Viếng Lăng Bác - Bài giảng
Nguon Goc Cac Loai - Charles Darwin

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 19h:42' 09-03-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 19h:42' 09-03-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
CHARLES DARWIN
NGUỒN GỐC CỦA MUÔN
LOÀI
Ngọc Linh dịch
Dịch từ bản tiếng Anh “The origin of species” Darwin,
London 1933
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA - THÔNG TIN
Dự án 1.000.000 ebook cho thiết bị di động
Phát hành ebook: http://www.taisachhay.com
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua
sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả,
người dịch và Nhà Xuất Bản
LỜI GIỚI THIỆU
Charles Robert Darwin sinh năm 1809, con của bà Susanna
(con gái của ông trùm tư bản Josiah Wedgwood), với ông
Robert Darwin, một bác sỹ giàu có vùng Shroshire (con trai
của nhà khoa học - nhà thơ và cũng là nhà vật lý Erasmus
Darwin). Đọc tiểu sử của ông, ít người nghĩ rằng Darwin sẽ trở
thành một nhà khoa học chuyên về nghiên cứu quá trình tiến
hóa của muôn loài. Ông hoàn toàn thuộc về tầng lớp quý tộc
Anh, mặc dù là thành viên đảng Whig[1], có khả năng kinh
doanh nhưng lại theo tư tưởng đối lập với hệ tư tưởng thịnh
hành thời bấy giờ. Và sau một thời gian theo học tại trường
Shrewsbury với kết quả không có gì nổi bật, Darwin được gửi
vào trường Đại học Edinburgh theo học chuyên ngành y khoa
giống như bố của ông. Hai năm sau, vào năm 1827, ông bắt
đầu môn thần học tại trường Đại học Cambridge sau khi cha
ông quyết định không cho ông tiếp tục ngành y không có
tương lai để chuyển sang một lĩnh vực chắc chắn và được ưa
chuộng hơn: trở thành thành viên của Giáo hội. Nhưng vào
thời gian đó, Darwin lại tỏ ra thích các hoạt động thể thao hơn
là nghiên cứu, và công việc của một vị mục sư lại xem ra quá
hợp với cậu thanh niên may mắn giàu có thích nay đây mai đó
này. Nhưng những hạt giống đầu tiên của niềm say mê lịch sử
tự nhiên trong ông đã được gieo mầm ở chính giai đoạn này;
tại trường Đại học Edinburgh, khi là thành viên của Hiệp hội
sinh viên Plinian; ông được tiếp xúc với thế giới của những
cuộc tranh luận giữa những người theo chủ nghĩa duy vật, và
chịu rất nhiều ảnh hưởng của ông Robert Grant, một nhà khoa
học về tiến hóa và chuyên gia về động vật không xưomg sống
ở biển. Darwin luôn đi theo ông Grant trong những cuộc khảo
sát thực địa và dần dần học tập phương pháp nghiên cứu và
quan sát của ông khi hai người cùng nghiên cứu về con hải
miên. Sự ảnh hưởng này lại ngày càng gia tăng tại trường Đại
học Edinburgh, nơi mà những thí nghiệm của riêng ông
Darwin về các loài cây và côn trùng được tiến hành và phát
triển. Ông tham gia vào cuộc thám hiểm của Adam Sedgwick,
một giáo sư địa chất nổi tiếng, tới vùng Bắc xứ Wales. Chuyến
đi này đã củng cố chắc thêm kiến thức của ông về địa chất;
nhưng quan trọng hơn cả chính là thời gian khi ông làm trợ lý
chính cho ông Rev John Henslow, một giáo sư về thực vật học,
người đã truyền tất cả những nhiệt huyết của mình về công
việc sang ông. Ông Henslow cũng có thể là hình tượng của
Darwin, một chuẩn mực của mục sư thời đại Victoria - một
nhà tự nhiên học - của một mối quan hệ gắn bó, biểu tượng về
việc có thể tồn tại giữa công việc của một mục sư tại thị trấn
nhỏ và sự tiếp tục các cuộc nghiên cứu khoa học. Nhưng trước
khi Darwin có thể chắc chắn trơ thành một nhà khoa học thực
thụ, giáo sư Henslow đã khuyên ông nên là một nhà tự nhiên
học và là bạn đồng hành của thuyền trưởng James Fitzroy trên
con tàu thám hiểm HMSS Beagle tới cực nam trái đất. Những
ảnh hưởng của chuyến viễn thám này đối với Darwin là cực kỳ
hữu ích, xét trên rất nhiều mặt.
Trong giai đoạn từ năm 1831 cho tới năm 1836, với vai trò là
một nhà tự nhiên học trên con tàu HMS Beagle, ông đã có dịp
tiếp xúc với cả một thế giới tự nhiên hoàn toàn khác biệt;
khoảng thời gian ngắn ngủi mà Darwin có được để khám phá
những vùng đất Nam Mỹ đã trở thành kinh nghiệm quý báu cả
đời, tạo ra một ảnh hưởng lớn và kéo dài tới cách suy nghĩ và
trí tường tượng phong phú của ông về thiên nhiên và đóng vai
trò quyết định trong quá trình hình thành cơ chế giải thích táo
bạo mà đã đơm hoa kết trái hơn 20 năm sau đó: cuốn Nguồn
gốc của muôn loài (1859). Nhà tự nhiên học trẻ tuổi này đã
viết ứong cuốn nhật ký về cuộc hành trình này, mà về sau trở
thành cuốn Chuyến đi của con tàu Beagle (Tủ sách văn học cổ
điển thế giới - 1997): “Ôi, thật là một niềm khát khao cháy
bỏng lớn lao đối với một người yêu thiên nhiên khi được nhìn
thấy, nếu điều này là có thể, cảnh sác tuyệt vời của một thế
giới khác! Mà đối với bất cứ ai ớ châu âu, thật sự khung cảnh
này chi cách họ có vài độ, một thế giới kỳ diệu đang mờ ra
trước mắt anh ta”.
Do đó, với những đọc giả lần đầu tiên biết tới cuốn Nguồn gốc
của muôn loài, có lẽ là tác phẩm mang tính cách mạng nhất
của trí tưởng tượng khoa học cận đại, có thể ngạc nhiên khi bất
thình lình phát hiện ra mình đang ở trong thế giới giai đoạn
giữa thế kỷ 19 của những người thích nghiên cứu chim bồ câu
nước Anh. Ông Darwin cố gáng giải thích lý thuyết của mình
cho những người đọc có kiến thức và có đầu óc phân tích bằng
cách xuất phát từ những hoạt động thường ngày; chương đầu
tiên của ông cho rằng những hoạt động của người nhân giống
tại giã, trong quá trình lựa chọn qua một vài thế hệ những biến
thể tốt nhất trong số những con giống của họ, có thể giúp
chúng ta hiểu rằng tổng thể thế giới thiên nhiên đang liên tục
biến đổi. Lý do cho cách giải thích bước đầu như vậy là khá rõ
ràng và mang tính sư phạm: bắt đầu bằng một thứ quen thuộc.
