BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Viếng Lăng Bác - Bài giảng

    Góc nhìn Sử Việt Trần Hưng Đạo

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 17h:50' 17-04-2024
    Dung lượng: 1.2 MB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    Table of Contents
    LỜI GIỚI THIỆU
    Lời đầu
    Chương Nhất: Gia thế và cá tính Trần Quốc Tuấn
    Chương Nhì: Lực lượng và tinh thần quân đội dưới quyền Trần Quốc Tuấn
    Chương Ba: Xã hội và sinh hoạt dân chúng trước khi kháng Nguyên
    Chương Tư: Lai lịch và lực lượng Mông Cổ
    Chương Năm: Mông Cổ gây hấn
    Chương Sáu: Cuộc chiến thắng Mông Cổ lần thứ nhất (1257)(142)
    Chương Bảy: Cuộc chiến thắng Mông Cổ lần thứ hai (1283-1285)(158)
    Chương Tám: Cuộc chiến thắng Mông Cổ lần thứ ba (1287-1288)(212)
    Chương Chín: Từ bài “hịch tướng sĩ” đến sách “Vạn Kiếp tông bí truyền”
    Chương Mười: Nhắc lại những kinh nghiệm đã chiến thắng Mông Cổ
    Sách báo tham khảo
    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    LỜI GIỚI THIỆU

    Bạn đọc thân mến!
    Lịch sử văn hóa của một dân tộc không phải của riêng cá nhân nào, chính vì vậy, việc bảo tồn,
    gìn giữ và phát triển lịch sử văn hóa cũng không phải riêng một người nào có thể gánh vác
    được, nó thuộc về nhận thức chung của toàn xã hội và vai trò của từng nhân tố trong mỗi
    chặng đường lịch sử. Lịch sử là một khoa học. Lịch sử không phải là việc thống kê sự kiện một
    cách khô khan rời rạc. Bởi mỗi sự kiện trong tiến trình đó đều có mối liên kết chặt chẽ với
    nhau bằng sợi dây vô hình xuyên suốt không gian và thời gian tạo nên lịch sử của một dân tộc.
    Dân tộc Việt Nam trải hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần trăm năm dưới ách cai trị của thực
    dân, đế quốc, nhưng con cháu bà Trưng, bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi,
    Quang Trung... vẫn kiên trì bền chí, tin tưởng ở quá khứ hào hùng, không ngừng tranh đấu
    hướng tới tương lai rộng mở vì độc lập tự do của đất nước.
    Một dân tộc, một quốc gia muốn trường tồn và phát triển, ngoài việc đẩy mạnh phát triển cơ
    sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật, điều quan trọng hơn nữa là phải có một nền tảng giáo dục vững
    chắc. Trong đó, giáo dục về lịch sử và lòng tự hào dân tộc là cần thiết để ghi khắc trong tâm trí
    các thế hệ, đặc biệt là tầng lớp thanh niên trẻ, ý thức về nguồn gốc dân tộc, truyền thống văn
    hóa và nội lực quốc gia, đồng thời giúp định hình góc nhìn thấu đáo về vai trò của từng giai
    đoạn, triều đại và nhân vật - dù gây tranh cãi - tạo nên lịch sử đó.
    Chính vì những giá trị to lớn đó, vấn đề học tập, tìm hiểu lịch sử nước nhà hiện đang là mối
    quan tâm hàng đầu của Nhà nước và toàn xã hội. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Quỹ Phát
    triển Sử học Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay... và rất nhiều những tổ chức khác đã và đang kiên
    trì con đường thúc đẩy sự phát triển của nền khoa học lịch sử quốc gia, phổ biến tri thức lịch
    sử, góp phần giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc tới toàn xã hội.
    Đồng hành với mối quan tâm của toàn xã hội, Công ty Cổ phần Sách Alpha - một doanh
    nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, với tôn chỉ “Tri thức là sức mạnh” - đặc biệt quan
    tâm tới việc góp phần nâng cao hiểu biết của người dân về truyền thống văn hóa lịch sử đất
    nước.
    Theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu của bạn đọc cho thấy, “lỗ hổng lịch sử” ở
    không ít người trẻ hiện nay hoàn toàn có thể bù lấp một phần dựa trên nhiều nguồn tư liệu,
    công trình nghiên cứu, sách cổ sách quý hiện đang được các Viện nghiên cứu, các tổ chức, cá
    nhân lưu giữ. Để chung tay tái hiện một cách rõ nét những mảnh ghép lịch sử dân tộc, Công ty
    Cổ phần Sách Alpha đã triển khai dự án xuất bản mang tên Góc nhìn sử Việt với mục đích xuất
    bản lại và xuất bản mới một cách có hệ thống các công trình, tư liệu, sách nghiên cứu, sách văn
    học có giá trị… về lịch sử, bước đầu hình thành nên Tủ sách Alpha Di sản.
    Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một trong những sản phẩm đầu tiên của dự án này.
    Xin trân trọng giới thiệu.
    CÔNG TY CP SÁCH ALPHA

