mệt nặng. Trước đây,
sao chổi mọc ra, người hầu tâu lên Hậu biết, Hậu buồn rầu không vui. Có
một đêm Hậu lẻn ra xem, vào bảo người hầu rằng: "ổi hiện ra, ứng vào thân
già này". Đến đây Hậu bị bệnh nặng.
Ngày Kỷ Sửu, Hậu mất, thọ 74 tuổi, đem quan tài để ở cung Trường Thọ.
Thế Tổ thương khóc không thôi, sai các quan bàn quy chế để tang. Ngày
sóc ngày vọng tế điện to, đặt bàn chay lớn ở chùa Thiên Mụ. Năm thứ 11
(1812) mùa xuân tháng 3, ngày Mậu Dần, sách dâng tên thụy là Y Tĩnh
Huệ Cung, Anh Trinh Từ Hiến, Hiếu Khang Hoàng hậu.
Sách văn rằng: thần nghe: kinh Dịch nói là thánh vật, kinh Thi khen là sinh
dân, duy có đức dày thể theo đức lớn của quẻ Khôn cho nên tiếng tốt để lại
đời sau mãi mãi.
Kính nghĩa Đại hành Hoàng thái hậu, nhân từ vốn tự tính trời, rộng lớn
sánh với đạo đất. Gian nan vẫn theo đạo thường, giúp đức nhân khảo ta đã
gặp vận nước tai biến lại đến khi thần phải khó khăn, chính mình đem
https://thuviensach.vn
khuôn phép kiên thuận, khuyên thần lấy mưu lược siêng lo, khiến cho thần
dựng lại được nước nhà, nhất thống được bờ cõi, không phải do tự lời dạy
của hậu, sao được đến thế. Đức hóa tốt đẹp khắp đến các phương, tuổi thọ
đã cao quá tuần bảy chục, sao đã vội bỏ sự cung dưỡng bằng cả thiên hạ,
mà đi chơi ở chốn cõi tiên. Công cao như trời, muốn báo đền ơn sâu mà
chẳng biết; ơn dầy như đất, nên thuật lại đức tốt đến vô cùng. Nay kính cẩn
thân đem các quan xin mệnh lệnh ở nhà tôn miếu, kính bưng kim sách dâng
lên thụy là Ý Tĩnh Huệ Cung, Anh Trinh Từ Hiến, Hiếu Khang Hoàng hậu.
Cúi xin anh linh sáng tỏ thêm lên, nhận lấy danh hiệu to lớn phối hưởng với
Nễ cung (10), cùng lâm hưởng muôn thủa.
Ngày Kỷ Mão, bá cáo cho trong ngoài biết. Mùa hạ, tháng 4 táng ở lăng
Thụy Thánh (ở núi Đinh Môn, thuộc huyện Hương Trà), ngày Giáp Dần
rước thần chủ để ở cung Trường Thọ.
Năm thứ 12 (1813), tháng 9, lễ đại tường xong, Lễ thần dâng nói: Hiếu
Khang Hoàng hậu lấy đức sánh với đức, sinh ra bệ hạ, rộng giúp nhân dân,
lợi đến xã tắc, làm nên trung hiếu cho bệ hạ không gì lớn hơn, để lại công
đức vô cùng cho đời sau, không những là có công với Hiếu Khang Hoàng
đế cũng có công với tổ tông, có công với trăm họ nữa. Kinh Thi có nói
rằng: "Hiệu thiên võng cực" (11) là nghĩa ơn đức của mẹ cũng như cha vậy.
Xin đến sau ngày tế đàm, kính rước thần chủ lên phối hưởng ở Nễ cung. Sớ
dâng lên, bảo là phải. Tháng 11, tế đàm rước thần chủ lên phối hưởng ở
miếu Hoàng khảo (Minh Mạng năm thứ 2 đổi dâng miếu hiệu là miếu
Hưng Tổ).
Đền Diễn quốc công nay do cai đội là Tôn Thất Tú coi giữ, hàng năm chi
tiền công để cung việc tế tự.
