BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Viếng Lăng Bác - Bài giảng

    hay-tra-loi-em-tai-sao-tap-1

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 08h:28' 05-03-2024
    Dung lượng: 4.3 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM

    Hãy trả lời em tại sao?. T.1 / Đặng Thiên Mẫn d. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
    192tr. ; 19cm.
    1. Khoa học thường thức. 2. Hỏi và đáp. I. Đặng Thiên Mẫn d.
    001 -- dc 22
    H412

    đặng thiền mẫn dịch

    hãy trả lời em tại sao?
    tập 1
    arkady keokum
    Đặng Thiền Mẫn dịch

    Chịu trách nhiệm xuất bản:
    ts. quách thu nguyệt
    Biên tập:
    trí vũ - thu nhi
    Xử lý bìa:
    bùi nam
    Sửa bản in:
    trí vũ - thu nhi
    Kĩ thuật vi tính:
    vũ phượng
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
    161B Lý Chính Thắng - Quận 3 - Thành phố Hồ Chí Minh
    ĐT: 39316289 - 39316211 - 38465595 - 38465596 - 39350973
    Fax: 84.8.38437450 - E-mail: nxbtre@ hcm.vnn.vn
    Website: http://www.nxbtre.com.vn
    Chi nhánh nhà xuất bản trẻ tại Hà Nội
    20 ngõ 91, Nguyễn Chí Thanh, Quận Đống Đa - Hà Nội
    ĐT & Fax: (04) 37734544
    E-mail: vanphongnxbtre@ hn.vnn.vn

    4

    Chương 1

    Thế giới chúng ta

    1

    Vũ trụ lớn cỡ nào?

    Trí khôn của loài người không thể hình dung đúng được
    tầm vóc của vũ trụ. Chẳng những không thể biết mà ngay
    cả hình dung ra nó lớn bằng nào cũng đã là khó rồi.
    Xuất phát từ trái đất, ta sẽ thấy tại sao lại như vậy. Trái
    đất là một phần - và cũng chỉ là phần nhỏ li ti mà thôi - của
    hệ mặt trời bao gồm mặt trời, các hành tinh xoay quanh
    nó, các tiểu hành tinh và các thiên thể khác. Toàn thể hệ
    mặt trời “của chúng ta” cũng chỉ là một phần - và cũng chỉ
    là một phần nhỏ tí ti mà thôi - của một hệ thống khác lớn
    hơn gọi là thiên hà (hay dải ngân hà). Thiên hà là một hệ
    thống gồm hàng triệu các vì sao, trong đó có nhiều vì sao
    lớn hơn mặt trời “của chúng ta” bội phần. Và các vì sao này
    cũng có hệ mặt trời riêng của nó.
    Các vì sao mà ta thấy trong
    thiên hà “của chúng ta” cũng đều
    là những mặt trời cả. Chúng ở cách
    xa chúng ta đến nỗi không thể

    5

    dùng đơn vị đo chiều dài thông thường như dặm (mile) hay
    kilomet (km) mà phải dùng đơn vị “năm ánh sáng”. Để hiểu
    được một năm ánh sáng dài bao nhiêu km, bạn hãy cứ lấy
    300.000 km nhân với số giây trong một năm. Nếu bạn thích
    thích thì con số ấy được biểu diễn bằng toán học như thế
    này: 9.461x1012 km. Bạn tính ra đi. Ngôi sao gần trái đất nhất
    tên là Alpha centauri - xin nhắc lại, gần trái đất nhất - cũng
    ở cách ta 4,3 năm ánh sáng.
    Thiên hà “của chúng ta” có hình dạng và kích thước bằng
    nào? Nó có hình cái dĩa, hơi phình ở trung tâm, có đường
    kính khoảng 100.000 năm ánh sáng và bề dày ở trung tâm
    khoảng 20.000 năm ánh sáng. Tuy nhiên dải thiên hà “của
    chúng ta” cũng lại chỉ là một phần tí ti của một hệ thống
    khác lớn hơn. Ngoài hệ thống thiên hà “của chúng ta” còn
    triệu triệu hệ thống thiên hà khác nữa...
    Bởi vậy ta mới hiểu tại sao ta không thể nào hình dung
    được tầm cỡ của vũ trụ. Đã thế, các nhà khoa học còn cho
    rằng vũ trụ đang “nở” rộng. Có nghĩa là chỉ trong vài tỷ năm
    thì hai thiên hà có thể dang xa nhau ra một khoảng cách
    gấp hai lần khoảng cách trước đó.

    2

    Tại sao hệ mặt trời
    được cấu trúc như hiện nay?

    Như ta biết không nhất thiết hệ mặt trời phải có cấu
    trúc như hiện nay. Nó có thể được sắp xếp theo kiểu khác
    6

    lắm chứ. Trong vũ trụ, có nhiều
    hệ mặt trời có sự sắp xếp khác
    với hệ mặt trời “của chúng ta”.
    Sự sắp xếp của mỗi hệ mặt trời
    - kiểu này, kiểu kia - tùy thuộc
    lúc ban đầu.
    Loài người đã phát kiến ra
    vài quy luật theo đó đã khiến
    cho hệ mặt trời “của chúng ta” được sắp xếp theo kiểu hiện
    nay. Trái đất cũng như những hành tinh khác di chuyển theo
    quỹ đạo quanh mặt trời. Thời gian cần thiết để trái đất quay
    đủ một vòng quanh mặt trời là một năm. Những hành tinh
    khác trong hệ mặt trời có quỹ đạo lớn hơn hoặc nhỏ hơn
    quỹ đạo trái đất. Các nhà thiên văn chưa giải thích một cách
    thỏa đáng sự hình thành của mặt trời cũng như bằng cách
    nào các hành tinh lại có tầm cỡ đó, ở vị trí đó, theo quỹ
    đạo đó. Các nhà bác học đã đưa ra nhiều giả thuyết nhằm
    giải thích các hiện tượng đó. Tuy nhiên, có thể quy các giả
    thuyết đó thành hai nhóm.
    Nhóm giả thuyết thứ nhất cho rằng các hành tinh là một
    phần của sự thay đổi lần lần của mặt trời từ một khối hơi
    nóng tự xoay quanh mình mà có có tầm vóc và độ sáng
    như hiện nay.
    Nhóm giả thuyết thứ hai cho rằng vào thời rất xa xưa,
    có một ngôi sao nào đó tình cờ bay sớt ngang mặt trời, làm
    cho vài mảnh mặt trời bắn văng ra, sau đó các mảnh này
    7