    Lời đầu

    Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn chẳng những là một vĩ nhân Việt Nam, mà lại là một
    danh nhân trên mảnh đại lục Đông Nam Á từ thế kỷ XIII đến nay.
    Đối với lịch sử Việt Nam, ngài là một đại anh hùng dân tộc, có công quét sạch giặc Nguyên(1)
    xâm lược, giữ vững tự do, độc lập cho nhân dân, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ cho tổ quốc; trên
    nối được dòng máu truyền thống của Trưng Vương, Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Phùng Hưng,
    Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt…, dưới treo được tấm gương tranh đấu cho Đặng Dung,
    Nguyễn Súy, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung…
    Ngài là kết tinh của cả Việt Nam, một dân tộc có sức đấu tranh dai dẻo, bền bỉ, không chịu
    khuất phục dưới bất cứ một ách cường quyền đô hộ nào hoặc bó tay cúi đầu trước bất cứ một
    cuộc xâm lược công khai hay trá hình nào.
    Công nghiệp ngài đã đi sâu vào dân chúng. Tên tuổi ngài đã sống mãi với non sông. Vậy sao
    còn cần đến cuốn tiểu sử này? Là vì võ công, văn nghiệp của ngài, trước kia, người mình chỉ
    chép toàn bằng chữ Hán, mà lại tản mát chưa có hệ thống; gần nay, tuy có một vài cuốn sách,
    tờ báo quốc ngữ nói đến, nhưng hãy còn sơ lược chưa đủ hoặc truyền văn thất chân.
    Vả, lối dân chúng “thần thánh hóa” các bậc vĩ nhân lại làm cho một số người hiểu đức Trần
    Hưng Đạo theo một phương diện khác, một ý nghĩa khác.
    Vậy xin cố gắng tra cứu sử sách Nam Bắc, sưu tầm tài liệu xưa nay, làm thành cuốn Trần
    Hưng Đạo này, mong đi tới mấy mục đích đã đặt:
    1. Giới thiệu cho các bạn nam nữ thanh niên biết rõ hơn về một nhân vật lịch sử, văn võ toàn
    tài: chống ngoại xâm, giành độc lập;
    2. Bổ sung thêm đôi chút vào chỗ khuyết trong các sử sách ta xưa nay đã chép về đức Trần
    Hưng Đạo;
    3. Nhắc lại những kinh nghiệm trong mấy cuộc kháng chiến Mông Cổ do anh hùng Trần Quốc
    Tuấn lãnh đạo;
    4. Lấy Trần Hưng Đạo làm đối tượng nghiên cứu, lại lấy lịch sử đương thời làm bối cảnh, cung
    chút tài liệu cho văn, sử học sau này.
    Nếu mấy mục đích ấy đạt được thì thật là một sự khuyến khích lớn cho kẻ viết.
    Nói thêm
    Những sách, báo tham khảo đều có liệt kê ở cả cuối sách. Tựu trung, khi dẫn chứng, có mấy
    tên sách viết tắt như:
    Đại Việt sử ký toàn thư, viết là Toàn thư;
    Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết là Cương mục;
    Lịch triều hiến chương loại chí viết là Lịch triều hiến chương.
    Các địa danh về quan, ải, sông, núi và đất… ở đời Trần, so với ngày nay, duyên cách nhiều
    lắm. Ngay như một con sông Cái (hồi Minh thuộc gọi là Nhị Hà, ngày nay gọi là Hồng Hà) bấy
    giờ chia gọi nhiều khúc khác nhau; khúc trên mạn ngược (từ miền Lào Cai, Yên Bái xuống đến
    ngã ba Hạc) thì gọi sông Thao; khúc từ ngã ba Hạc đến Thăng Long thì gọi sông Lô; khúc từ
    miền Hưng Yên thì gọi sông Tha Mạc hoặc Thiên Mạc; khúc từ miền Hà Nam thì gọi Đại Hoàng
    giang hoặc Hoàng giang… Trong mấy cuộc kháng Nguyên, có lắm địa danh thấy chép ở An Nam
    chí lược như Tích Nỗ Nguyên, Tứ Thập Nguyên, Lãnh Mỹ, Hải Thị quan, Lãng Sơn (Lãng là
    sóng: Núi Lóng), chợ Đông Hồ (Đông Hồ thị), cầu Phù Lỗ… và ở Toàn thư như Linh Kinh quan,
    Vũ Cao quan, Đa Mỗ loan…, nay rất khó kê cứu. Vậy phàm địa danh nào có thể khảo được thì
    xin cước chú ở dưới. Đúng lý ra, một địa danh nào nếu đã chú thích ở một chương trên rồi thì ở

    các chương dưới không phải nhắc lại nữa. Nhưng vì muốn cho độc giả khỏi phí thì giờ tìm lại
    chỗ trước, nên thỉnh thoảng cũng có chua lại. Còn những địa danh nào hoặc đánh dấu hỏi trong
    hai ngoặc đơn hoặc không chua ở dưới đều là “tồn nghi”, đợi khảo sau. Xin bạn đọc lượng thứ.
    Ba bức bản đồ kháng chiến Mông Cổ ở cuối sách về địa điểm lịch sử thì có chất chính cùng
    nhà học giả Hoàng Xuân Hãn; về phương diện chuyên môn thì nhờ hoa tay của nhà khảo cổ
    Biệt lam Trần Huy Bá. Tiện đây, tác giả xin ghi mấy lời thành thực cảm tạ.
    Tác giả
    Ngày 4 tháng 2 năm 1950