Nguyễn Từ Phi
https://thuviensach.vn
Nguyễn Từ Phi là chị Hiếu Khang Hoàng hậu. Trước kia vào hầu Hưng Tổ,
sinh 3 con trai: con cả là Tương Dương Quận vương, tên là Hạo, con thứ
nhì chết sớm, con thứ ba là An Biên Quận vương tên là Mân, 2 con gái lớn
là Phúc Lộc Công chúa Ngọc Du, con gái thứ là Minh Nghĩa Công chúa
Ngọc Tuyền. Khi biến l
oạn năm Giáp Ngọ, Phi ẩn náu ở dân gian. Mùa xuân năm Kỷ Hợi, Thế Tổ
Cao Hoàng đế sai người rước vào Gia Định, ở cùng với Hiếu Khang Hoàng
hậu. Buổi đầu năm Gia Long rước về kinh, theo ở sau cung Trường Thọ.
Mùa đông năm thứ 6 chết, tặng là Ý Thân Huy Gia Từ phi năm thứ 5
(1845) rước thần chủ thờ ở nhà thờộc Thái trưởng công chúa.
Thế Tổ Thừa Thiên Cao Hoàng hậu
Thế Tổ Thừa Thiên Cao Hoàng hậu, họ Tống, là người ở quý huyện (tức
huyện Tống Sơn) tỉnh Thanh Hóa, con gái Quý quốc công Tống Phúc
Khuông, mẹ là họ Lê.
Trước đây, Quốc công mang gia quyến vào Gia Đ
ịnh. Năm Mậu Tuất, hậu 18 tuổi, Thế Tổ Cao Hoàng đế đem đủ lễ vật đến
cưới, tấn phong là Nguyên phi. Hậu là người cung kính cẩn thận, cử động
có phép tắc lễ độ, vua rất quý trọng. Sinh được 2 con trai, con cả là Chiêu,
chết sớm, con thứ là Cảnh, đã có truyện chép riêng. Mùa thu năm Quý
Mão, giặc Tây Sơn đến cướp thành Gia Định, vua ngự ra đảo Phú Quốc,
người nước Xiêm đến đón. Khi vua sắp sang Xiêm, trước hết sai Hoàng tử
Cảnh sang Tây cầu viện. Bèn đem ra nửa dật vàng tốt cho Hậu, bảo rằng
con ta đi rồi, ta sẽ đi đây, Phi phụng dưỡng Quốc mẫu ở đây, chưa biết sau
này gặp nhau ở nơi nào và ở ngày nào, đem vàng này để làm của tin.
Mùa xuân, năm Giáp Thìn (1784) vua từ nước Xiêm về, Hậu rước quốc
mẫu ở lại đảo Phú Quốc. Mùa thu năm Mậu Thân (1788) lấy lại thành Gia
Định, sai người đến rước về Gia Định. Từ đây trở đi, mỗi khi vua đi đánh
https://thuviensach.vn
giặc, Hậu thường đi theo. Gia Long năm thứ 2 (1803) tháng 3, ngày Bính
Thân lập làm Vương hậu.
Sách văn rằng: Đạo trời nhờ công khí âm để nôi, hóa tốt muôn vật; Thánh
nhân đặt chức lên trong để giúp, nêu mẫu sáu cung. Xướng được điều tốt
đẹp ấy thuộc về người có đức hay. Nghĩ đến Nguyên phi họ Tống, công
nghiệp tốt như ngọc cư ngọc hoàng, dáng nghi đẹp như ngọc uyển ngọc
diễm. Lúc rồng vàng còn ẩn núp, điềm lành sớm định, đức trinh tĩnh đã nối
theo tiếng hay. Ngày chim cưu về tổ xưa tiếng tốt nêu cao, nết kiệm cần đã
gây nền vương hóa. Con cháu được đông đàn, khác gì cây tiêu liêu nhiều
quả, cung tần được yêu tới nhờ ở bóng cù mộc rộng che. Gặp bước gian
truân, vui được vợ tốt; chật vật cờ bái vua Thang, cờ mao vua Vũ cùng
trẫm rửa căm thù cho tiên vương tám chín đời; Xa xôi thành nước Thục,
đường nước Tần theo ta chịu phong trần ba mươi năm ở nước bạn. Vất vả
càng thêm kiên trì. Mềm dịu vốn quen lễ độ, có lòng hiếu thảo với cung
Trường Lạc (12), thân làm đồ ngon đồ ngọt trong bữa cơm. Chia sự đắng
cay ở núi
Cối Kê (13), tự dệt vải mỏng vải dầy cho quân lính. Bỏ trâm (14) ra chốn
ngõ sâu, phần nhiều khuyên chăm chính sự. Trẫm nghĩ tế chứng thường nơi
chín miếu, chân dày sương cùng nhớ đến tổ tông. Trẫm nghĩ sự lao khổ của
sáu quân, nghe trống trận cũng chau mày thương tướng sĩ. Nhiều lo toan và
trong lòng thành thực sâu xa, vẫn giấu kín mà tỏ đức ôn hòa mềm dẻo.