Tuy vậy trong cuốn Nguồn gốc của muôn loài, chúng ta cũng
sẽ bắt gặp cảnh mà không phải là Câu lạc bộ nuôi chim bồ câu
London mà là cảnh cơn mưa rừng nhiệt đới từ thời nguyên
thủy ở Brazil và những quần đảo núi lửa tại Galapagos
Archipelago. Và sau đấy, độc giả sẽ sớm nhận thấy mình đang
đi tiến đi lui dọc một đoạn giữa những cái “quen thuộc” và cái
“khác”, giữa cái “nội địa” và cái “ngoại lai”, trong những dòng
chữ mà dường như coi khinh ranh giới chia tách các vật thể
nói trên. Với biến thể kỳ lạ và không đoán trước được, chúng
ta sẽ gặp những kẻ man rợ Tierra del Fuego ăn thịt phụ nữ;
những con gián nhỏ vùng Asiatic; những cây thân dày dạng củ
cải Thụy Sỹ thông thường; những mấu cây của các cây tre dài
thuộc quần đảo Malay; những mảng lông trên da mang trứng
của con chân tơ, những khu vực trũng của vùng bắc và nam
Weald; những đáy trầm tích tại cửa sông Mississippi trong
suốt kỷ nguyên băng giá. Nhiệm vụ của nhà tự nhiên học
Darwin, khi mà là trong tâm khoa học trong công việc của ông
và chỉ có thể đạt được thông qua khả năng sử dụng ngôn ngữ
sống động và sáng tạo, là để biến những thứ lạ lùng hay
“không thể tin được” thành những điều quen thuộc gần gũi với
chúng ta, và biến những khía cạnh vấn đề vô cùng khó hiểu và
chưa bao giờ được biết đến trở nên dễ hiểu, kiến thức chung
của mọi người. Thành công của ông, trong văn cảnh mà sự
quyến rũ không hề giảm đi nếu không muốn nói là tăng thêm
khi chúng ta tiến vào những góc cạnh dị thường của thiên niên
kỷ, thật ra nằm trong sự phát hiện rằng những thế giới đối lập
nhau trên thực tế lại là một. Vậy thì cái gì là trung tâm mà mọi
nỗ lực đều dành cho nó?
Trong tiêu đề ngắn gọn như mọi tiêu đề khác, cuốn Nguồn gốc
của muôn loài có thể gây ra sự hiểu nhầm cho những người
đọc đương đại. Tiêu đề của cuốn sách sẽ chính xác hơn, mặc
dù có thể là kém hấp dẫn hơn, nếu được đặt theo tên tác phẩm
khổng lồ đang còn dang dở trên bàn giấy mà đã được tóm tắt
một cách khá vội vàng: Sự lựa chọn của thiên nhiên. Bởi vì
cuốn sách Nguồn gốc của muôn loài là sự giả thích của
Darwin về lý thuyết lựa chọn tự nhiên của ông. Tư tưởng chủ
đạo của lý thuyết này là không một loài nào có thể không bao
giờ thay đổi; tất cả mọi thứ đều tiến hóa, và vẫn tiếp tục tiến
hóa trong suốt quá trình một thời gian rất dài. Lý thuyết này
thách thức quan điểm thống trị của những người theo chủ
nghĩa sáng tạo luận về các loài là được tạo ra một cách đặc
biệt và tách biệt bởi ý muốn của Chúa trời; Tự nhiên, đối với
Darwin, là một thể liên tục, làm nền tảng cho một sự phỏng
đoán rằng: “Các con vật có nguồn gốc từ nhiều nhất chỉ bốn
hoặc năm đời và đối với các loài thực vật, con số này chỉ bằng
hoặc kém hơn” hoặc là thậm chí - mặc dù nhà tiến hóa học đặt
cược ở đây - là: “có khả năng tất cả các loài hữu cơ đã từng
sống trên trái đất này là con cháu của một loài nguyên thủy mà
chính nó sự sống đã được thổi vào”.
Tất nhiên Darwin không phải là người đầu tiên nhận ra rằng về
cơ bản mọi thứ đều đổi thay. Một nhận định mang tính triết lý
ít nhất có từ thời Hy Lạp cổ đại của nhà triết học Heraclitus về
khái niệm thế giới trong một trạng thái luôn luôn thay đổi hay
là trong trái thái “lửa”. Ông cũng không phải là người đầu tiên
trong thế hệ của ông khởi xướng thuyết “người biến hình”
hoặc là “người đột biến” trong lịch sử thế giới tự nhiên: như là
cuốn “Tóm tắt lịch sử” đã thêm vào lần tái bản thứ ba của
cuốn sách Nguồn gốc của muôn loài (và được in lại trong
quyển sách này) chỉ ra, trong nửa đầu thế kỷ 19, những ý
tưởng về lý thuyết của Darwin đã từng xuất hiện, và Darwin rõ
ràng tìm ra trong lý thuyết của mình có những ý tưởng đó.
Nhưng chính sự giải thích của ông về cách mà muôn loài thay
đổi và phát triển đã làm cho tác phẩm Nguồn gốc của muôn
loài trở nêấn độc đáo, cỏ một không hai. “Sự lựa chọn của
thiên nhiên” được định nghĩa là “sự duy trì những biến thể tốt
và loại bỏ những biến thể xấu”, ở đây, cụm từ “sự duy trì” nói
đến một quá trình trong đỏ các cơ thể khỏe hơn hoặc là “thích
hợp hơn”, được trang bị với những biến thể hữu ích dù có bé
hơn xét về mặt tỷ lệ, có nhiều khả năng tồn tại và tái sinh hơn
hơn những cơ thế yếu. Do đó, vô số thế hệ các loài “thay đồi”,
theo cách mà những thực thể phù hợp hơn, có khả năng thích
nghi cao hơn đã thay thế dần dần - hoặc đang thay thế liên tục
- những thực thể có ít khả năng thích nghi hơn và như vậy,
theo quy luật tự nhiên, chúng đã bị tuyệt chủng. Những nhà
nhân giống chim bồ câu đáng kính của Darwin đi theo một
phiên bản “nhân tạo”, yếu hơn của quá trình lựa chọn này; một
người nhân giống tốt chỉ cho phép những con giống giỏi nhất
sinh sản, và loại bỏ những con yếu kém. Nhưng “con người
chỉ có thể tác động tới những vật thể bên ngoài hữu hình”,
trong khi đó, thiên nhiên “có thể tác động tới mọi cơ quan bên
trong, tới mọi sự vật vô hình của khác biệt về thể trạng, tới
toàn bộ cơ chế đời sống”; năng lực tuyệt đối của sự lựa chọn
tự nhiên là hầu như không thể đo đạc được.