    Chương Nhất: Gia thế và cá tính Trần Quốc Tuấn

    Hưng Đạo đại vương, họ Trần, húy Quốc Tuấn, là con An Sinh vương Trần Liễu và bà Nguyệt,
    là em Vũ Thành vương Trần Doãn và là anh Thiên Cầm hoàng hậu, vợ vua Trần Thánh Tôn
    (1258-1278).
    Ngài gọi Trần Thừa (sau được tôn làm Thái tổ) bằng ông nội, Trần Cảnh (vua Trần Thái Tôn)
    bằng chú ruột.
    Đối với hoàng tộc nhà Trần, ngài là bậc thân vương, nên hồi tháng mười, năm Quý Mão
    (1283), có giặc Mông Cổ xâm lược, ngài được vua Trần Nhân Tôn (1279-1293)(2) tiến phong
    làm Quốc công.
    Theo chế độ nhà Trần, hễ thân vương làm tướng văn thì gọi là “công”, nay ngài do thân
    vương làm tướng võ, nên gọi là “quốc công”. Còn người mình và cả người Trung Hoa gọi ngài là
    “Hưng Đạo vương” hoặc “Hưng Đạo đại vương”, là tôn xưng theo tước phong của ngài.
    Như vậy, ngài là người họ tông thất rất thân nhà Trần và là nhân vật đứng trong tầng lớp quý
    tộc.
    Các sử ta xưa không chép ngài sinh vào năm nào đến khi ngài mất cũng không nói ngài thọ
    bao nhiêu tuổi, nên nay không thể biết được ngày sinh của ngài(3).Mà chỉ tạm nêu một giả
    thuyết:
    Sau ngày rằm tháng hai, năm Tân Hợi (1251), Quốc Tuấn tự do luyến ái rồi kết hôn với Thiên
    Thành công chúa (Toàn thư, quyển 5, tờ 17a-b).
    Qua tháng tư năm ấy (Tân Hợi, 1251), thân phụ ngài là An Sinh vương Trần Liễu mất, mới 41
    tuổi (Sử dẫn trên, tờ 18b).
    Trần Liễu mất năm 41 tuổi. Nếu 18 tuổi đã sinh con thì bấy giờ (Tân Hợi, 1251) Quốc Tuấn
    23 tuổi; nếu Trần Liễu 21 tuổi mới có con thì Quốc Tuấn bấy giờ 20 tuổi.
    Sử chép ngày 20 tháng tám, năm Canh Tý (năm 1300) đời vua Trần Anh Tôn (1293-1314)(4),
    Hưng Đạo đại vương mất.
    Vậy nay có thể phỏng đoán: Trần Quốc Tuấn sinh vào khoảng niên hiệu Kiến Trung hồi đầu
    Trần, lối năm Kiến Trung thứ tư (1228) đến thứ bảy (1231) và ngài thọ trên dưới 70 tuổi, độ
    từ 69 đến 72.
    Thuở bé, ngài được người ta đoán rằng ngày sau tất là một tay “kinh bang, tế thế ” (經邦濟
    世).
    Lớn lên, dung mạo khôi vĩ, thông minh hơn người, ngài xem rộng các sách, gồm tài văn võ.
    Trước kia, An Sinh vương Liễu có hiềm khích với vua Trần Thái Tôn, nên rộng tìm những kẻ
    sĩ có nghệ năng để rèn dạy ngài.
    Ngài có bốn con trai là Hưng Vũ vương Quốc Hiến, Hưng Hiến vương Quốc Uy, Hưng Nhượng
    vương Quốc Tảng, Hưng Trí vương Quốc Nghiễn, một con gái đẹp duyên cùng Trần Nhân
    Tôn(5) và một con gái nuôi lấy Phạm Ngũ Lão(6).
    TRUNG DŨNG – THẬN TRỌNG
    Tính rất trung dũng, ngài đã biểu lộ ở lời nói và việc làm.
    Khi có giặc Mông Cổ, ngài dụ bảo các tướng sĩ rằng: “Đến bữa, ta từng quên ăn; ban đêm, ta
    thường dựa gối, trào nước mắt, lòng đau như dần, giận không được ăn thịt nằm da… của quân
    địch!”
    Tấc lòng thương dân lo nước ấy đã được chứng tỏ trong mấy lời đáp vua Trần Thánh Tôn:

    “Chặt đầu thần trước, rồi hãy nói chuyện xuống hàng”, khi nhà vua hỏi thử ngài rằng: “Thế giặc
    như vậy, âu ta hãy hàng”.
    Lời “quyết chiến, quyết thắng” trên đây cũng như khi qua Hóa Giang(7), ngài đã hô quân sĩ,
    trỏ sông ấy mà thề:
    “Chuyến này không phá được giặc Nguyên thì không chịu về đến sông này nữa.”
    Ngài lại có tính rất thận trọng:
    Trần Thánh Tôn thấy ngài có công lao lớn, gia phong là Thượng quốc công, cho ngài được tự
    chuyên trong việc ban tước từ Minh tự (明字) trở xuống; duy có tước hầu thì “ban trước, tâu
    sau”. Thế mà ngài chưa từng ban tước cho một người nào cả.
    Khi có giặc Mông Cổ, ngài ra lệnh khuyên các nhà giàu quyên thóc để phát cho quân sĩ, rồi
    ngài chỉ thưởng cho họ hàm Lang tướng giả, chứ không cho chức Lang tướng thật.
    VÌ NGHĨA CẢ, BỎ TÌNH RIÊNG
    Thân phụ ngài là An Sinh vương Trần Liễu có người vợ là Lý thị đang có mang. Trần Thủ Độ
    thấy vua Trần Thái Tôn (1225-1258)(8) bấy giờ chưa có con, bèn lấy Lý thị cho Trần Thái. Vì
    thế Trần Liễu căm tức, nổi loạn, nhưng sau Liễu thua trận, phải nhảy vào thuyền vua Thái Tôn
    mà xin hàng.
    Dẫu được xá tội, phong đất An Sinh(9) làm thái ấp, nhưng từ đó, Trần Liễu vẫn mang hận một
    bên lòng.
    Mà thật thế, có lần An Sinh vương Liễu bảo con là Trần Quốc Tuấn rằng: “Mai sau, nếu con
    không vì ta mà lấy được thiên hạ(10) thì ta nằm dưới đất, không sao nhắm mắt được đâu!”
    Ngài tuy nhớ mãi câu ấy nhưng không cho là phải. Gặp khi quốc gia lâm nguy, ngài nắm trong
    tay cái quyền quân quốc, bèn đem lời cha ngày trước hỏi thử ý kiến hai gia thần(11) là Dã
    Tượng và Yết Kiêu. Hai người này khảng khái can ngay bằng giọng trung trực: “Tính làm việc
    ấy dẫu được giàu sang một thời đấy thật, nhưng tiếng xấu để mãi nghìn thu. Đại vương bây giờ
    há chẳng giàu sang rồi ư? Chúng tôi thề rằng thà chết già làm gia nô còn hơn làm hạng quan vô
    trung hiếu…”.
    Cảm động, ngài ứa nước mắt, bùi ngùi thán phục Dã Tượng, Yết Kiêu là nói rất phải.
    “Chim hồng hộc sở dĩ bay cao được, là nhờ có những lông cánh dài.” Ngài đã phải tấm tắc
    khen Yết Kiêu, Dã Tượng như thế, khi họ, sau này tham dự vào những cuộc kháng chiến Mông
    Cổ.
    Về sau, ngài lại đem việc cha dặn ấy hỏi thử người con lớn là Hưng Vũ vương Quốc Hiến:
    “Người xưa làm nên giàu có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, vậy ý con nghĩ sao?”, Hưng Vũ
    vương thưa: “Giả thử đối với họ khác, thế còn không nên, huống hồ lại là chỗ cùng họ.” Ngài
    khen là phải lắm.
    Rồi, một bữa, ngài lại hỏi thử người con thứ ba là Hưng Nhượng vương Quốc Tảng, Quốc
    Tảng thưa: “Tống Thái tổ xưa chỉ là một ông nhà quê, vậy mà biết nhân thời, dấy vận để có cả
    thiên hạ.” Nghe vậy ngài nổi giận, tuốt gươm kể tội Quốc Tảng: “Xưa nay kẻ loạn thần là do đứa
    con bất hiếu mà ra.” Nói đoạn, ngài toan dứt tình phụ tử bằng một nhát gươm, nhưng nhờ có
    Hưng Vũ vương khóc lóc cố can, nên Quốc Tảng mới không bị giết.
    Khi sắp mất, ngài có dặn Hưng Vũ vương: “Sau khi ta chết, con phải đậy nắp quan tài đã, rồi
    mới cho Quốc Tảng vào viếng”.
    Cũng vì chuyện hiềm khích giữa Trần Liễu và Thái Tôn này, nên ngài đã phải giữ ý từng ly
    trong khi có giặc Mông Cổ. Những lúc đi phò giá vua Trần trong cơn nghiêng ngửa chông
    chênh, ngài phải tế nhị gìn giữ đến cả cái đót gậy. Số là, bấy giờ đang có ngoại hoại(12), từ
    Thượng hoàng Trần Thánh Tôn đến vua Trần Nhân Tôn đều phải rời bỏ kinh thành long đong

    gió bụi; lúc chạy đi Hải Đông (nay thuộc Quảng Yên), lúc trốn vào Thanh Hóa; mà ngài thì đang
    cầm cả binh quyền. Nhiều người biết vương phụ ngài có hiềm khích, không khỏi nông nổi ngờ
    vực đến cả cây gậy của ngài đầu có cái bịt như hình quả chuông mà lưỡi thì nhọn, sợ ngài nhân
    có cơ hội sẽ rửa hờn cho cha chăng. Ngài biết ý, bèn vứt bỏ cái đót bịt nhọn, chỉ cầm gậy không.
    HỮU ÁI VỚI ANH EM
    Ngài và Chiêu Minh vương Trần Quang Khải là anh em con chú con bác, vì Quang Khải là con
    thứ ba vua Trần Thái Tôn.
    Quang Khải thông minh, có học thức, được phong Tướng quốc Thái úy tổng thiên hạ sự, rồi
    thăng Thượng tướng(13).
    Trước kia, ngài và Quang Khải không hòa hợp. Nhưng, đến khi trong nước có giặc, cả hai đều
    kết hợp chặt chẽ, đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết. Một hôm, ngài từ Vạn Kiếp(14) về, Quang
    Khải xuống thuyền chơi đùa suốt ngày, ngài là người thích tắm gội, thấy Quang Khải vốn sợ
    tắm gội bèn sai lấy nước trong, nấu trầm hương, rồi đùa bảo Quang Khải: “Thân thể Thượng
    tướng cáu ghét lắm, xin được tắm rửa cho sạch sẽ”. Rồi ngài cởi áo Quang Khải, giội cho thứ
    nước trong trẻo thơm tho mà nói đùa rằng: “Nay được tắm rửa cho Thượng tướng”, Quang
    Khải cũng đùa lại: “Nay được Quốc công(15) tắm rửa cho”. Từ đấy, tình hiếu hai bên càng thêm
    mặn mà đằm thắm. Người làm tướng võ, kẻ làm tướng văn, đậu cật, đồng lòng, đưa con thuyền
    quốc gia thoát cơn sóng gió.
    ÁP ĐẢO ĐƯỢC XỨ MÔNG CỔ
    Năm Tân Tỵ (1281), sứ giả Mông Cổ Sài Xuân(16), khi vào kinh đô Thăng Long, đến cửa
    Dương Minh, không chịu xuống ngựa. Quân sĩ Thiên Trường cản lại, Xuân liền lấy roi ngựa
    đánh người lính ấy bị thương ở đầu. Đến điện Tập Hiền, thấy có màn treo trướng rủ, Xuân mới
    hạ mã. Vua Trần sai Trần Quang Khải đến sứ quán tiếp đãi; Xuân nằm khểnh, không ra đón,
    Quang Khải vào thẳng trong phòng, Xuân cũng không trở dậy.
    Nghe biết chuyện đó, Hưng Đạo vương bèn xin tới quán sứ, xem Xuân ra sao. Với bộ tịch một
    vị hòa thượng Trung Quốc đầu thì trọc, quần áo thì nâu sồng, ngài vào trong phòng nơi sứ
    quán, Xuân trở dậy, vái chào ngài, rồi mời ngồi. Pha trà, ngài cùng Xuân uống. Trong khi ấy, kẻ
    hầu của Xuân cầm chiếc tên, đứng sau ngài, dùi vào đầu ngài làm máu chảy… Ngài vẫn giữ
    được khí sắc như thường, không biến đổi. Kịp lúc ngài lui về, Xuân tiễn ra tận cửa. Thấy vậy,
    mọi người đều lấy làm kinh ngạc; nào có biết cạo đầu, mặc áo vải là dáng hòa thượng Bắc
    phương (theo Toàn thư, quyển 5, tờ 40b – 41a). Đó là vì ngài thấu rõ tâm lý sứ Nguyên, nên
    mới áp đảo được nó bằng trí khôn và can đảm.
    TIẾN NGƯỜI HIỀN - YÊU LOÀI VẬT
    Ngài chẳng những yêu tài, vì quốc gia, tiến cử gây dựng những tay rường cột như Phạm Ngũ
    Lão, Trương Hán Siêu… lại còn mở rộng lòng nhân, thương yêu đến cả loài vật.
    Mùa xuân năm Trùng Hưng thứ tư (1288), một bữa, ngài từ quân doanh ở làng A Sào, huyện
    Phượng Dực(17) nhổ trại, tiến sang sông Bạch Đằng để đánh toán quân Mông Cổ do tướng Ô Mã
    Nhi cầm đầu. Khi ngài thúc voi lội qua sông Hóa thì bấy giờ nước thủy triều đã rút cạn. Chẳng
    dè con voi ngài cưỡi bị sa lầy, càng sụt càng sâu; người ta không sao khiêng nó lên được nữa. Vì
    việc quân cấp bách, ngài đành phải lìa voi, lên bộ. Thấy ngài đi, voi ứa nước mắt. Cảm động,
    ngài thương tiếc nó quá; nhưng quân gia cố khiêng nó mãi mà cũng vô hiệu! Khi bình xong giặc
    Mông Cổ, ngài trở về với tiếng khải ca, thì con voi ấy đã chết từ lâu vì bị lụt dưới lần nước thủy
    triều ồ ạt. Ngài bùi ngùi thương cảm, rồi sai xây một con voi gạch ở bến sông để kỷ niệm con
    nghĩa thú ấy. Hiện nay, con voi gạch này hãy còn ngạo nghễ với gió sương, đứng gần sông Hóa,
    nên người đời gọi chỗ ấy là “Bến voi”.
    Vì ngài suốt đời tận tụy, tinh trung báo quốc, mấy phen đánh dẹp Mông Cổ, giữ vững độc lập,
    tự do cho nước nhà, nên khi sinh thời, chính vua Trần Thánh Tôn tự làm bài văn bia ở đền Sinh
    Từ thờ sống ngài, sánh ngài với Thái công thượng phụ nhà Chu.