Chắn gấu (15) để giữ vua nhà Hán, không hổ với Phùng Cơ, chạy ngựa (16)
cùng dựng nghiệp nhà Chu, có phần hơn Khương Nữ. Kiền khôn gây dựng
lại, đã giúp nhau trong lúc gian nan; nhật nguyệt cùng sáng soi, cùng hưởng
trong khi phú quý. Bèn xét điển đời cổ ban cho danh hiệu hay.
Vâng mệnh của Vương thái hậu, sai viên Chưởng thần vũ quân là Phạm
Văn Nhân, Lễ bộ là Đặng Đức Siêu bưng sách vàng ấn ngọc lập làm
Vương chính hậu
https://thuviensach.vn
Ôi! Duy có nghiêm kính có thể thờ được người trên. Nhân từ có thể tiếp
được kẻ dưới. Hậu siêng năng thì người không dám biếng lười. Hậu kiệm
ước thì người không dám xa xỉ. Hậu nên nghĩ về điều ấy, để chịu phúc của
nhà tôn miếu, để được tốt cho con cháu sau.
Năm thứ 3 (1804) truy tặng bốn đời: Cao tổ là Tống Phúc Đức làm Cai cơ,
tước Hầu; Tằng tổ là Tống Phúc Dương làm Chưởng cơ, tước Quận công;
ông là Tống Phúc Thành làm Chưởng doanh, tước Quận công; cha là Tống
Phúc Khuông làm Thái bảo, tước Quốc công, lập đền ở Phú Xuân, gọi là
đền Tống công. (Năm Minh Mạng thứ 13, đổi phong là Quy quốc công, đền
Tống công sau dời đến Kim Long, đổi tên là đền Quy quốc công).
Năm thứ 5 (1806) mùa thu, tháng 7, ngày Kỷ Mùi, lập làm Hoàng hậu.
Sách văn rằng: Trộm nghĩ thế của thuần khôn, sánh với kiền nguyên, bắt
đầu vương hóa, gây ở nội trị: cùng tôn cùng quý đối với lễ là trinh. Nghĩ
đến vương hậu họ Tống: tiếng nghĩa rộng khắp, nết tốt đầy đủ: giữ việc
trong cung cho Trẫm, chốn nấu ăn được nghiêm lặng. Lúc trước trong khi
xiêu giạt, trẫm lo nghĩ khó nhọc ở ngoài, Hậu siêng năng giúp đỡ ở trong;
gian nan cùng giúp lẫn nhau, hiểm bằng nếm đủ tất cả; khoan thai khép nép
rất là kính, tiến dâng ngon ngọt hết đạo hiếu; ơn huệ để cho con cháu, đức
trạch khắp tới quân nhưng; ôn hòa kính cẩn kiệm ước đã giúp đỡ ta, đức tốt
như ngọc hành ngọc vũ làm khuôn phép trong cung cấm, thói hay ở thơ
Quang thủ đem giáo hóa cả thiên hạ, tu tề trị bình, cũng nhờ ở đấy. Trẫm
mới hợp lời đình thần tâu xin, đã chính vì hoàng đế; nghĩ tới ngôi hậu ở
trong cùng trẫm cùng trị, chúc ở trong cung; tốt ở triều đình là gốc. Đã
dâng lời tâu xin chỉ Hoàng thái hậu, sai Chưởng thần vũ quân kiêm coi
quân thần sách là Kiêm quận công Phạm Văn Nhân mang cờ tiết, Hộ bộ
thượng thư. Tích thiện hầu là Nguyễn Kỳ Kế làm phó, mang sách vàng ấn
vàng, tấn phong làm Hoàng hậu5; cho long trọng vị hiệu. Hậu nên nhận lấy
danh hiệu cao quý ấy, sửa sang chính sự ở trong cung, kính cẩn việc thờ
phụng ở nhà tôn miếu, làm khuôn phép người mẹ cho thần dân, kính siêng
https://thuviensach.vn
sửa đức nghĩ điều nghĩa cho sáng thêm; được hưởng nhiều phúc, giữ tốt
mãi không chán.