Người ta thường nói rằng sự lựa chọn tự nhiên diễn ra hàng
ngày, hàng giờ, trên khắp thế giới, trong mọi biến thể, thậm chí
là những cái nhỏ nhất; loại trừ những cơ thể xấu, duy trì và
phát triển tất cả cơ thể khoẻ; hoạt động một cách thầm lặng và
vô hình, bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào cơ hội xuất hiện,
biến đối theo hướng tích cực mỗi cơ thể sống trong mối quan
hệ với điều kiện sống hữu cơ và vô cơ của nó. Chúng ta không
hề nhìn thấy bất cứ điều gì từ những thay đổi chậm chạp của
quá trình này, cho đến khi bàn tay thời gian để lại dấu ấn của
mình sau một thời kỳ dài…
Lý thuyết này dựa trên một vài nhân tố cần thiết. Thứ nhất, đó
là tồn tại “một thể nguyên thủy”, nguồn gốc của bàn thân “sự
sống”, mà Darwin khẳng định công việc của ông không thể
“giải thích hay can thiệp” được. Sau đó, một khoảng thời gian
dài chậm chạp trôi qua, không thể nhận thức được hay là cái
mà bây giờ chúng ta gọi là “thời gian sâu”, thông qua đó,
nguồn gốc của sự sống bắt đầu đa dạng hóa thành vô số hình
thái sự sống tự nhiên và cuối cùng trở thành những cơ quan
phức tạp và “hoàn thiện” như là mắt người chẳng hạn. Trong
giai đoạn thế kỷ 19 mà nhà thờ có vai trò khá lớn, môn “thần
học tự nhiên” truyền thống, được thiết lập trong công trình tác
phẩm cùng tên của William Paley (1802) và kế đó được trân
trọng nhắc đến trong rất nhiều Bridgewater Treatises quyền
năng, những cấu trúc bộ phận như kiểu của mẩt người được
giải thích bởi khái niệm quyền lực tuyệt đối của Chúa trời:
chúng là sản phẩm của Đức Chúa. Nhưng trong tác phẩm
Những nguyên lý của Địa chất gồm ba phần của Charles Lyell
với lý thuyết “đồng nhất” hay tiệm tiến luận về quá trình đột
biến địa chất dường như tiêu diệt sự tồn tại của trái đất trong
kinh thánh 6.000 năm, thay thế nó bằng một giai đoạn “hoàn
toàn không thể hiểu được” cần thiết cho sự tiến hóa của những
thể vô cùng phức tạp. Tuy vậy, Darwin cho rằng sẽ là chưa đủ
nếu chi đọc các tác phẩm của Lyell và các chuyên luận khác về
sự hình thành của đá nhằm để nhận thực đúng đắn sự mênh
mông rộng lớn của giai đoạn tiến hóa sâu thẳm: “Hằng năm,
một người phải tự mình tìm hiểu nghiên cứu vô số địa tầng
chồng lên nhau, và quan sát biển bào mòn những tàng đá nhiều
tuổi, tạo nên những tầng trầm tích mới, trước khi anh ta có thể
hi vọng hiểu được mọi thứ theo dòng thời gian, những tượng
đài kỷ niệm xung quanh chúng ta”.
Quá trình lựa chọn cũng được chứng thực nhờ vào việc suy xét
xem liệu thế giới tự nhiên sẽ trông như thế nào nếu không có
quá trình sàng lọc này. Điều cốt yếu ở đây là số lượng loài có
thể tồn tại ít hơn so với số loài sinh ra: nguyên tắc “tăng theo
cấp số nhân”, nếu tất cả các cá thể và rất nhiều trứng và giống
của chúng có thể tồn tại và sinh sản không được kiểm soát, trái
đất này sẽ sớm bị bao phủ - “tràn ngập” bởi “dòng dõi con
cháu của một đôi duy nhất”, thậm chí là loài voi cái to lớn
chậm chạp, mà theo sự tính toán của Darwin đẻ 3 cặp trong
vòng đời 60 năm của chúng, sẽ tạo ra số lượng 15 triệu con
vào cuối thể kỷ 15 trong quá trình tồn tại của chúng. Để cho hệ
thống tự nhiên có thể phát triển tồn tại được, “quá trình tranh
đấu cho sự sinh tồn” là không thể thiếu. Ở đây, với những
người nhân giống chim bồ câu, Darwin tỏ ra mâu thuẫn khi sử
dụng một ví dụ “thiếu tính thuyết phục” trong thế giới loài
người để minh họa cho một nguyên lý mạnh mẽ hơn rất nhiều
của tự nhiên; trong trường hợp này, gây nhiều tranh cãi, tác
phẩm của Thơnas Malthus, cuốn Bài luận về dân số (1798)
cho rằng dân số loài người sẽ luôn luôn vượt quá nguồn sinh
kế của mình trừ khi chịu sự can thiệp giới hạn của tự nhiên
hoặc có ý thức của con người. Đấu tranh sinh tồn là “học
thuyết của Malthus được áp dụng trên rất nhiều lĩnh vực của
vương quốc động và thực vật”; với quá nhiều nơi trong tự
nhiên để khám phá, sự lựa chọn tự nhiên theo nghĩa này có thể
được coi là để tận dụng bất cứ sự điều chỉnh nào trong điều
kiện - từ sự xuất hiện của một cây tại một khu vực, tới sự thay
đổi thời tiết dài hạn hoặc là khắp nơi -nhằm để chứng thực
nguyên lý của sự hủy diệt; vì “sự tuyệt chủng và sự lựa chọn
tự nhiên luôn luôn song hàng”.
Cuối cùng, lựa chọn tự nhiên cũng dựa vào chính sự thay đổi.
Lý thuyết của Darwin hình như là đưa ra một lời giải thích về
tính năng động đa dạng của thế giới sự sống, nhưng nó lại chi
phản ánh những kết quả logic của sự biến đổi, và không hoặc
là không thể tính đến sự biến đổi cá nhân. Nếu sử dụng một
trong những minh họa giả thiết của cuốn sách: nếu một con
sói, mà săn rất nhiều con vật khác nhau bằng kỹ năng săn mồi,
sức mạnh và tốc độ của nó sẽ sống ở vùng mà tại đó những
con mồi nhanh nhất, con hươu, vì một lý do nào đó tăng lên về
mặt số lượng tại thời điểm khan hiếm, và khi những con mồi
khác giảm đi về mặt số lượng, thì chúng ta có thể suy ra rằng
“những con sói nhanh nhất và khéo léo nhất sẽ có nhiều cơ hội
tồn tại hơn, và do đó được duy trì và được lựa chọn”; nguyên
nhân nào khiến cho con sói này nhanh hơn, khéo léo hơn con
sói khác, hoặc là, cụ thể hơn, là hơn cha mẹ chúng trong quá
trình săn mồi? Như Darwin đã phải thừa nhận: “Sự kém hiểu
biết của chúng ta về quy luật đổi thay” - và bằng sự ám chỉ, về
quy luật di truyền “là rất nghiêm trọng”. Sự xuất hiện sáng
ngời của Jean Baptiste Lamarck, một trong những bậc tiền bối
nổi tiếng về biến dạng sống cùng thời Darwin, là đủ cho thấy
những vấn đề của biến đổi và di truyền được Darwin quan tâm
như thế nào, và tầm quan trọng của chúng được thể hiện ở
chương năm cuốn sách này.