    tiếp tục chuyển động xoay quanh mặt trời, rồi từ từ nguội
    đi và thành các hành tinh.
    Bất kể nhóm giả thiết nào đúng thì cũng có thể nói hệ
    mặt trời được sắp xếp như hiện nay cũng là do ít nhiều may
    mắn. Tại sao hệ mặt trời lại được sắp xếp như vậy? Định luật
    Kepler về sự chuyển động của hành tinh phát biểu rằng: “Quỹ
    đạo của mỗi hành tinh là một hình bầu dục mà mặt trời là
    một tiêu điểm” và rằng “hành tinh chuyển động nhanh hơn
    khi nó ở gần mặt trời và chậm hơn khi nó ở xa”. Nghĩa là
    có tương quan tỷ lệ giữa khoảng cách và thời gian giữa vị
    trí của mặt trời và của hành tinh. Định luật Newton về vạn
    vật hấp dẫn giải thích hai vật hấp dẫn nhau như thế nào.
    Với các định luật nêu trên, ta có thể hiểu được tại sao hệ
    mặt trời lại được sắp xếp như vậy.

    3

    Cái gì khiến mặt trời tỏa sáng và
    tỏa nhiệt?

    Nhìn ngôi sao ban đêm và mặt trời ban ngày, ta khó mà
    tin được đó là cùng một loại thiên thể.
    Mặt trời đích thị là một ngôi sao, ngôi sao gần trái đất
    nhất. Có thể nói đời sống vạn vật trên trái đất lệ thuộc chặt
    chẽ vào mặt trời. Không có sức nóng của mặt trời, sự sống
    không thể khởi phát được. Mà dầu cho có khởi phát được
    thì cũng không thể tồn tại được. Không có ánh sáng mặt
    trời thì làm gì có cây cỏ. Nếu như không có cây cỏ thì loài
    8

    người, loài vật lấy gì mà ăn? Mặt trời ở cách xa trái đất khoảng
    149.500.000 km. Thể tích mặt trời lớn hơn 1,3 triệu lần thể
    tích trái đất. Điều thú vị là mặt trời chỉ là khối hơi khổng lồ
    chớ không phải là thể rắn như trái đất. Bằng cách nào dám
    quả quyết mặt trời chỉ là một khối hơi? Nhiệt độ bề mặt của
    mặt trời vào khoảng 6.5000C. Nhiệt độ này chẳng những đủ
    để làm nóng chảy mà còn làm bốc hơi bất cứ thứ kim loại,
    hoặc thứ đá nào.
    Vậy mặt trời là một khối hơi không phải là một khẳng
    định võ đoán đâu.
    Thời trước các nhà khoa học cho rằng sở dĩ mặt trời tỏa
    sáng tỏa nhiệt là nhờ đốt cháy nguyên liệu gì đó. Nhưng
    đâu phải mặt trời mới chiếu sáng và tỏa nhiệt mới vài triệu
    năm trước đây mà nó đã như vậy hàng trăm triệu năm rồi.
    Vậy thì nguyên liệu chất chứa ở đâu mà lôi ra đốt dữ vậy?
    Ngày nay các nhà khoa học tin rằng nhiệt và quang của
    mặt trời là kết quả của quá trình giống như quá trình xảy
    ra khi nổ bom nguyên tử, nghĩa là quá trình vật chất biến
    thành năng lượng.
    Hiện tượng biến đổi này khác với hiện tượng đốt cháy.
    Đốt cháy là vật chất từ dạng này biến thành dạng khác. Thí
    dụ củi biến thành tro chẳng hạn. Nhưng khi vật chất biến
    thành năng lượng thì chỉ cần rất ít cũng có thể biến thành
    năng lượng khổng lồ. Một ounce (tức 28,35 gram) vật chất
    có thể tạo ra một năng lượng đủ để làm tan chảy một triệu
    tấn đá.
    9

    Vậy, nếu giả thiết này đúng thì mặt trời thường xuyên
    phát quang và tỏa nhiệt từ hồi nào tới giờ nhưng đâu có
    hao hớt gì bao nhiêu khối lượng của nó. Người ta ước tính
    rằng chỉ dùng chưa tới một phần trăm khối lượng của mình,
    mặt trời có thể liên tục phát quang và tỏa nhiệt trong vòng
    150 tỷ năm.

    4

    Trái đất làm bằng gì?