Năm thứ 13 (1814) mùa xuân, tháng 2 ngày Ất Mùi Hậu mất, thọ 54 tuổi,
để quan tài ở điện Khôn nguyên. Vua thương tiếc không thôi. Dụ các quan
rằng Hoàng đế để tang Hoàng hậu một năm, là phải lễ. Trẫm ở trong cung
để tang một năm, còn từ Hoàng tử xuống bàn định phép để tang có thứ bậc.
Ngày Canh Tuất làm lễ thành phục, vua sai hoàng tử thứ tư (tức là Thánh
Tổ Nhân Hoàng đế) dâng lễ tế điện. (Thánh Tổ Nhân Hoàng đế tuổi mới
lên ba, vua sai Hậu nuôi, Hậu yêu sách phải có khế khoán. Vua sai Lê Văn
Duyệt viết một tờ giấy đưa cho. Hậu giao cho cung tỳ là Nguyễn Thị Lê cất
giữ. Từ đấy Thánh Tổ Nhân Hoàng đế, vào hầu ở trong cung làm con của
Hoàng hậu. Đến sau Hoàng trưởng tử là Cảnh, Hoàng nhị là Hi, Hoàng ba
là Noãn nối nhau chết đi, đến lúc có tang hậu, các quan hặc có người bàn
đem Hoàng tôn Đán giữ việc thừa tự, Vua dụ rằng: Hoàng tử là con của
Hoàng hậu, còn có khế khoán ở kia, nên sai làm chủ việc thờ cúng: việc lớn
của nước không thể nhất khái câu nệ lễ của nhà mọi người. Nguyễn Văn
Thành lại cho là lời xưng hô trong văn khấn khó nói. Vua bảo rằng: Con
phụng mệnh cha để tế mẹ, danh chính ngôn thuận, có gì là không được. Lời
nghị mới quyết định).
Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Tuất, tấn phong tên thụy là Giản Cung Tề
Hiến Đức Chính Thuận Nguyên Hoàng hậu.
Sách văn rằng: Trị bên trong nhờ ở người nội tướng, nên Kinh Thi mở đầu
là thiên gây nên nền phong hóa; có đức lớn thì nhận danh hiệu lớn nên
Kinh Lễ trọng về điểm tôn xưng lúc tống chung. Lâu nhớ đức hay nêu rõ
hiệu tốt. Đại hành Hoàng hậu Tống thị, con nhà danh giá kính giữ lời dạy,
tự trời phối hợp cùng trẫm sửa mình, xếp dặt việc nhà, sấm gió đương lúc
gian truân phong trần hợp sức giúp đỡ. Trời biển gian hiểm cố gắng giúp ta,
quê ngư̖i lạnh lùng, kính hầu mẫu hậu, sớm khuya không trễ, răn bảo cùng
nhau, nghĩ cùng trẫm báo phục mối thù cho miếu xã; nghĩ cùng trẫm cứu
https://thuviensach.vn
vớt nỗi khổ cho nhân dân. Cho nên trẫm lấy lại được cõi bờ dẹp yên được
trong nước, nghĩ đến Hậu lấy hiếu để phụng thờ tổ tiên, lấy kính để tiếp đãi
người dưới, nhân đến phi tần, yêu cả con cháu, ra ơn cả thân hiền, để tâm
đến cả làng xóm. Việc đưa đám Thụy lăng, xót thương hết lòng. Trước sau
vẫn một tâm đức, trong ngoài theo về người thân. Tuổi thọ chưa đầy sáu
chục, xe tiên đã vội xa vời. Nhớ đến người giúp giỏi, cử hành điển chương
thường. Bèn xin mệnh lệnh ở tôn miếu, sai Khâm sai chưởng Hữu quân
giám Thần sách quân, Khiêm quận công là Phạm Văn Nhân làm chánh sứ.
Lễ bộ thượng thư, Hưng nhượng hầu là Phạm Đăng Hưng làm phó sứ,
bưng sách vàng, ấn vàng tấn phong tên thụy là: Giản Cung Tề Hiếu Đức
Chính Thuận Nguyên Hoàng hậu. Mong nhận lấy tên hiệu long trọng, để tỏ
lâu đời. Than ôi! Ghi về việc, nêu về công lễ vẫn nên thế, sống thì vinh,
chết thì thương, Hậu nên xét cho.