Trong công trình nghiên cứu Triết lý về động vật học (1809),
Lamarck lần đầu tiên nêu ra lý thuyết của ông về sự kế thừa
những tính cách thu được. Thông qua sử dụng và thói quen,
những cá thể có thể, theo như lý thuyết này, không chỉ thay đổi
thể trạng của chúng nhằm thích nghi với môi trường mới mà
còn di truyền các đặc tính đó cho con cháu chúng. Những đặc
điểm hình thoi dài thường là những cái được lấy làm ví dụ
minh họa chủ nghĩa Lamarck; có lẽ bởi vì hiệu ứng thị giác
trực tiếp của chúng: cổ của con hươu cao cổ, chân của con
chim cao cẳng. Lamarck do đó tin rằng trong một cơ chế tiến
hóa từ từ, giống như sự lựa chọn tự nhiên, làm giảm đi tính cố
định của các loài; nhưng tác phẩm của ông cũng không loại trừ
khả năng tồn tại thế hệ tự phát của những kiểu mới, và được
dựa trên mô hình kỹ thuật của lòng khát vọng và sự cải thiện
mà người ta cho rằng là mang tính trừu tượng như là bản thân
chủ nghĩa loài, vẫn có người tin là “quan điểm của Lamarck về
quá trình tiến hóa vẫn còn nổi tiếng”[2]
Những dòng hồi ký mà Darwin viết vào những năm 1840 cho
thấy ông ít có thời gian để nghiên cứu các khía cạnh vấn đề
trong tác phẩm của Lamarck, và trong chương “Những quy
luật của sự thay đổi” của cuốn sách Nguồn gốc của muôn loài,
chúng ta sẽ thấy ông đưa một loạt các phương pháp thay thế lý
giải cho “điều kiện nhân tạo” của các con vật mới được sinh
ra: sự phụ thuộc của hệ thống sinh đẻ vào những đổi thay
trong điều kiện sống; hay là nguyên tắc của sự tương quan
tăng trường nhờ đó mà những biến đổi nhỏ nhất định sẽ dẫn
đến những thay đổi khác của cấu trúc. Mặt khác, quay trở lại
với những người nuôi chim bồ câu của ông, thực tế củạ nhân
giống tại gia đã khiến Darwin “hoàn toàn tin” rằng “việc một
vài con vật nuôi trong nhà sử dụng các bộ phận nhất định của
chủng ta làm cho những bộ phận cơ thể đó phát triển và to ra,
và ngược lại việc không sử dụng sẽ làm suy yếu chúng; và
những thay đổi như vậy sẽ được truyền sang đời sau”. Thật là
thú vị khi chúng ta thấy Darwin, trong suốt cả chương đó, liên
tục quay trở lại và “làm xiếc” với những thứ bên lề thói quen
và “các nguyên lý chính” của sự kế thừa. Còn Darwin, trong
một chừng mực nào đó, dựa vào công trình của Lamarck vẫn
tiếp tục là chủ để gây tranh cãi giữa những nhà bình luận về
ông. Song điều rõ ràng ở đây là nếu sự chọn lựa tự nhiên ở
một mức độ nào đó có thể dự báo được dựa trên một mức biến
đổi nhưng nhỏ giữa con cái và bố mẹ thì nó sẽ cần một cơ chế
lý giải cho quá trình di truyền, và sự biến dạng của vật chất ẩn
trong quả trình sinh sản. Chúng ta bây giờ gọi quá trình cơ chế
này là “gen” - một thuật ngữ, một khoa học mà vào năm 1859,
Darwin không hề biết đến. Tiếp tục công trình nghiên cứu của
Gregor Mendel, một nhà sư người Bohemian Augustunian,
người đã đặt nền móng cho ngành khoa học này vào năm 1865
(nhưng lại không được biết đến cho tới đầu thế kỹ hai mốt), và
cùng với thời gian, chúng ta có thể vẽ được bản đố gen người,
chính mục tiêu này đã, đang và sẽ thôi thúc chúng ta nâng cao
hiểu biết của mình bằng việc đọc cuốn Nguồn gốc của muôn
loài với những kiến thức của chúng ta về gen di truyền.
Trong cuốn tiểu sử sống động của mình, hai ông Adrrian
Desmond và James Moore đã thu hút được sự quan tâm tới
ngành nghiên cứu bệnh lý học mới lạ mà Darwin theo đuổi khi
trưởng thành. Khi bắt đầu khóa học cao học tại trường Beagle
về quá trình chuyển hóa, Darwin đã bị mắc chứng đau nửa
đầu. Căn bệnh này đã hành hạ ông, làm ông “khô héo trên
giường bệnh, cảm thấy như đang bị tra tấn tàn bạo”; cuối
cùng, “một phần ba cuộc đời làm việc của ông chìm trong sự
đau đớn, run rẩy, nôn tháo, và dìm ngập ông vào băng giá”[3].
Sự đau đớn về thể xác và những cuộc xung đột tư tưởng mà
cùng với nhận thức ngày một rõ rệt rằng những quan điểm của
ông khác xa so với học thuyết chính thống Thiên chúa giáo
được thể hiện rất rõ trong quá trình phát triển ý tưởng cho
cuốn sách này. Bắt đầu bằng những quyển ghi chép về sự đột
biến loài vào năm 1837, Darwin đã hoàn thành hai bản tóm tắt
sơ bộ trong năm 1844. Nhưng cả hai bản thảo này đều không
được biết đến rộng rãi. Ông tiếp tục cố gắng và cho xuất bản
những nghiên cứu gây tranh cãi hơn, chẳng hạn như nghiên
cứu của ông về cấu trúc và vị trí của những rặng san hô, về
con hàu, trong khi vẫn âm thầm theo đuổi những ý tường lý
thuyết táo bạo. Những bài viết và lá thư của ông trong giai
đoạn này bị gián đoạn bởi nỗi sợ hãi và sự cam chịu: ông cảm
thấy mình đã dành trọn cuộc đời cho một “suy nghĩ kỳ quặc”,
nó giống như thú nhận “tội giết người”: “Ồ, bạn là người theo
chủ nghĩa Duy vật biện chứng”, ông thường tự chỉ trích mình
một cách hài hước. Cho đến trước những năm 1850, các bài
nghiên cứu của ông được viết thành một cuốn sách dày, không
có sự kết thúc, Sự lựa chọn của tự nhiên, thu thập những dẫn
chứng về quá trình này một cách cẩn thận song rất khó khăn.