    Câu trả lời khái quát nhất cho câu hỏi này có lẽ là: trái
    đất là một quả banh hầu như làm bằng đá... Xin nói rõ: đá
    xanh chứ không phải nước đá đâu. Bên trong lòng trái đất
    đá nóng chảy nhưng vỏ ngoài thì đông đặc. Chưa tới một
    phần ba bề mặt trái đất là lục địa, phần còn lại được bao
    phủ bằng nước.
    Đi sâu vào chi tiết hơn nữa ta sẽ thấy bề mặt trái đất
    có lớp vỏ hơi gồ ghề làm bằng đá dày vào khoảng từ 20
    đến 50 km. Lớp vỏ mỏng này gọi là thạch quyển. Phần
    nổi của cái vỏ này là các lục địa và hải đảo, thấp hơn một
    chút là lớp nước của các đại dương, biển, hồ... Lớp nước
    này gọi là “thủy quyển”. Con người mới chỉ khảo sát được
    sơ sơ phía ngoài cùng của cái vỏ đá địa cầu mà thôi. Nếu
    đào sâu vào lòng đất - mặc dù đã phải sử dụng những
    phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất - vài ba km cũng đã
    là một công trình khó khăn lắm lắm đối với con người.
    Nhưng cũng chưa phải là cái gì ghê gớm lắm đâu. Vì so với
    bề dày của vỏ trái đất thì lỗ khoan đó chưa thấm tháp gì.
    10

    Sợ chưa bằng vết trầy trên da người ta nữa. Tuy nhiên, có
    điều này đáng để ý: càng đào sâu vào lòng đất thì nhiệt
    độ càng tăng. Đào sâu vào khoảng 3 km thì nhiệt độ ở đó
    đã đủ để đun nước sôi rồi.
    Các nhà khoa học vẫn có thể nghiên cứu, khảo sát lòng
    trái đất thông qua cơ chế động đất. Họ tin rằng ở dưới sâu
    trong lòng đất nhiệt độ có tăng nhưng không tăng lẹ như
    ở phía ngoài gần vỏ. Vì vậy, họ cho rằng ở nhân - hay trung
    tâm trái đất - nhiệt độ không quá 55000C. Tất nhiên, nhiệt
    độ này cũng là quá cao rồi, bởi vì mới ở chỉ khoảng 22000C
    thì đá đã nóng chảy rồi.
    Vỏ ngoài của trái đất gồm hai lớp. Lớp ngoài cùng tức là
    các lục địa chủ yếu được cấu tạo bằng đá hoa cương (granite).
    Dưới lớp đá hoa cương là lớp đá rất cứng gọi là đá badan
    (basalt). Theo các nhà khoa học thì trung tâm trái đất là trái
    banh khổng lồ làm bằng sắt nóng chảy có đường kính vào
    khoảng 6500 km. Nằm lót giữa trung tâm này và lớp vỏ đá
    là một lớp bao gọi là “manti” (mantle) dày vào khoảng 3200
    km. Bao “manti” có lẽ là một loại đá gọi là “ôlivin” (olivine).

    5

    Chòm sao là gì?

    Nhìn bầu trời đêm không mây thấy các vì sao lấp lánh,
    từ một vì sao bạn kẻ một đường thẳng hoặc một đường
    cong đến một vì sao khác, một số vì sao nữa... Các nét vẽ ấy
    có thể tạo thành đường nét của một mẫu tự (chữ M chẳng
    11

    hạn). Hầu như từ thời rất xa xưa, con người đã làm như vậy
    và đặt tên cho các nhóm sao mà họ quan sát. Nhóm sao đó
    gọi là chòm sao.

    Tên các chòm sao mà ta dùng ngày nay đã có từ thời
    La Mã cổ. Những người La Mã cổ này dùng lại các tên
    của người Hy Lạp trước đó. Và người Hy Lạp cổ thì cũng
    dùng lại một số tên của người Ba-bi-lon trước đó nữa.
    Người Ba-bi-lon đặt tên các chòm sao dựa trên hình dạng
    các con vật, các vua, các hoàng hậu hoặc các anh hùng
    theo thần thoại của họ. Người Hy Lạp đã đổi nhiều tên
    Ba-bi-lon thành tên các vị thần và anh hùng của họ, chẳng
    hạn như Hec-quyn, Ô-ri-ông, Péc-xê. Người La Mã lại đổi tên
    các vị thần của Hy Lạp thành tên các thần của họ. Tuy nhiên
    một số tên cổ vẫn còn được giữ lại. Tuy nhiên thật khó mà
    nhận ra hình dạng chòm sao nếu mà dựa vào tên của chúng.
    Chẳng hạn chòm sao “thiên lang”, chòm sao “chó lớn”, chòm
    sao “chó con”, thật khó mà hình dung ra hình chim ưng, hình
    chó lớn, chó con ở những chòm sao đó.
    12

    Khoảng 150 năm sau Công nguyên, nhà thiên văn học rất
    nổi tiếng thời bấy giờ là Ptô-lê-mê đã liệt kê 48 chòm sao
    mà ông biết. Danh sách này không bao gồm hết các chòm
    sao nhìn thấy được trên bầu trời. Và có nhiều điểm còn để
    trống. Về sau các nhà thiên văn đã thêm vào danh sách của
    Ptô-lê-mê nhiều chòm sao khác nữa. Một vài chòm được đặt
    tên theo các ứng dụng thiên văn như “kính lục phân”, “cái
    compa”, “kính thiên văn”. Ngày nay, trên nền trời, các nhà
    thiên văn liệt kê được 58 chòm sao.
    Chòm sao thật ra là một khoảng không gian rất rộng trên
    nền trời. Có thể hình dung một ngôi sao nằm trong chòm
    sao như một đô thị, một thị xã trong một bản đồ quốc gia
    chẳng hạn. Đường biên của các chòm sao cũng giống như
    đường biên giữa các nước, nghĩa là rất nhấp nhô chứ không
    thẳng băng như vạch thước kẻ. Nhưng từ năm 1928, các
    nhà thiên văn đã quy ước vạch theo đường thẳng để làm
    đường biên cho các chòm sao.

    6

    Thiên hà là gì?