Năm thứ 14 (1815) mùa xuân, tháng giêng, vua sai bộ Lễ bàn về lễ tiểu
tường, đại tường và trừ phục về cung Khôn nguyên. Quan bộ Lễ tâu nói:
Theo sách Lễ ký, về tang một năm, 11 tháng thì tế luyện (tiểu tường), 13
tháng thì tế đại tường, 15 tháng thì tế đàm, thế là lễ chính. Nhưng quan tài
còn để quàn, chưa nên đem cát lễ mà đổi áo tang. Kính xét: Thiên tang
phục Tiểu ký nói rằng sau ba năm mới làm ma, thì tất phải hai lần tế, trong
khoảng hai lần tế ấy không được tế cùng một lúc mà bỏ áo tang, là vì có
việc chưa thể sửa việc tang được. Về việc tế luyện (tiểu tường), tế đại
tường, tất đợi khi chôn cất rồi, lại cử hành hai lễ tế ấy; nhưng phải tế làm
hai lần không được cùng tế một lúc. Tiểu ký lại nói rằng: quàn lâu mà chưa
chôn, duy có người chủ tang không được bỏ áo tang, còn người khác để
tang bằng áo vải gai cứ hết số tháng bỏ áo trở thì thôi. Người chủ tang
không được bỏ áo tang là con để tang cho mẹ, cháu để tang ông bà, chưa
chôn thì không được bỏ áo sô gai và dây lưng gai. Hết số tháng mặc áo gai
nhưười thân thuộc để tang một năm đến 3 tháng, cứ đủ số tháng thì bỏ áo
tang, nhưng áo trở ấy vẫn còn phải thu cất đi, để đợi khi tống táng. Thế là
khi chưa chôn, lễ tế luyện, tế đại tường chưa thể cử hành được, áo trở chưa
được bỏ đi được, kinh có chép rõ ràng nghĩa nên tham khảo. Lại xét: Tiên
https://thuviensach.vn
nho Dữu Uất Chi nói rằng: Thiên Phục Vấn có nói "Vua chủ việc tang cho
phu nhân", thế là lấy người tôn chủ việc tang cho người ti, không được
giống như người ti chủ việc tang của người tôn, không lấy cớ rằng người ti
chưa chôn mà để cho người tôn phải mặc áo trở mãi được. Từ Kiều Học
cũng cho tới Dữu thị là phải. Thế mới biết là người tôn chủ việc tang cho
người ti, tuy lâu chưa táng, nhưng không thể không từ phục vụ được. Vua
cho là phải.
Năm thứ 1 4 (1815) mùa xuân tháng 3, ngày Nhâm Dần, chôn ở bên hữu
chỗ huyệt lăng Thiên Thọ ( thuộc núi Thụ Sơn, xã Định Môn, huyện
Hương Trà, năm Gia Long thứ 13 mới dựng phần. Vua dùng phép hợp lăng
đời cổ làm hai cái quách đá ở huyệt, chôn trong Bảo Thanh, trước cửa xây
đá làm thềm bậc, đổi tên là núi Thiên Thọ). Ngày Ất Ty đem thần chủ để ở
điện Hoàng Nhân.
Minh Mạng năm thứ 1 (1820), mùa hạ, tháng sáu, ngày Tân Mão dâng
thêm tôn thụy là Thừa Thiên Tá Thánh, Hậu Đức Từ Nhân Giản Cung Tề
Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao Hoàng hậu.
Sách văn rằng: Lễ không gì lớn bằng tôn lấy danh hay; hiếu không gì trước
hơn thuật lại đức tốt, nhớ mãi khuôn phép tốt nên tỏ danh hiệu nay.
Kính nghĩ: Hoàng tỉ, Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao
Hoàng hậu, từ hiếu trời phú cho, đoan trang giữ lời dạy, việc nội trợ giúp cơ
nghiệp gian nan tu tề trước chính vương hóa, thờ bề trên có dung nghi dịu
thuận, trước sau đạo hiếu vẹn tuyền. Giáo hóa làm khuôn phép người mẹ
khắp thiên hạ. Tin yêu nuôi nấng mọi người, đến cả phi tần. Tuy xe mây đã
sớm đuổi tới cõi tiên, mà đức tốt vẫn lưu nơi cung cấm. Cho nên quả đức
nới nối nghiệp lớn, truy tôn đã thuật lại thánh công, nhưng khôn nghi trên
sánh với kiền nguyên (17) nối tốt lại xét theo điển lớn kính cẩn đem các
quan xin mệnh lệnh nhà tôn miếu, đem sách ấn dâng thêm tôn thụy là:
Thừa Thiên Tá Thánh, Hậu Đức Từ nhân, Giản Cung Tề Hiếu, Dực Chính
Thuận Nguyên Cao Hoàng hậu.