Khả năng để cuốn sách có thể ra mắt công chúng là xa vời.
Nhưng cuối cùng, ông cũng viết ra tất cả những suy nghĩ thật
của mình; sự im lặng trong ông đã bị phá vỡ bởi yếu tổ bên
ngoài.
Alffred Russell Wallace, một nhà tự nhiên học cũng là một
người theo chủ nghĩa xã hội trẻ tuổi nghiên cứu và tìm hiểu về
quần đảo Malay, đã trao đổi ý tưởng với Darwin, và gửi cho
ông một vài mẫu vật thí nghiệm. Ông Wallace cũng đưa ra các
quan điểm của ông về lý thuyết của cơ chế tiến hóa. Sự kiện
này mà qua đó Darwin tìm thấy những điểm tưởng đồng trong
lý thuyết của mình đã làm Darwin cảm thấy hết sức sung
sướng và khuyến khích Wallace tiếp tục phát triển lý thuyết
đó. Vào ngày 18 tháng 6 năm 1858, một bức thư dài 20 trang
được Wallace gửi đến cho Darwin. Trong bức thư chứa đựng
một bản đề cương sơ lược về lý thuyết của sự lựa chọn tự
nhiên. Không thể cư xử như một kẻ thiếu văn hóa, Darwin
đồng ý giúp công trình nghiên cứu của Wallace có được sự
quan tâm rộng rãi của công luận trong khi ông phải đối mặt
với sự thực phũ phàng là sự chậm chạp đo để chỉnh sửa tài liệu
đã khiến ông trở thành người đến sau. Sau khi tham khảo ý
kiến với Charles Lyell và nhà thực vật học Joseph Hooker, một
thỏa ước đã đạt được: bức thư của Wallace và những đoạn
trích có liên quan từ công trình nghiên cứu của Darwin sẽ
được đọc cùng một lúc trong buổi họp tại Hiệp hội Linnean ở
London vào ngày 1 tháng 7 năm 1858. Sự vắng mặt của
Darwin trong buổi hôm đó là do ông được báo tin về cái chết
của cậu con trai bé bỏng, Charles, do bệnh ban đỏ. Do đó, tại
thòi điểm tồi tệ ấy, rõ ràng là ông cần xuất bản tác phẩm của
mình một cách nhanh chóng. Trong khoảng thời gian đi nghi
với gia đình tại đảo Wight, thời gian an dưỡng và trị bệnh ở
Moor Park tại Surrey, và thời gian ở nhà, Darwin đã hoàn
thành xong cuốn Nguồn gốc của muôn loài trong vòng 10
tháng và chủ yếu là từ trí nhớ. Cuốn sách được xuất bản bởi
John Murray trong tháng 11 năm 1859, và bán chạy đến nỗi
mà kế hoạch tái bản lần thứ hai được đưa ra ngay lập tức.
Sự mô tả của Darwin trong cuốn sách đó với quan niệm là
“một cuộc tranh luận lâu dài” xác nhận đánh giá của chúng ta
về cuốn sách là sâu sắc và phong phú về nội dung - luôn luôn
tỉ mẩn, tuy có đôi chỗ chưa được như ý, nhưng thường là sinh
động và đầy xúc cảm trong kỹ năng thuyết phục. Nhận thức rõ
vô số “khó khăn” trong quá trình trình bày lý thuyết của mình
-không có bằng chứng cụ thể trong thiên nhiên về những dạng
chuyển đổi, hay sự thiếu sót của những tải liệu địa chất, đây
chỉ là hai vướng mắc nhất đổi với Darwin đôi khi người ta có
cảm giác như Darwin thích dựng lên những chướng ngại vật
đối với mình hơn là rũ bỏ chúng. Tác phẩm Nguồn gốc của
muôn loài tự tranh luận với bản thân nó, hay nói chính xác hơn
là với một người đối thoại tưởng tượng - “anh ta người mà tin
vào vô số hành động riêng rẽ của sự sáng tạo” - người mà lúc
nào cũng sẵn sàng nêu ra các ý tưởng cần thiết đối lập với
người theo chủ nghĩa sáng tạo luận. Tuy thể, sự xuất hiện của
sự thật không thể chối cãi tất nhiên luôn luôn có thể gây ấn
tượng tốt cho người đọc. Hom nữa, khi người đối thoại theo
trường phái sáng tạo luận phải đối mặt với việc giải thích sự
tồn tại lâu dài của những đặc điểm tiến hóa mặc dù khó nhận
biết về những nguyên lý thiết kế, chẳng hạn như chân có màng
của loài vịt sống trên cạn, hay là loài chim gõ kiến sống ở
những cánh đồng không có cây tại La Plata, chúng ta nhận ra
rằng những bằng chứng đó đứng về phía Darwin.
Công trình nghiên cứu gần đây của Gillian Beer về điểm chính
của Darwin nhấn mạnh nhà khoa học xét trên một vài khía
cạnh quan trọng phụ thuộc vào ngôn ngữ giống như bất kỳ
“nhà sản xuất kiến thức” nào[4]. Ngôn ngữ thể hiện kiến thức,
và kiến thức là sức mạnh, nhưng ngôn ngữ cũng nổi tiếng là
bất tín và khỏ lường, luôn có nguy cơ làm sai lệch hoặc nói
giảm những ý mà ta thực sự muốn truyền đạt. Thậm chí là bản
thân cụm từ “sự lựa chọn của tự nhiên” cũng không phải là
ngoại lệ, mà đoạn trích sau đang một lần nữa minh họa:
Người ta thường nói rằng sự lựa chọn tự nhiên diễn ra hàng
ngày, hàng giờ, trên khắp thế giới, trong mọi biến thể, thậm chí
là những cái nhỏ nhất; loại trừ những cơ thể xấu, duy trì và
phát triển tất cả cơ thể khoẻ; hoạt động một cách thầm lặng và
vô hình, bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào cơ hội xuất hiện,
biến đối theo hướng tích cực mỗi cơ thể sống trong mối quan
hệ với điều kiện sống hữu cơ và vô cơ của nó.