    Trên bầu trời có lẽ không có cái gì là bí hiểm và đáng
    ngạc nhiên cho bằng “thiên hà” (hay còn gọi là dải ngân
    hà). Nó giống như một chuỗi hạt ngọc vắt ngang bầu trời.
    Thời xa xưa, nhìn ngắm hiện tượng này, con người đã hết
    sức kinh ngạc. Họ không hiểu thực chất của nó là gì nên họ
    13

    thêu dệt cho nó đủ thứ chuyện, gán cho nó đủ thứ lạ lùng
    đẹp đẽ mà con người có thể hình dung ra được. Thời trước
    Công nguyên, người ta cho rằng dải ngân hà chính là con
    đường của các thiên thần. Bởi vậy, con người có thể lên trời
    bằng con đường ấy. Hoặc họ tưởng tượng đó là cái “kẽ hở”
    của trời để qua đó, đứng dưới đất, con người có thể chiêm
    ngưỡng được vinh quang thiên quốc.
    Nếu hiểu đúng thực chất của hiện tượng thiên hà thì
    chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Điều đáng ngạc nhiên là những
    ý tưởng của người ta gán cho nó.
    Thiên hà “của chúng ta” có dạng cái dĩa, nghĩa là hơi tròn
    và dẹp, hơi phình lên ở trung tâm. Nếu có thể trèo lên ở
    trên cao phía trên thiên hà để từ đó nhìn xuống thì sẽ thấy
    dạng hình tròn của nó. Nhưng vì đang ở trong thiên hà, ta
    có nhìn lên thì cũng chỉ là nhìn từ phía trong ra ngoài rìa
    của thiên hà. Vì vậy ta mới thấy thiên hà có hình cong vây
    lấy ta. Cái dải sáng lờ mờ trên nền trời ban đêm mà ta gọi
    là thiên hà cũng chính là hàng triệu triệu các vì sao.
    Bạn nên biết rằng trong thiên hà ấy có ít nhất cũng khoảng
    ba tỷ ngôi sao. Để hình dung ra bề rộng của thiên hà, ta
    phải dùng đơn vị đo là năm ánh sáng. Chẳng hạn, một tia
    sáng từ lúc phát ra từ trung tâm thiên hà cho đến lúc lọt
    vào mắt ta phải mất xấp xỉ 50 ngàn năm. Tốc độ ánh sáng
    là bao nhiêu km/s thì bạn biết rồi đó. Bạn thử làm tính xem
    từ trung tâm thiên hà đến trái đất là bao xa rồi từ đó tính
    14

    ra đường kính của thiên hà là bao nhiêu km. Thiên hà xoay
    quanh tâm của nó như một cái bánh xe. Môt vòng xoay của
    nó chỉ mất độ chừng 200 triệu năm!

    7

    Ngôi sao sáng nhất?

    Ngôi sao mà bạn nhìn thấy sáng nhất trên bầu trời chưa
    hẳn là thật sự sáng nhất đâu bạn. Và ngôi sao mà bạn vừa
    nhìn thấy nó mờ mờ, bạn cũng đừng tưởng nó “tối” hơn ngôi
    sao mà bạn cho là sáng nhất. Sự mờ tỏ của các ngôi sao đối
    với mắt bạn tùy thuộc vào hai yếu tố: độ sáng của chính ngôi
    sao và vị trí của nó ở xa hay ở gần trái đất. Nhìn trời, chắc
    bạn tưởng số sao mà mắt bạn nhìn thấy là nhiều lắm. Bạn
    vẫn dùng cụm từ “hằng hà sa số” để chỉ số sao mà bạn nhìn
    thấy trên bầu trời. Thật ra, số sao mà bạn nhìn thấy bằng
    mắt thường không “hằng hà sa số” đâu, mà chỉ có khoảng
    6000 ngôi sao mà thôi. Và quá một phần ba số này nằm
    ở Nam bán cầu, nên ở phía Bắc bán cầu nhìn không thấy.
    Cách nay hơn hai nghìn năm, các nhà thiên văn Hy Lạp
    đã xếp loại các vì sao dựa theo độ sáng của nó. Cho đến
    ngày chế tạo được kính thiên văn, các sao được xếp thành
    6 hạng sáng nhất và 6 hạng mờ nhất. Những sao mờ hơn
    6 hạng ấy, không thể nhìn bằng mắt thường, nhưng đừng
    vì không nhìn thấy mà nói rằng chúng không tồn tại. Ngày
    nay với kính thiên văn hiện đại, người ta có thể xếp loại các
    ngôi sao căn cứ theo độ sáng của nó vào hai mươi mốt hạng.
    15

    Mỗi hạng phải cách nhau hai lần rưỡi của hạng kế đó. Có
    22 ngôi sao có độ sáng nhất. Và sao Sirius là sao sáng nhất
    trong 22 sao này. Nó có độ sáng 1,6, có nghĩa là sao Sirius
    sáng gấp 100 lần ngôi sao mờ nhất mà ta có thể nhìn thấy
    bằng mắt thường. Số lượng các ngôi sao tăng dần khi ta đi
    từ hạng sáng nhất đến hạng mờ nhất. Chóp đỉnh là 22 ngôi
    sao sáng nhất và đáy là... 1 tỷ ngôi sao mờ nhất.

    8

    Sao băng là gì?