https://thuviensach.vn
Cúi xin Thái hậu nhận lấy tên thụy vẻ vang, lên phối hưởng ở cung Nễ
(18). Than ôi ! kính trọng người tôn đức đầy khó hình dung ra dược. Anh
linh đầy rẫy, phúc nhiều đón hưởng mãi lâu dài, kính rước thánh vị, lên
phối hưởng ở điện Minh Thành.
Năm thứ 3 (1822) mùa xuân, tháng giêng, rước thần chủ hợp thờ ở miếu
Thế Tổ. Hậu là người nhân hậu cần kiệm, hiền từ yêu người. Trước kia
trong lúc xiêu giạt, phụng dưỡng Hoàng thái hậu nếm trải mọi mùi gian nan
hiểm trở, thường thân hành dệt cửi chính tay may lấy áo trận, để cấp cho
quân sĩ. Một hôm thuyền đi gặp giặc, vua đốc quân cố sức đánh, Hậu cùng
cầm dùi đánh trống, quân lính tranh nhau phấn khởi thành ra đánh được
quân giặc. Đầu năm Quý Mão (1783), vua cho Hậu dật vàng, Hậu nhận lấy
cất đi, kịp khi thiên hạ đã yên định, Hậu thong dong trình dâng. Vua nói
rằng: Vàng giữ làm tin đây, thực trời giúp đấy, không thể quên lúc gian nan,
vậy nên lưu lại để bảo cho con cháu biết. Hậu nhận lấy dật vàng ấy cho
Thánh Tổ Nhân Hoàng đế. Minh Mạng năm thứ nhất (1820) Thánh Tổ đem
dật vàng ra bảo Phạm Đăng Hưng, Nguyễn Hữu Thận rằng: đấy là vật làm
tin của hoàng khảo, khi dời đi xa lưu lại để đưa cho trẫm. Bèn sai khắc chữ
vào dật vàng ròng: "Thế Tổ Đế Hậu Quý Mão bá thiên thời tín vật" (Vật
giữ làm tin của Thế Tổ Đế Hậu lúc xiêu dạt đi xa về năm Quý Mão) rồi
đem để ở điện Phụng Tiên.
Đền thừ Quy quốc nay do Cai đội là Tống Phúc Sở coi giữ, hàng năm chi
tiền công, để cung việc tế tự.
Thuận Thiên Cao Hoàng hậu
Thuận Thiên Cao Hoàng hậu họ Trần, người ở huyện Hương Trà phủ Thừa
Thiên, là con gái Thọ quốc công Trần Hưng Đạt, mẹ là họ Lê. Lúc biến
loạn năm Giáp Ngọ, Hiếu Khang Hoàng hậu, ẩn nấp ở làng An Du, Hậu là
con nhà danh giá, được tiến vào hầu. Năm Mậu Tuất(1778) Thế Tổ Cao
Hoàng đế nhiế
https://thuviensach.vn
p chính ở Gia Định sai người rước từ giá (tức Hiếu Khang Hoàng hậu).
Mùa xuân năm Kỷ Hợi (1789) Hậu và các Trưởng công chúa đều theo đi.
Hậu 14 tuổi được tiến vào cung, rồi tấn phong là Tả cung tần, hiệu là Nhị
phi.
Khi ấy giặc Tây Sơn đương hăng, Thế Tổ phải xiêu dạt đi xa, Hậu cứ hàng
đêm đốt hương khấn trời rằng: "Nay vận nước còn bối rối, chưa có yên
định hẳn, may mà sinh con, sợ đương lúc chạy xa này, bỏ đi thì không nỡ,
bế cõng đi theo, lại không khỏi bận lòng cho chúa thượng; nếu mệnh đáng
có con, xin đợi thiên hạ thái bình, rồi sau hãy sinh con thực là trời cho vậy".
Năm Mậu Thân (1788) lấy lại được thành Gia Định. Có một đêm, Hậu nằm
chiêm bao thấy người thân trình một cái ấn báu, hai cái ấn, cái ấn báu thì
sắc đỏ bóng nhẫy tươi sáng như mặt trời; một cái ấn thì sắc tía, một cái ấn
thì sắc rất nhạt, Hậu đều nhận cả.