Xét về mặt ngôn ngữ học, cụm từ “sự lựa chọn” hàm ý một
nhân tố của sự lựa chọn có ý thức; một ai đó hoặc cái gì đó
phải tiến hành quá trình chọn lọc, nhất là khi quá trình này kết
hợp một vài động từ như “xem xét kỹ lưỡng”, “loại bỏ”, “duy
trì”, “thêm vào” và “làm việc”. Có phải là nó không để cho
cụm từ dễ dàng quên “không nhận thức”, hoặc là một chút hạn
chế “Người ta có thể nói rằng”, người đọc có thể được tha thứ
khi cho rằng trong phần này, Darwin cố gắng gán Sự thiết kế
sáng tạo cho quá trình đó, cho dù thậm chí là nội dung chính
trong công trình nghiên cứu của ông là để phản bác sự can
thiệp siêu hình như vậy. Hơn nữa, tại điểm này trong bài viết
của Darwin, “sự lựa chọn của tự nhiên” liên tục xuất hiện bằng
một phương pháp diễn đạt quen thuộc hơn về “tác nhân của tự
nhiên; chính là, từ bài luận về giống mà trong đó tự nhiên là
giống cái, người mẹ nuôi dưỡng, người mà chi “lựa chọn”
những đứa con mà bà cho là tốt nhất” (sự nhấn mạnh của tôi):
“Mọi người con được chọn lựa đều hoàn toàn do bà ta quyết
định; và người con đó được đặt trong một môi trường sống
thích hợp nhất”.
Liệu ở đây chúng ta có thể rút ra kết luận rằng Darwin không
hoàn toàn kiểm soát được ngôn ngữ mà ông sử dụng? Hay là,
rằng những nguyên tố của tác nhân trong “sự chọn lựa” và “tự
nhiên” đã giúp ông làm hài lòng những độc giả theo trường
phái chính thống trong khi lặng lẽ đưa ra lý thuyết thực của
ông dưới vỏ bọc đó? Sự thực là một điều gì đó phức tạp hơn,
là sự hòa trộn của hai, dựa trên một thực tế là ngôn ngữ chắc
chắn thể hiện thế giới trong ngữ cảnh nhân chủng học hay là
lấy con người làm trung tâm. Ông khẳng định tại một điểm
“Tôi nên tuyên bố rằng việc tôi sử dụng cụm từ Đấu tranh sinh
tồn trong ngữ cảnh rộng mang tính ẩn dụ, bao gồm sự phụ
thuộc của một các thể vào các cá thể khác, và bao gồm (điều
này quan trọng hơn) không chỉ sự sống của các thể đó mà còn
cả khả năng duy trì giống nòi”. Giống như cụm từ “sự lựa
chọn của thiên nhiên”, cụm từ “đấu tranh sinh tồn” là một
phép ẩn dụ; nó như thể là tự nhiên lựa chọn, hay là như thể
mọi sinh vật liên tục đấu tranh cho sự tồn tại của chúng.
Những hình mẫu cùng phụ thuộc, và hoạt động của “sự đấu
tranh” mang tính trừu tượng hơn nhiều, không chì đơn thuần là
sự cạnh tranh của hai loài động vật nào đó giành nhau khu đất,
và làm thay đổi đáng kể ý nghĩa của phép ẩn dụ. Tuy nhiên,
điều chính xác là ngữ nghĩa”rộng mang tính ẩn dụ” mà giúp
cuốn Nguồn gốc của muôn loài rất dễ dẫn đến kiểu hiểu nhầm
đó hoặc là sự vận dụng sáng tạo mà Darwin, trong những lần
tái bản tiếp theo bản thảo đưa ra ở đây, cố tìm kiếm sự giới hạn
và kiểm soát[5].
Ngày nay, “chủ nghĩa Darwin” và “người theo chủ nghĩa
Darwin” là những thuật ngữ quen thuộc đối với chúng ta. Do
vậy, khi đọc cuốn Nguồn gốc của muôn loài tức là chúng ta
đang tận dụng cơ hội xem xét xem kiến thức chung đấy quan
hệ gần gũi đến mức nào với nguồn mà được coi là kiến tạo ra
chúng. Bời vì có thể người ta sẽ sử dụng nó kiến thức đó
nhưng cũng có thể lạm dụng nó và có rất nhiều thứ trong “chủ
nghĩa Darwin” và “người theo chủ nghĩa Darwin” mà chúng ta
có lẽ sẽ không tìm thấy ở Darwin. Hãy lấy đoạn dẫn sau đây
về nguyên tắc chung của “người theo chủ nghĩa Darwin” làm
ví dụ:
…sự lựa chọn của tự nhiên liên tục tìm cách tối ưu hóa tất cả
các phần của một tổ chức. Nếu trong điều kiện sống bị thay
đổi, một cấu trúc mà trở nên kém hữu ích, thì bất kỳ sự suy
giảm nào dù nhỏ trong quá trình phát triển của nó sẽ được quá
trình lựa chọn của tự nhiên nắm lấy, bởi vì cấu trúc đó sẽ được
hưởng lợi do không bị lãng phí dinh dưỡng để xây dựng nên
những phần vô ích.
Do không nằm trong văn cảnh, chúng ta có thể dễ dàng hiểu
cụm từ “tổ chức” ở đây theo nghĩa quen thuộc là một công ty
thương mại, cho dù là cơ quan hợp nhất được nói đến là một
“cá thể” sống. Theo nghĩa cơ bản nhất, tác phẩm Nguồn gốc
của muôn loài là một tác phẩm của kinh tế học, của tự nhiên như là - nền kinh tế; và lịch sử cận đại của chúng ta chứng
kiến sự lớn mạnh của chủ nghĩa tự do mới, thị trường tự do,
trong những năm 1980, và sau đó là sự sụp đổ của Liên bang
Xô viết theo chủ nghĩa Cộng sản, sự chấp nhận rộng rãi mối
quan hệ kinh tế của tư bản chủ nghĩa. Những biến cố đó có thể
khiến chúng ta hiểu nội dung cuốn sách theo nghĩa nó là một
một sự khẳng định rằng trật tự kinh tế xã hội của kiểu này là
“tự nhiên” hơn các trật tự khác. Mặc dù không hề ám chỉ rằng
ngôn ngữ được sử dụng trong cuốn sách là ngôn ngữ của
những nhà quản lý doanh nghiệp đương đại, nhưng một điều
không thể phủ nhận là ngôn từ của nghệ thuật quản lý kiểu
mới - thu gọn và hợp lý hóa, nhằm tạo ra những tổ chức thích
hợp và gọn ghẽ hơn có khả năng cạnh tranh trong môi trường
kinh doanh cạnh tranh khốc liệt mà tại đó kẻ mạnh thì sống kẻ
yếu thì bị tiêu diệt - đã được mượn từ một sự lựa trọn của thiên
nhiên mà “luôn luôn thành công, xét về mặt dài hạn, trong việc
tinh giản mọi phần của tổ chức ngay khi phần đó không còn có
ích nữa”. Một doanh nhân có thể đổi cái gì để chạm vào một
vật mà Darwin gọi là “bản năng tuyệt diệu nhất trong sổ tất cả
các bản năng được biết đến”, bản năng của ông? …sự lựa chọn
tự nhiên diễn ra từ từ và ngày càng hoàn chinh điều khiến loài
ong bay từ nơi này sang nơi khác với một khoảng cách nhất
định theo dạng lớp...