    Từ hàng ngàn năm trước, nhìn thấy sao băng, con người
    đã kinh ngạc tự hỏi: nó là gì? Nó từ đâu tới? Và con người
    đã tin rằng nó từ thế giới khác tới.
    Thật ra, như ngày nay ta biết, gọi là “sao” thì không đúng.
    Phải gọi là thiên thạch hay vẩn thạch, tức là những viên
    đá nhỏ xíu bay lờ phờ trên trời thì mới đúng. Đó là những
    khối chất vật thể đặc, diện tích nhỏ thôi. Chúng trôi nổi
    trong không gian, tình cờ đi ngang qua trái đất liền bị sức
    hút của trái đất kéo vào bầu khí quyển, đốt cho cháy tiêu
    luôn. Khi một vẩn thạch rớt vào bầu khí quyển ta có thể
    thấy nó dưới dạng một vệt sáng dài. Vệt sáng này do vẩn
    thạch cọ xát vào khí quyển sinh nhiệt, vẩn thạch bị cháy
    sáng lên vậy thôi.
    Cũng khá kỳ lạ là vẩn thạch thường rất nhỏ, có khi chỉ
    bằng đầu kim găm. Họa hiếm cũng có thiên thạch nặng hàng
    16

    tấn. Hấu hết các vẩn thạch bị cháy tiêu trong bầu khí quyển,
    chỉ có những thiên thạch lớn mới rơi xuống đất. Các nhà
    khoa học tin rằng hàng ngày và hàng đêm, trái đất “hứng”
    được có hàng ngàn đến hàng vạn vẩn thạch. Ban ngày cũng
    có “sao băng” nghe bạn. Nhưng không nhìn thấy nó vì ánh
    sáng của sao băng bị ánh sáng mặt trời át đi nên không
    thấy. Vả lại, hầu hết mặt địa cầu là nước nên các vẩn thạch
    ấy rớt xuống biển, xuống các đại dương.
    Vẩn thạch thường xuất hiện lẻ tẻ và thường chẳng đi
    theo hướng nhất định nào. Nhưng cũng có khi có những
    “đám rước” có đến hàng ngàn vẩn thạch. Trong khi di chuyển
    theo quỹ đạo quanh mặt trời, trái đất có thể đi ngang gần
    một “đám rước” vẩn thạch. Thế là “đám rước” này được “mời”
    vào khí quyển của trái đất để làm “hội hoa đăng” - nếu là
    ban đêm - hay là “mưa rào vẩn thạch” cho bà con coi chơi.
    Vẩn thạch từ đâu tới? Ngày nay các nhà khoa học cho
    rằng định kỳ có những “đám rước” vẩn thạch do mảnh vỡ
    của các sao chổi tạo ra. Khi sao chổi bị bể vụn thành hàng
    triệu mảnh nhỏ, các mảnh này cứ phiêu du bềnh bồng trong
    không gian tạo thành “đám rước” thiên thạch và vẩn thạch.
    Ngay từ thời La Mã - năm 467 trước Công nguyên - người
    ta đã khảo sát hiện tượng các vẩn thạch rớt xuống địa cầu
    và ghi vào sổ sách.

    17

    9

    Sao chổi là gì?

    Đã có thời người ta coi sự xuất hiện của sao chổi như
    những điềm gở của những đại thiên tai, dịch tễ, đại chiến
    hoặc chết chóc kinh khủng.
    Ngày nay con người đã có một ý nghĩ tốt hơn về sao chổi
    mặc dù còn rất nhiều câu hỏi về sao mà ngay cả các nhà
    khoa học cũng chưa thể giải đáp thỏa đáng. Khi sao chổi
    vừa xuất hiện, ta chỉ thấy nó như một chấm sáng mặc dù
    nó có thể có đường kính lớn tới vài ngàn dặm. Điểm sáng
    này chính là cái đầu của sao chổi (nucleus). Các nhà khoa
    học cho rằng “đầu” của sao chổi không hẳn là một khối rắn
    chắc nhất phiến như đá tảng mà có thể là những tảng vật
    chất đặc, dính với nhau, lỗ chỗ như tổ ong và có lộn chất khí.
    Cái khối vật chất ấy do đâu mà ra thì vẫn còn là một bí mật.
    Sao chổi khi ở xa mặt trời thì không có đuôi. Nhưng khi
    nó lại gần mặt trời, một lực gọi là áp suất do bức xạ của mặt
    trời tạo nên tác động vào đầu sao chổi và tạo nên cái đuôi.
    Khi một sao chổi tiến lại gần mặt trời thì đuôi nó hướng về
    phía sau nhưng khi nó “ra” khỏi vùng mặt trời thì đuôi nó lại
    quay ngược trở lại, nghĩa là đuôi sao chổi luôn luôn ngược
    hướng mặt trời. Cái đuôi ấy gồm những loại khí rất nhẹ và
    các mảnh vật chất cực mịn từ đầu sao chổi bị áp suất bức xạ
    mặt trời đẩy ra. Bao quanh cái đầu sao chổi là thành phần
    thứ ba của sao chổi được gọi là “coma” tức là “bộ tóc”. Đó là