    Ngày 20 tháng Tám năm Canh Tý (năm 1300), Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn mất tại
    tư gia ở Vạn Kiếp. Vua Trần Anh Tôn sai dựng miếu thờ ngài tại Thiên Trường (nay là Xuân
    Trường, Nam Định), sắc phong làm “Thái sư thượng phụ, Thượng quốc công, Bình Bắc đại
    nguyên soái, Long công, Thịnh đức, Vĩ liệt, Hồng huân, Nhân vũ Hưng Đạo đại vương”, chính
    nhà vua tự làm bài văn bia để tỏ lòng nhớ ơn, mến đức.
    Khi nằm bệnh, ngài có đinh ninh dặn bảo vua Trần Anh Tôn những phép dùng binh, giữ nước
    (sẽ nói kỹ ở chương mười).
    Trước khi mất, ngài có trối trăng cùng các con: “Ta chết rồi thì phải hỏa táng, lấy một thứ đồ
    hình tròn(18) mà chứa hài cốt, bí mật chôn ở trong vườn An Lạc(19) rồi san đất phẳng, trồng cây
    lên trên như cũ, không cho ai biết mả chôn ở đâu và cần chóng nát(20).”
    Ấy cũng là một việc chứng tỏ ngài có tính hay lo xa và rất tinh tế(21).
    Nay, đền thờ ngài ở Kiếp Bạc, tức là chỗ nhà ngài ở lúc sinh thời.
    Kiếp Bạc không những là ngôi đền chung của hai xã Vạn Yên và Dược Sơn thuộc huyện Chí
    Linh tỉnh Hải Dương, mà lại là cái “đài công cộng” của dân tộc Việt Nam kỷ niệm vị đại anh
    hùng đã “bình giặc Ngô thanh kiếm bạc” và “đưa một nước khỏi nô lệ” ấy.