NGUỒN GỐC CỦA MUÔN
LOÀI
Ngọc Linh dịch
Dịch từ bản tiếng Anh “The origin of species” Darwin,
London 1933
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA - THÔNG TIN
Dự án 1.000.000 ebook cho thiết bị di động
Phát hành ebook: http://www.taisachhay.com
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua
sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả,
người dịch và Nhà Xuất Bản
LỜI GIỚI THIỆU
Charles Robert Darwin sinh năm 1809, con của bà Susanna
(con gái của ông trùm tư bản Josiah Wedgwood), với ông
Robert Darwin, một bác sỹ giàu có vùng Shroshire (con trai
của nhà khoa học - nhà thơ và cũng là nhà vật lý Erasmus
Darwin). Đọc tiểu sử của ông, ít người nghĩ rằng Darwin sẽ trở
thành một nhà khoa học chuyên về nghiên cứu quá trình tiến
hóa của muôn loài. Ông hoàn toàn thuộc về tầng lớp quý tộc
Anh, mặc dù là thành viên đảng Whig[1], có khả năng kinh
doanh nhưng lại theo tư tưởng đối lập với hệ tư tưởng thịnh
hành thời bấy giờ. Và sau một thời gian theo học tại trường
Shrewsbury với kết quả không có gì nổi bật, Darwin được gửi
vào trường Đại học Edinburgh theo học chuyên ngành y khoa
giống như bố của ông. Hai năm sau, vào năm 1827, ông bắt
đầu môn thần học tại trường Đại học Cambridge sau khi cha
ông quyết định không cho ông tiếp tục ngành y không có
tương lai để chuyển sang một lĩnh vực chắc chắn và được ưa
chuộng hơn: trở thành thành viên của Giáo hội. Nhưng vào
thời gian đó, Darwin lại tỏ ra thích các hoạt động thể thao hơn
là nghiên cứu, và công việc của một vị mục sư lại xem ra quá
hợp với cậu thanh niên may mắn giàu có thích nay đây mai đó
này. Nhưng những hạt giống đầu tiên của niềm say mê lịch sử
tự nhiên trong ông đã được gieo mầm ở chính giai đoạn này;
tại trường Đại học Edinburgh, khi là thành viên của Hiệp hội
sinh viên Plinian; ông được tiếp xúc với thế giới của những
cuộc tranh luận giữa những người theo chủ nghĩa duy vật, và
chịu rất nhiều ảnh hưởng của ông Robert Grant, một nhà khoa
học về tiến hóa và chuyên gia về động vật không xưomg sống
ở biển. Darwin luôn đi theo ông Grant trong những cuộc khảo
sát thực địa và dần dần học tập phương pháp nghiên cứu và
quan sát của ông khi hai người cùng nghiên cứu về con hải
miên. Sự ảnh hưởng này lại ngày càng gia tăng tại trường Đại
học Edinburgh, nơi mà những thí nghiệm của riêng ông
Darwin về các loài cây và côn trùng được tiến hành và phát
triển. Ông tham gia vào cuộc thám hiểm của Adam Sedgwick,
một giáo sư địa chất nổi tiếng, tới vùng Bắc xứ Wales. Chuyến
đi này đã củng cố chắc thêm kiến thức của ông về địa chất;
nhưng quan trọng hơn cả chính là thời gian khi ông làm trợ lý
chính cho ông Rev John Henslow, một giáo sư về thực vật học,
người đã truyền tất cả những nhiệt huyết của mình về công
việc sang ông. Ông Henslow cũng có thể là hình tượng của
Darwin, một chuẩn mực của mục sư thời đại Victoria - một
nhà tự nhiên học - của một mối quan hệ gắn bó, biểu tượng về
việc có thể tồn tại giữa công việc của một mục sư tại thị trấn
nhỏ và sự tiếp tục các cuộc nghiên cứu khoa học. Nhưng trước
khi Darwin có thể chắc chắn trơ thành một nhà khoa học thực
thụ, giáo sư Henslow đã khuyên ông nên là một nhà tự nhiên
học và là bạn đồng hành của thuyền trưởng James Fitzroy trên
con tàu thám hiểm HMSS Beagle tới cực nam trái đất. Những
ảnh hưởng của chuyến viễn thám này đối với Darwin là cực kỳ
hữu ích, xét trên rất nhiều mặt.
Trong giai đoạn từ năm 1831 cho tới năm 1836, với vai trò là
một nhà tự nhiên học trên con tàu HMS Beagle, ông đã có dịp
tiếp xúc với cả một thế giới tự nhiên hoàn toàn khác biệt;
khoảng thời gian ngắn ngủi mà Darwin có được để khám phá
những vùng đất Nam Mỹ đã trở thành kinh nghiệm quý báu cả
đời, tạo ra một ảnh hưởng lớn và kéo dài tới cách suy nghĩ và
trí tường tượng phong phú của ông về thiên nhiên và đóng vai
trò quyết định trong quá trình hình thành cơ chế giải thích táo
bạo mà đã đơm hoa kết trái hơn 20 năm sau đó: cuốn Nguồn
gốc của muôn loài (1859). Nhà tự nhiên học trẻ tuổi này đã
viết ứong cuốn nhật ký về cuộc hành trình này, mà về sau trở
thành cuốn Chuyến đi của con tàu Beagle (Tủ sách văn học cổ
điển thế giới - 1997): “Ôi, thật là một niềm khát khao cháy
bỏng lớn lao đối với một người yêu thiên nhiên khi được nhìn
thấy, nếu điều này là có thể, cảnh sác tuyệt vời của một thế
giới khác! Mà đối với bất cứ ai ớ châu âu, thật sự khung cảnh
này chi cách họ có vài độ, một thế giới kỳ diệu đang mờ ra
trước mắt anh ta”.
Do đó, với những đọc giả lần đầu tiên biết tới cuốn Nguồn gốc
của muôn loài, có lẽ là tác phẩm mang tính cách mạng nhất
của trí tưởng tượng khoa học cận đại, có thể ngạc nhiên khi bất
thình lình phát hiện ra mình đang ở trong thế giới giai đoạn
giữa thế kỷ 19 của những người thích nghiên cứu chim bồ câu
nước Anh. Ông Darwin cố gáng giải thích lý thuyết của mình
cho những người đọc có kiến thức và có đầu óc phân tích bằng
cách xuất phát từ những hoạt động thường ngày; chương đầu
tiên của ông cho rằng những hoạt động của người nhân giống
tại giã, trong quá trình lựa chọn qua một vài thế hệ những biến
thể tốt nhất trong số những con giống của họ, có thể giúp
chúng ta hiểu rằng tổng thể thế giới thiên nhiên đang liên tục
biến đổi. Lý do cho cách giải thích bước đầu như vậy là khá rõ
ràng và mang tính sư phạm: bắt đầu bằng một thứ quen thuộc.