    18

    đám mây vật chất đôi khi có đường kính lên đến 150 ngàn
    dặm, có khi hơn.
    Đuôi sao chổi có hình dạng và kích cỡ rất khác nhau. Có
    cái thì ngắn và xù ra. Có cái thì dài và mảnh. Thường thì đuôi
    này có chiều dài 5 triệu dặm. Có những sao chổi có đuôi dài
    đến 100 triệu dặm. Nhưng có sao chổi lại chẳng có đuôi.
    Khi đuôi sao chổi dài ra thì sao chổi tăng tốc, chỉ vì càng
    lại gần mặt trời thì chịu sức hút mạnh hơn - do đó tăng tốc
    - đồng thời cái đuôi bị “thổi” ra mạnh hơn. Tại sao khi ra khỏi
    vùng ảnh hưởng của mặt trời thì đuôi sao chổi lại quay ngược
    lại về phía mặt trời? Hiện tượng này cũng vẫn chỉ là do sức
    đẩy của áp suất bức xạ đẩy các phần tử cực nhỏ của đầu
    sao chổi trở ra làm thành cái đuôi mới. Nói cách khác: đi vào
    vùng ảnh hưởng của mặt trời thì đầu sao chổi đi trước đuôi
    nhưng khi ra khỏi vùng ảnh hưởng của mặt trời thì đuôi lại
    đi trước, đồng thời cái đuôi ấy từ từ ngắn đi, tốc độ sao chổi
    giảm dần cho đến khi mất dạng. Sao chổi nằm ngoài tầm nhìn
    của chúng ta nhiều năm. Nhưng hầu hết các sao chổi sau một
    thời gian đều quay trở lại. Sao chổi chuyển động theo quỹ đạo
    quanh mặt trời nhưng quỹ đạo này lớn lắm, cho nên cần một
    thời gian thật dài mới đi được một vòng quỹ đạo đó. Sao chổi
    Halley chẳng hạn phải mất 75 năm mới đủ đi một vòng, nghĩa
    là 75 năm ta mới lại thấy sao chổi một lần.
    Đến nay, các nhà thiên văn đã ghi được gần một ngàn
    sao chổi nhưng phải mất vài trăm ngàn năm nữa mới gặp
    lại đủ mặt.
    19

    10

    Tại sao nước biển có vị mặn?

    Nước biển mặn là chuyện đương nhiên rồi. Nhưng tại
    sao nó mặn và muối đại dương do đâu mà ra?
    Ta biết muối là chất có thể hòa tan trong nước. Do đó,
    muối hòa tan trong nước ở đại dương. Muối ở trên mặt
    địa cầu thường xuyên hòa tan, sau đó theo suối, theo sông
    chảy hết ra biển. Nhưng điều ta không hiểu được là lượng
    muối ngày ngày theo suối theo sông đổ vào đại dương có
    thể giải thích được lượng muối khổng lồ chứa trong các đại
    dương không. Nếu có cách nào tách được muối chứa trong
    các đại dương ra thì ta có thể dùng khối lượng muối ấy để
    xây một bức tường thành cao gần 300 km, dầy 2 km bao
    quanh quả đất theo đường xích đạo.
    Muối ta dùng hằng ngày được sản xuất từ nước biển
    hay từ các hồ nước mặn, các giếng phun mặn và các mỏ
    muối. Nồng độ muối trong nước biển các đại dương là vào

    20

    khoảng từ 3 đến 3,5 phần trăm. Ở các biển nội địa như Địa
    Trung Hải hoặc Biển Đỏ chẳng hạn thì nồng độ muối cao
    hơn. Biển chết với diện tích chỉ có 340 dặm vuông nhưng
    chứa tới 11,6 tỷ tấn muối. Nhiều mỏ muối được tìm thấy ở
    nhiều nơi trên lục địa là do nước biển đã bốc hơi cách nay
    cả triệu năm. Bởi vì muốn thành muối mỏ thì phải làm cho
    9/10 nước biển bốc hơi. Do đó, người ta cho rằng muối mỏ
    thực chất chỉ là biển - nhất là các biển nội - đã bị bốc hơi.
    Có những biển “nội địa” bốc hơi nhanh hơn số lượng nước
    ngọt đổ vào các biển ấy, do đó lần lần biển nội địa biến
    thành mỏ muối.
    Muối dùng trong công nghiệp thường là muối mỏ. Phương
    pháp thông thường để khai thác muối mỏ là đào những giếng
    xuống tới các lớp muối. Sau đó bơm nước ngọt xuống cho
    hòa tan muối rồi hút nước muối lên. Chắc các bạn thắc mắc:
    làm chi cho mất công vậy, sao không lấy nước biển? Đồng
    ý! Nhưng những quốc gia nằm sâu trong lục địa và không
    có biển thì đành phải lấy muối mỏ là đúng rồi.

    11

    Đại dương nào sâu nhất?

    Bằng nhiều cách, đại dương còn giữ bí mật đối với ta.
    Ngay như tuổi của đại dương là bao nhiêu ta cũng chưa
    biết. Rất có thể trái đất vào thời kỳ mới hình thành là không
    có đại dương!

    21

    Ngày nay con người thám hiểm đáy đại dương để tìm
    hiểu. Đáy đại dương xuống đến khoảng 3,5 km là lớp bùn
    tương đối mềm. Đó gọi là lớp trầm tích biển tạo nên bởi vỏ
    và xương các loài động vật nhỏ sống trong biển. Đáy đại
    dương sâu là lớp bùn mịn có màu rỉ sét gọi là “đất sét đỏ”.
    Lớp bùn này gồm xương động vật nhỏ, các loài rong nhỏ
    và tro núi lửa.
    Ngày nay người ta dùng sóng âm để đo độ sâu của đại
    dương. Được phóng ra, các sóng âm khi chạm đáy đại dương
    thì dội lại. Đo khoảng thời gian của chu kỳ sóng âm là tính
    được độ sâu của đại dương. Nhờ cách đo lường này, ta có
    một ý tưởng chính xác về độ sâu của những vùng đại dương
    cũng như độ sâu nhất của đại dương. Thái Bình Dương có độ
    sâu trung bình lớn nhất. Độ sâu đó là vào khoảng 4km. Biển
    Baltic cạn nhất. Độ sâu trung bình của nó chỉ vào khoảng
    55m. Những điểm cực sâu mà ngày nay ta biết được ở Thái
    Bình Dương, nằm gần đảo Guam có độ sâu là khoảng 11
    km, ở hố Planet gần Phillipines có độ sâu 10,793 km. Độ sâu
    nhất của Đại Tây Dương nằm gần đảo Puerto Rico có độ sâu
    9,2 km. Vịnh Hudson - tuy chỉ là vịnh nhưng lớn hơn nhiều
    biển khác - có độ sâu nhất là vào khoảng 1,8 km.