Năm Tân Hợi (1791) Hậu 24 tuổi, sinh ra Thánh Tổ Nhân Hoàng đế ở thôn
Hoạt Lộc (thuộc Gia Định, khoảng năm Minh Mạng dựng đền Khải Tường
ở đấy), con thứ hai là Kiến An vương, tên là Đài; thứ ba là hoàng tử Hiệu
chết sớm; thứ tư là Thiệu Hóa quận vương tên là Chẩn.
Minh Mạng năm thứ nhất (1820) dựng cung Từ Thọ, ban ơn cho làng họ
ngoại 150 lạng bạc (họ Trần 100 lạng, xã Văn Xá 50 lạng). Các quan xin
dâng tôn hiệu, Thánh Tổ đem tờ biểu tấu lên. Hậu dụ rằng: Ta xem tờ biểu,
đã biết Hoàng đế và các quan thành tâm rồi, Nhưng nghĩ Tiên đế ta chôn
vào lăng chưa được bao lâu, quân dân phần nhiều ốm đau, ta thấy Hoàng đế
lo siêng sợ hãi như thế, sớm khuya không yên, lòng ta tự thấy thương xót
biết bao, tuy rằng tai họa ấy vị tất là do người làm vua kém đức nên nỗi thế,
nhưng có thiên hạ, thì nên chịu lấy trách nhiệm của thiên hạ, cũng phải lo
về sự lo của thiên hạ cũng là phải.Ta xin các lão tiên sinh, cùng một tâm
đức giúp đỡ các điều hoàng đế không nghĩ tới để hồi lại ý trời, để vui sự
sinh sống cho dân, thì ta vui mừng nhiều lắm. Về tờ biểu xin tôn sùng, bất
tất cử hành là phải.
https://thuviensach.vn
Mùa đông năm ấy, cung Từ Thọ làm xong, Thánh Tổ đem các quan xin
chúc mừng. Hậu xuống dụ miễn cho, các quan lại dâng tờ biểu xin tiến tôn.
Hậu xuống chỉ bằng lòng y theo: năm thứ 2 (1821) mùa xuân, tháng 3 ngày
Quý Sửu, tấn tôn làm Hoàng thái hậu.
Sách văn rằng: Chí nguyên để xưng cho mẹ, sinh ra muôn vật nhân kia
sánh với Kiền nguyên; đức lớn được danh hiệu lớn, được mệnh trời yên,
phúc ấy bởi tự trời giúp. Thư đỏ chói lọi, sách ngọc rõ ràng.
Kính nghĩ hoàng mẫu bệ hạ, nhân hậu tự trời, hiền minh đức cũ từ ái đối
với con cháu, phúc lộc thịnh cho nước nhà; dậy bảo cho thần, nên mới có
ngày nay. Đã hưởng phụng dưỡng rất mực của thiên hạ, nên nhận lấy vinh
hiển của thiên hạ. Tấm lòng thành thực tin ở mọi người đều nói, ngửa trông
đức tốt khiêm khiêm (19), danh hiệu to lớn, để nêu rõ khuôn phép rất hay, ở
văn quý quý (20), vậy đã mệnh lệnh ở nhà tôn miếu thân đem các quan
kính bưng sách ấn dâng tôn hiệu là Hoàng thái hậu.
Kính nghĩ: Chính danh hiệu to chịu nhiều phúc tốt; một nhà đầy phúc vui
vẻ, gốc giáo hóa làm phép bởi từ nhà; muôn năm tuổi thọ dài lâu, phúc lộc
để mãi đến con cháu. Ngày hôm sau, ban ân chiếu cho trong ngoài, lấy
ngày 27 tháng 11 làm tiết thánh thọ. Lại truy tặng cho tằng tổ là Trần Mậu
Tài làm Thị trung trực học sĩ, phong là Văn Xá bá; ông là Trần Mậu Quế
làm Lại bộ Thượng thư, phong là Gia Bình hầu; cha là Trần Hưng Đạt làm
Thái phó, phong là Hà Ba (Hoa) quận công. Miễn lệ thuế tô công tư điền ba
năm, tiền đầu quan về thuế thân và giao dịch 30 năm cho làng họ ngoại.
Mùa...
 