    Chương Nhì: Lực lượng và tinh thần quân đội dưới
    quyền Trần Quốc Tuấn

    Muốn rõ võ công của Trần Hưng Đạo, tất trước phải xét đến lực lượng binh bị, tổ chức quân
    sự và tinh thần quân nhân đương thời.
    Theo các sử cũ, sách xưa, thì binh chế đầu đời Trần đại khái như thế này:
    Toàn thư, quyển 5; Cương mục, quyển 6 có chép:
    Tháng ba, năm Kỷ Hợi(22) (1245), tuyển trai tráng làm binh lính, chia ra ba bậc thượng, trung
    và hạ.
    Tháng hai, năm Tân Sửu(23) (1247), tuyển những người có sức mạnh, am hiểu võ nghệ, sung
    làm Thượng đô túc vệ (Toàn thư, quyển 5, tờ 12a);
    Cương mục, quyển 6, tờ 20b-21a chép:
    Tháng hai, năm Bính Ngọ (1246), biên định quân ngũ:
    Lựa những người khỏe mạnh sung vào quân Tứ thiên, quân Tứ thánh, quân Tứ thần(24).
    Các lộ Thiên Trường(25) và Long Hưng đặt làm quân Nội Thiên thuộc, quân Thiên cương,
    quân Chương thánh, quân Củng thần.
    Các lộ Hồng (nay là Hải Dương), Khoái (nay thuộc Hưng Yên) đặt làm quân Tả Thánh dực và
    Hữu Thánh dực.
    Các lộ Trường Yên (nay thuộc Ninh Bình), Kiến Xương (nay thuộc Thái Bình) đặt làm quân
    Thánh dực, quân Thần sách.
    Còn thì sung làm Cấm vệ; ba bậc Cấm quân sung làm đoàn đội trạo nhi (tay chèo thuyền)(26).
    Tháng hai, năm Tân Dậu (1261), tuyển dân đinh các lộ; phàm người khỏe thì cho làm binh
    lính; còn thì sung làm sắc dịch ở các sảnh, viện, cục và làm đội tuyển phong ở các lộ, phủ, huyện
    (Cương mục, quyển 7, tờ 1b).
    Tháng tám, năm Đinh Mão (1267), chế định quân ngũ.
    Quân gồm 30 đô, mỗi đô có 80 người; tuyển trong họ tông thất lấy người thông võ nghệ, sáng
    binh pháp để coi quản (Toàn thư, quyển 5, tờ 31a-b).
    Ngoài ra còn có quân Tứ xương là những binh lính phải thay phiên nhau, canh giữ bốn cửa
    ngoài thành. Song, hạng quân Tứ xương này không bì được với quân Cấm vệ (Cương mục,
    quyển 6, tờ 9a).
    Khi đánh Mông Cổ lần đầu (Đinh Tỵ, 1257), nhà Trần còn có quân “Tinh cương”, nên vua
    Trần Thái Tôn có hỏi Thái úy Trần Nhật Hiệu rằng “quân Tinh cương ở đâu?”
    Mục “Binh chế” trong An Nam chí lược (quyển 14, tờ 6a-7a) của Lê Tắc có chép: Quân không
    có số nhất định (định tịch) tuyển những người khỏe mạnh trong dân đinh làm lính. Năm người
    là một ngũ; mười ngũ là một đô. Lại cân nhắc lựa lấy hai người lanh lẹ, tài tuấn cho giữ việc rèn
    luyện võ nghệ(27). Lúc điều động thì gọi ra lính, lúc yên hàn thì cho về làm ruộng.
    Các ngạch quân chia làm thân quân, du quân, và vương hầu gia đồng.
    Thân quân:
    1) Thánh dực đô,
    2) Thần dực đô,

    3) Long dực đô,
    4) Hổ dực đô,
    5) Phụng nha quan chức lang.
    (Từ đây trở lên đều có tả hữu cả)(28).
    Du quân:
    1) Thiết lâm đô,
    2) Thiết hạm đô,
    3) Hùng hổ đô,
    4) Vũ an đô.
    Vương hầu gia đồng:
    1) Toàn hầu đô,
    2) Dược đồng đô,
    3) Sơn liêu đô.
    ……
    Căn cứ vào các sử liệu trên đây và “Binh chế chí” trong Lịch triều hiến chương của Phan Huy
    Chú, ta có thể tóm tắt sơ qua về binh chế hồi đầu Trần.
    1. Số lượng – Mỗi quân có hai nghìn bốn trăm người. Kể cả các quân Cấm vệ và các lộ. Lúc
    thường có lẽ không đầy mười vạn. Nhưng khoảng niên hiệu Thiệu Bảo (1279-1284), vì có cuộc
    chiến tranh tự vệ, số quân sĩ được điều động có tới hai mươi vạn (200.000) người (1284). Dẫu
    vậy, đó chỉ là những quân lấy ở các lộ Đông, Nam, chứ bấy giờ từ Thanh Hóa trở vào hãy còn
    chưa hề tuyển đến. Cho nên, vua Trần Nhân Tôn có câu thơ rằng:
    “Cối Kê cựu sự, quân tu ký;
    Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh.”(29)
    Ý nói: Anh nên nhớ chuyện Việt Câu Tiễn xưa; chỉ còn năm nghìn giáp, thuẫn, trú đậu ở Cối
    Kê, thế mà, về sau, diệt được nước Ngô, rửa được hờn nước; huống chi ta nay ở Thanh Hóa và
    Nghệ An còn có tới mười vạn quân chưa gọi đến.
    Còn chế độ Cấm quân thì từ đời Trần Thái Tôn đã đặt, sau đó lại có tăng thêm, nhưng thực số
    là bao nhiêu, không thể khảo được.
    2. Tổ chức – Về bộ binh, bấy giờ có quân Cấm vệ và quân các lộ như ta đã biết. Còn chu sư thì
    có “đoàn đội trạo nhi” là những tay chèo lái thuyền trận; thuyền trận thì có những danh hiệu
    như: “Kim phượng”, “Nhật quang” và “Nguyệt quang”… mà tháng mười năm Tân Sửu(30)
    (1247), chính vua Trần Thái Tôn đi tuần lược nơi biên thùy, đã đem những thuyền ấy vào tận
    mấy trại Vĩnh An và Vĩnh Bình thuộc đất nước Tống. (Toàn thư, quyển 5, tờ 12b; Cương mục,
    quyển 6, tờ 21a-b).
    Quân đội: Hoặc tuyển trong đinh tráng lựa lấy những người có sức mạnh, am hiểu võ nghệ;
    hoặc bắt những người giàu có khỏe mạnh mà không có quan tước thì sung làm quân, đời đời
    phải đi lính(31) (Toàn thư, quyển 5, tờ 4b-5a).
    Binh phục bấy giờ thế nào, không thấy sử chép; song nhân việc đạo quân của Trần Khánh Dư
    ở Vân Đồn(32) có đội nón ma lôi(33), có thể đoán rằng quân sĩ đương thời đều có đội nón.
    Các vương hầu cũng được phép mộ trai tráng dân gian làm quân lính, nên năm Quý Mùi
    (1283) các vương Quốc Hiến, Quốc Tảng… đều đốc suất quân các xứ Bàng Hà(34), Na Sầm(35),