    12

    Cái gì tạo nên sóng nước?

    Biển lặng là biển hầu như không có sóng hoặc sóng nhỏ.
    Vào những ngày có gió lớn, nhất là bão, là biển có sóng
    22

    lớn. Như vậy ta thấy ngay tác
    nhân chủ yếu gây ra sóng trên
    các biển, đại dương là gió, bão.
    Sóng là do lực di chuyển tác
    động trên mặt nước tạo nên.
    Quan sát sóng ta thấy các lớp
    sóng hàng hàng lớp lớp lô nhô
    đuổi theo nhau như cùng tiến
    về một hướng. Thực ra sóng
    đứng im một chỗ. Thả một vật nổi xuống ta thấy vật nổi
    ấy di chuyển dời chỗ, ta tưởng sóng làm cho nó dời chỗ.
    Nhưng, vật ấy dời chỗ là do tác động của gió chớ không
    phải của sóng.
    Vận động của sóng là vận động loại nào? Sóng nhấp nhô,
    chồi hụp, có nghĩa là sóng “dậm chân” tại chỗ. Các phân tử
    nước nhô lên rồi hạ xuống tại chỗ. Lực tạo nên sóng chuyển
    động từ ngoài khơi vào bờ nhưng các phân tử nước thì không
    vận động theo hướng này. Chẳng hạn, ta cầm một đầu sợi
    dây thừng, ta truyền lực vào làm sợi dây thừng ấy chuyển
    động, vận động chồi hụp nhấp nhô của sợi dây thừng không
    làm di chuyển các phân tử tạo nên sợi dây thừng.
    Ở dưới đáy nước, sóng chạm vào đất trên một khoảng
    cách hầu như không đáng kể. Sự chuyển động của chân
    sóng bị chậm lại do cọ sát với đáy. Trong khi đó ngọn sóng
    vẫn tiếp tục bị lực tác động theo chiều và tốc độ của lực.
    Do đó, ngọn sóng bị gãy, bị đổ xuống. Do hiện tượng này
    23

    ta thấy sóng “bạc đầu”. Lực tạo nên sóng bị tan đi khi chạm
    vào bờ. Chỉ cần đứng ở chỗ sóng đánh là bạn cảm thấy
    ngay lực tạo nên sóng tác động vào bạn: sóng xô đẩy bạn.
    Trong sóng biển, các phân tử nước chuyển động theo
    quỹ đạo vòng tròn. Các phân tử ấy bị lực của gió kéo lên
    và đẩy đi theo hướng gió, nhưng các phân tử nước ấy đồng
    thời bị hấp lực của trái đất kéo xuống vào đẩy về phía ngược
    chiều của hướng gió để các phân tử này trở lại mặt phẳng
    cũ. Vận động lên xuống của các phân tử nước tạo nên sóng.
    Nếu gió mạnh nghĩa là có sức đẩy lớn, nó sẽ làm cho nhiều
    phân tử nước bị đẩy lên, do đó sóng lớn. Khoảng cách các
    ngọn sóng là độ dài sóng. Phần lõm xuống giữa hai ngọn
    sóng gọi là “lòng máng”. Do đó, sóng lớn cũng có nghĩa là
    lòng máng rộng và sâu.

    13

    Hải lưu là gì?

    Hải lưu là một dòng nước trôi chảy ngay trên mặt đại
    dương. Và cũng có cả hải lưu ngầm chảy trong lòng đại
    dương. Ở đây, ta chỉ đề cập đến hải lưu “nổi”. Hải lưu nổi
    tiếng nhất trên thế giới có tên là Gulf Stream. Đó là một
    dòng sông rất lớn - lớn bằng tất cả các dòng sông trên các
    lục địa gộp lại - điều khác lạ là dòng sông đó chảy trên nước
    chứ không phải chảy trên lục địa!
    Nương theo bờ biển của các bang Đông Bắc Hoa Kỳ, hải
    lưu Gulf Stream chảy lên phía Bắc, xuyên qua Bắc Đại Tây
    24

    Dương tới Đông Bắc châu Âu. Hải lưu này có màu xanh chàm,
    do đó, nó hiện rõ giữa cái nền xanh màu lục ngả màu xám
    của phần nước đại dương nó chảy qua.
    Nước trong hải lưu Gulf Stream là nước từ mặt biển ở
    miền xích đạo Đại Tây Dương chuyển động mà ra. Chuyển
    động này theo hướng Tây. Bởi vậy, khi gặp bờ biển Đông
    của Hoa Kỳ, hải lưu này chuyển hướng lên phía Bắc, băng
    ngang vùng biển Caribê. Nó có cái tên Gulf Stream vì nó
    khởi đầu vận động lên phía Bắc tại vùng biển Đông Hoa Kỳ.
    Hải lưu Gulf Stream khởi phát từ vùng biển nóng trên địa
    cầu - miền xích đạo - nên dòng nước trong hải lưu này ấm.
    Khối lượng nước ấm này tạo ra nhiều sự lạ và những vùng
    khí hậu khác nhau tùy từng nơi nó đi qua.
    Chẳng hạn, gió thổi qua hải lưu này ở phần Bắc Âu đã
    đem hơi ấm đến cho các nước Bắc Âu như Na Uy, Thụy Điển,
    Đan Mạch, Hòa Lan, Bỉ. Kết quả là nhiệt độ mùa đông ở các
    nước này êm dịu hơn các vùng khác cũng nằm trên phía
    Bắc. Và nó cũng làm cho các hải cảng dọc theo bờ biển Na
    Uy không lúc nào đóng băng.
    Nhờ dòng hải lưu Gulf Stream, các thủ đô Luân Đôn, Paris
    được hưởng khí hậu mùa đông ấm áp hơn mặc dù chúng
    nằm trên cùng một vĩ độ Bắc với thành phố Lavrador, một
    thành phố phải chịu khí hậu rất khắc nghiệt. Gió thổi qua
    hải lưu Gulf Stream trở nên ấm và ẩm. Khi gió này thổi đến
    vùng đất Newfoundland, nó tạo ra sương mù dày đặc. Do đó,
    25

    vùng bờ biển Newfoundland thường có những buổi sương
    mù dày đặc rất nguy hiểm.
    Ở Bắc Mỹ, hải lưu Gulf Stream không có ảnh hưởng lớn
    đến khí hậu mùa đông cho bằng ở châu Âu vì gió mùa
    đông ở Bắc Mỹ không thổi qua hải lưu này như gió mùa
    đông ở châu Âu.

    14

    Núi đã hình thành như thế nào?

    Đối với con người, núi quá ư là vĩ đại. Vì thế con người
    cứ tưởng núi - thách đố và bất chấp thời gian - không thay
    đổi và sẽ tồn tại y nguyên như vậy mãi. Nhưng các nhà địa
    chất và các nhà khoa học nghiên cứu về núi đã đưa ra bằng
    chứng chứng tỏ núi bị thời gian khuất phục, nghĩa là, dù
    có đồ sộ như vậy, núi cũng không giữ được nguyên hình
    nguyên trạng mãi mãi.
    Một vài thay đổi trên bề mặt địa cầu đã tạo ra núi. Và
    núi cũng bị phá hoại thường xuyên, do đó thay đổi thường
    xuyên. Do đó tác động của băng tuyết, nước đá, nhiệt... núi
    bị nứt và bị lở. Đất, đá trên núi thường xuyên bị mưa bào
    mòn và đưa xuống các khe suối, sông... Cứ như vậy thời gian
    đã biến các ngọn núi thành các đồi, cao nguyên.
    Các nhà địa chất chia núi thành bốn loại tùy theo cách
    nó được cấu tạo. Nhưng dù được cấu tạo cách nào, núi
    cũng chỉ là kết quả của sự thay đổi dữ dội của vỏ trái đất.
    26

    Và hầu hết sự thay đổi này đều đã xảy ra cách nay cả hàng
    triệu năm.
    Núi uốn xếp được cấu tạo do các lớp đá bị dồn lại thành
    nếp gấp lớn. Ở nhiều nơi trên các loại núi này, ta thấy các lớp
    đá uốn cong thành nếp nhấp nhô bị ép theo chiều ngang.
    Dãy Appalachian (Bắc Mỹ) và dãy Alpes (châu Âu) là điển
    hình cho loại núi này.
    Trên đỉnh núi, các lớp đá bị uốn cong lên cao như mái
    vòm. Trong nhiều trường hợp các phún xuất thạch, do sức
    đẩy từ lòng đất đã bị tống ra hoặc cả một lớp đá bị nâng
    cao lên. Dãy Black Hill ở Nam Dakota (Hoa Kỳ) là điển hình
    cho loại núi này.
    Núi khối là kết quả của sự gãy, nứt của vỏ trái đất. Một
    phần của mặt đất, có khi là cả một khối đá vĩ đại bị đội lên.
    Dãy Slerra Nevada ở bang California là một khối đá dài trên
    600 km, rộng 128 km.
    Núi lửa do phún dung nham, tro và đá bọt phun từ trong
    lòng đất ra. Núi lửa thông thường có hình nón với cái miệng
    rộng hình phễu. Các núi lửa nổi tiếng là Ranier, Shasta và
    Hood ở Hoa Kỳ, Fujlyama ở Nhật, Vesuve ở Ý. Có nhiều dãy
    núi được tạo thành không theo kiểu nào đã mô tả trên.
    Cũng có dãy núi bao gồm đủ cả bốn kiểu đó như dãy Rocky
    bên Hoa Kỳ.

    27

    15

    Hang động được
    hình thành như thế nào?

    Từ lâu, hang động đã dính với lịch sử loài người một cách
    thi vị. Mãi đến thời kỳ hậu đồ đá, hang động còn là nơi trú
    đông của những người không có nơi cư trú.
    Nhưng về sau, con người không còn dùng hang động
    làm nơi cư trú nữa. Người xưa đã thêu dệt nhiều bí ẩn lạ
    lùng liên quan đến hang động. Người Hy Lạp cổ tin rằng
    hang động là đền, là nơi trú ngụ của các thần linh như thần
    Jupiter, thần Pan, thần Dionysos và thần Pluto... Người La Mã
    cổ tin rằng hang động là nhà của các “Nymph” (tiên nữ) và
    Sibyl. Người Ba Tư cổ đã liên kết hang động với sự tôn thờ
    các thần Mithra, chúa tể các ma quái trên mặt đất.
    Ngày nay, các hang động khổng lồ và đẹp trên khắp thế
    giới là những địa danh du lịch hấp dẫn.
    Hang động là chỗ sâu dưới núi, đồi hoặc vách đá. Những
    hang lớn gọi là động. Hang được cấu tạo theo nhiều kiểu.
    Có hang do sóng biển đập liên tục vào đó tạo ra. Có hang
    nằm sâu trong lòng đất. Những hang này do các dòng nước

    28

    ngầm bào mòn các lớp đá mềm - như đá vôi chẳng hạn - tạo
    ra. Có hang do núi lửa phun tạo ra.
    Kiểu mẫu phổ biến của h...
     
    Gửi ý kiến

    “Nếu bạn muốn đạt được bất cứ điều gì trong cuộc sống, bạn phải đọc rất nhiều sách.” – Roald Dahl

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TRUNG HỌC THỰC HÀNH SÀI GÒN !