    An Sinh, Long Nhãn(36)… đến hội ở Vạn Kiếp.
    Các vương hầu lại còn có ngạch “gia đồng”, đặt dưới danh hiệu là Toàn hầu đô, Dược đồng đô
    và Sơn liêu đô như trên đã nói. Chứng cớ là Trần Quốc Toản đã tự động tổ chức lấy đạo quân
    gia đồng hơn nghìn người gồm cả gia nô và thân thuộc (tháng mười, năm Nhâm Ngọ, tức năm
    1282) để đánh Mông Cổ.
    Cấp tướng coi quản các quân các đô phải là người trong họ tông thất, mà phải thông võ nghệ
    và sáng binh pháp.
    Đứng đầu bộ chỉ huy là “Tiết chế”. Tiết chế được thống lĩnh hết cả thủy bộ chư quân trong
    nước; nhưng không phải là một chức chính, mà chỉ là cầm quyền “đổng tổng”, điều khiển chỉ
    huy toàn thể bộ máy quân sự, như một vị Tổng Tư lệnh ngày nay.
    Các tướng quân thì có Phiêu kỵ tướng quân, là chức riêng phong cho các hoàng tử. Còn thì
    Trấn quốc tướng quân, Phó tướng quân, Cấm vệ tướng quân, Chư vị tướng quân,… đều coi giữ
    việc binh cả.
    Kỷ luật rất nghiêm; kẻ nào đào ngũ, bắt được thì chặt ngón chân; nếu còn cứ cam tâm lại trốn
    thì có khi phải tội voi giày.
    Noi theo phép đời Lý, Trần cũng cấp tuế bổng cho quân Túc vệ; còn quân các đạo thì khi yên
    hàn, cho chia phiên nhau về làm ruộng để đỡ tốn công khố(37).
    Tổ chức binh bị hồi Trần sơ đại để là, lúc bình, tuyển theo ngạch số đã định, lúc có chiến
    tranh, cứ chiếu sổ đinh, gọi tất cả trai tráng ra lính, ai cũng là quân cùng nhau góp sức chống
    giặc. Cho nên Cương mục, quyển 6, tờ 27b đã dựa vào tài liệu của Lịch triều hiến chương mà kết
    luận rằng: “Khi vô sự thì cho tản về làm ruộng nơi đồng nội; lúc có việc thì toàn dân là quân
    lính cả.”
    3. Trình độ văn hóa – Từ trước, theo pháp chế đã đặt, quân sĩ Thiên Thuộc(38) không được
    tập văn nghệ, là vì “sợ đói hơi kém sức”(39). Đến tháng giêng, năm Tân Tỵ (1281), tuy lập
    trường học ở phủ Thiên Trường, nhưng vẫn cấm người làng Thiên Thuộc không được vào học,
    là có ý “chuộng sức mạnh”(40).
    Nên chú ý: cái lệ trên đây chỉ áp dụng cho hạng quân Thiên Thuộc, chứ đối với quân sĩ các lộ
    khác, không thấy hạn chế như thế.
    Các cấp tướng tá dưới quyền tiết chế của Hưng Đạo vương không biết có được tập “văn
    nghệ” hay không, có điều chắc chắn là họ tất có được học, nên khi dụ bảo họ, ngài mới viết hịch
    bằng Hán văn mà cũng có thể thông dụng được. Nhưng chắc họ cũng chỉ thiệp liệp(41) kinh sử,
    học hành ít nhiều, chứ không được tinh thông “văn nghĩa” cho lắm; chẳng thế; trong bài hịch
    ngài đã phải nói: “Nhữ đẳng thế vi tướng chủng, bất hiểu văn nghĩa, ký văn kỳ thuyết nghi tín
    tướng bán...”. (Các người nối đời, làm con nòi nhà tướng, không thông hiểu văn nghĩa, nghe lời
    ta nói, nửa tin, nửa ngờ...).
    Rồi trong bài hịch ấy, ngài khuyên họ rèn luyện quân lính, tập tành cung tên, khiến mỗi người
    là một Bàng Mông(42); mỗi nhà một Hậu Nghệ(43)... (Huấn luyện sĩ tốt, tập nhĩ cung thỉ, sử nhân
    nhân Bàng Mông, gia gia Hậu Nghệ...)(44).
    Mấy chứng cớ ấy tỏ rằng tướng sĩ đứng dưới bóng cờ Trần Hưng Đạo bấy giờ chuộng võ hơn
    chuộng văn, trọng thực hành hơn nói suông lý thuyết.
    4. Tinh thần chiến đấu − Khi giặc Mông Cổ sang lấn cướp, quân sĩ đương thời, do máu nóng
    sôi nổi yêu nước và tấm lòng kiên quyết giết giặc, đã tự động thích trên cánh tay(45) hai chữ
    “sát Thát” (殺韃)(46), rồi đổ mực cho cái “tiêu ngữ” ấy lúc nào cũng nổi bật lên với “lòng hứa
    quốc thắm son”.
    Sử chép ngày 12, tháng giêng, năm Ất Dậu (1285), giặc Nguyên phạm Gia Lâm, Vũ Ninh và
    Đông Ngạn (đều thuộc Bắc Ninh), bắt được quân ta, thấy trên cánh tay họ đều có thích mực hai

    chữ “sát Thát”. Chúng cả giận chém giết rất nhiều.
    Giặc Nguyên kéo đến Đông Bộ Đầu(47) dựng lá cờ đại ở đấy.
    Chi hậu cục thủ Đỗ Khắc Chung được cử đi sứ, đem quốc thư đến chỗ Ô Mã Nhi đóng mà xin
    hòa (hoành thành) để dò xem tình hình hư thực bên địch.
    Ô Mã Nhi vặn hỏi Khắc Chung: “Quốc Vương vô lễ, bảo người thích chữ “sát Thát”, khinh lờn
    thiên binh: lỗi ấy to lắm!”.
    Khắc Chung đáp: “Chó nhà cắn người lạ, có phải là chủ xui đâu. Do lòng trung phẫn, họ tự
    thích chữ đấy thôi. Quốc Vương không biết đến việc đó. Tôi đây là một cận thần, sao lại riêng
    không thích chữ?”.
    Nói dứt, Khắc Chung liền vén cánh tay, chìa cho Ô Mã Nhi xem(48).
    Xét việc thích chữ “sát Thát” và việc tiểu tốt Trần Lai chia xẻ miếng cơm hẩm với vua Trần
    Nhân Tôn trong khi nhà vua phải chạy ra Hải Đông, đói lòng từ sáng sớm đến chiều tối (26,
    tháng chạp, năm Quý Mùi, 1283) để kháng chiến Mông Cổ, đủ thấy quân nhân hồi đầu Trần hầu
    hết là những người đã có tinh thần chiến đấu, lại giàu cảm tình.
    Dẫu vậy, trong lúc giặc ngoài đang uy hiếp, dưới cờ Trần Hưng Đạo không phải không có một
    số tướng sĩ xao lãng chức vụ quân nhân, hoặc mua vui bằng cờ bạc, chọi gà, hoặc tiêu khiển
    bằng rượu ngon, hát ngọt, nên ngài mới phải răn dạy khuyên lơn trong bài hịch văn. Nhưng, khi
    họ đã chịu ảnh hưởng đầy đủ và được huấn luyện thành thuộc rồi thì có thể nói họ là những
    tinh binh có thừa năng lực để chiến thắng giặc Nguyên trong mấy cuộc chiến tranh tự vệ.
    Chứng cớ là, hồi tháng một năm Đinh Hợi (1287), Trần Hưng Đạo đã trả lời những ai xin tuyển
    thêm binh: “Binh cốt ròng (tinh) không cốt nhiều; nếu nhiều mà không ròng thì dẫu như Bồ
    Kiên có trăm vạn quân, phỏng có ích gì?” Thế là quân đội hồi đầu Trần đã trội về phẩm, không
    phải trội về lượng. (Xin coi thêm “Bảng kê những phần tử đã hi sinh trong mấy cuộc kháng
    Nguyên” ở cuốn sách).

    Chương Ba: Xã hội và sinh hoạt dân chúng trước
    khi kháng Nguyên

    Muốn rõ trạng thái xã hội và trình độ sinh hoạt của dân chúng hồi đầu Trần trước khi có mấy
    cuộc ngoại xâm dồn dập, nay cần phải xét qua các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội và văn
    hóa ở đương thời.
    CHÍNH TRỊ
    Lên thay triều Lý (1010-1225), gánh việc giữ nước chăn dân từ năm Ất Dậu (1225), nhà Trần
    về mọi phương diện, đều có tổ chức.
    Cũng đóng đô ở Thăng Long, nhà Trần chia trong nước làm 12 lộ(49). Lại có phủ, châu và
    trấn(50) đặt thuộc vào lộ. Nơi biên viễn, gọi là trại(51). Đơn vị dưới cùng là xã và sách(52).
    Khi thái tử đã có năng lực chăm lo việc nước thì vua cha nhường ngôi cho con, xưng là
    “Thượng hoàng”, để con tập sự cho quen mọi việc quân quốc, nhưng phàm vấn đề gì quan
    trọng vẫn do Thượng hoàng giải quyết. Thượng hoàng gọi vua con là “Quan gia”. Nhân dân gọi
    vua là “Quốc gia”.
    Cũng như các nước quân chủ ở đương thời, chính thể đời Trần là chính thể phong kiến.
    Đầu thang giai cấp trong xã hội là Thiên tử, dưới là thứ dân, cùng tột là nô, tì và hoành(53).
    Tước phong thì có đại vương, vương, quốc công, công và hầu...
    Thái ấp thì có như An Phụ, An Dưỡng, An Sinh(54) và An Bang(55) là ấp phong của Trần Liễu...
    Nhà Trần lấy nhân hậu, thân dân làm cơ bản chính trị.
    Năm Tân Hợi (1251), niên hiệu Nguyên Phong thứ nhất, Trần Thái Tôn (1225-1258) chính
    tay viết bài minh ban cho các hoàng tử, dạy những điều trung (trung thực), hiếu (hiếu thảo),
    hòa (hòa thuận), tốn (khiêm nhún), ôn (ôn tồn), lương (hiền lương), cung (cung kính), kiệm
    (tiết kiệm), (Toàn thư, quyển 5, tờ 17a).
    “Đầu đời Trần chỉ đánh thuế má vào điền thổ, còn hạng dân đinh cùng túng thì đều được
    miễn. Đối với những người nghèo khó yếu đuối, tỏ ra thương xót, khoan dung, thật là thiện
    ...
     
    Gửi ý kiến

    “Nếu bạn muốn đạt được bất cứ điều gì trong cuộc sống, bạn phải đọc rất nhiều sách.” – Roald Dahl

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TRUNG HỌC THỰC HÀNH SÀI GÒN !