Tuy vậy trong cuốn Nguồn gốc của muôn loài, chúng ta cũng
sẽ bắt gặp cảnh mà không phải là Câu lạc bộ nuôi chim bồ câu
London mà là cảnh cơn mưa rừng nhiệt đới từ thời nguyên
thủy ở Brazil và những quần đảo núi lửa tại Galapagos
Archipelago. Và sau đấy, độc giả sẽ sớm nhận thấy mình đang
đi tiến đi lui dọc một đoạn giữa những cái “quen thuộc” và cái
“khác”, giữa cái “nội địa” và cái “ngoại lai”, trong những dòng
chữ mà dường như coi khinh ranh giới chia tách các vật thể
nói trên. Với biến thể kỳ lạ và không đoán trước được, chúng
ta sẽ gặp những kẻ man rợ Tierra del Fuego ăn thịt phụ nữ;
những con gián nhỏ vùng Asiatic; những cây thân dày dạng củ
cải Thụy Sỹ thông thường; những mấu cây của các cây tre dài
thuộc quần đảo Malay; những mảng lông trên da mang trứng
của con chân tơ, những khu vực trũng của vùng bắc và nam
Weald; những đáy trầm tích tại cửa sông Mississippi trong
suốt kỷ nguyên băng giá. Nhiệm vụ của nhà tự nhiên học
Darwin, khi mà là trong tâm khoa học trong công việc của ông
và chỉ có thể đạt được thông qua khả năng sử dụng ngôn ngữ
sống động và sáng tạo, là để biến những thứ lạ lùng hay
“không thể tin được” thành những điều quen thuộc gần gũi với
chúng ta, và biến những khía cạnh vấn đề vô cùng khó hiểu và
chưa bao giờ được biết đến trở nên dễ hiểu, kiến thức chung
của mọi người. Thành công của ông, trong văn cảnh mà sự
quyến rũ không hề giảm đi nếu không muốn nói là tăng thêm
khi chúng ta tiến vào những góc cạnh dị thường của thiên niên
kỷ, thật ra nằm trong sự phát hiện rằng những thế giới đối lập
nhau trên thực tế lại là một. Vậy thì cái gì là trung tâm mà mọi
nỗ lực đều dành cho nó?
Trong tiêu đề ngắn gọn như mọi tiêu đề khác, cuốn Nguồn gốc
của muôn loài có thể gây ra sự hiểu nhầm cho những người
đọc đương đại. Tiêu đề của cuốn sách sẽ chính xác hơn, mặc
dù có thể là kém hấp dẫn hơn, nếu được đặt theo tên tác phẩm
khổng lồ đang còn dang dở trên bàn giấy mà đã được tóm tắt
một cách khá vội vàng: Sự lựa chọn của thiên nhiên. Bởi vì
cuốn sách Nguồn gốc của muôn loài là sự giả thích của
Darwin về lý thuyết lựa chọn tự nhiên của ông. Tư tưởng chủ
đạo của lý thuyết này là không một loài nào có thể không bao
giờ thay đổi; tất cả mọi thứ đều tiến hóa, và vẫn tiếp tục tiến
hóa trong suốt quá trình một thời gian rất dài. Lý thuyết này
thách thức quan điểm thống trị của những người theo chủ
nghĩa sáng tạo luận về các loài là được tạo ra một cách đặc
biệt và tách biệt bởi ý muốn của Chúa trời; Tự nhiên, đối với
Darwin, là một thể liên tục, làm nền tảng cho một sự phỏng
đoán rằng: “Các con vật có nguồn gốc từ nhiều nhất chỉ bốn
hoặc năm đời và đối với các loài thực vật, con số này chỉ bằng
hoặc kém hơn” hoặc là thậm chí - mặc dù nhà tiến hóa học đặt
cược ở đây - là: “có khả năng tất cả các loài hữu cơ đã từng
sống trên trái đất này là con cháu của một loài nguyên thủy mà
chính nó sự sống đã được thổi vào”.
Tất nhiên Darwin không phải là người đầu tiên nhận ra rằng về
cơ bản mọi thứ đều đổi thay. Một nhận định mang tính triết lý
ít nhất có từ thời Hy Lạp cổ đại của nhà triết học Heraclitus về
khái niệm thế giới trong một trạng thái luôn luôn thay đổi hay
là trong trái thái “lửa”. Ông cũng không phải là người đầu tiên
trong thế hệ của ông khởi xướng thuyết “người biến hình”
hoặc là “người đột biến” trong lịch sử thế giới tự nhiên: như là
cuốn “Tóm tắt lịch sử” đã thêm vào lần tái bản thứ ba của
cuốn sách Nguồn gốc của muôn loài (và được in lại trong
quyển sách này) chỉ ra, trong nửa đầu thế kỷ 19, những ý
tưởng về lý thuyết của Darwin đã từng xuất hiện, và Darwin rõ
ràng tìm ra trong lý thuyết của mình có những ý tưởng đó.
Nhưng chính sự giải thích của ông về cách mà muôn loài thay
đổi và phát triển đã làm cho tác phẩm Nguồn gốc của muôn
loài trở nêấn độc đáo, cỏ một không hai. “Sự lựa chọn của
thiên nhiên” được định nghĩa là “sự duy trì những biến thể tốt
và loại bỏ những biến thể xấu”, ở đây, cụm từ “sự duy trì” nói
đến một quá trình trong đỏ các cơ thể khỏe hơn hoặc là “thích
hợp hơn”, được trang bị với những biến thể hữu ích dù có bé
hơn xét về mặt tỷ lệ, có nhiều khả năng tồn tại và tái sinh hơn
hơn những cơ thế yếu. Do đó, vô số thế hệ các loài “thay đồi”,
theo cách mà những thực thể phù hợp hơn, có khả năng thích
nghi cao hơn đã thay thế dần dần - hoặc đang thay thế liên tục
- những thực thể có ít khả năng thích nghi hơn và như vậy,
theo quy luật tự nhiên, chúng đã bị tuyệt chủng. Những nhà
nhân giống chim bồ câu đáng kính của Darwin đi theo một
phiên bản “nhân tạo”, yếu hơn của quá trình lựa chọn này; một
người nhân giống tốt chỉ cho phép những con giống giỏi nhất
sinh sản, và loại bỏ những con yếu kém. Nhưng “con người
chỉ có thể tác động tới những vật thể bên ngoài hữu hình”,
trong khi đó, thiên nhiên “có thể tác động tới mọi cơ quan bên
trong, tới mọi sự vật vô hình của khác biệt về thể trạng, tới
toàn bộ cơ chế đời sống”; năng lực tuyệt đối của sự lựa chọn
tự nhiên là hầu như không thể đo đạc được.
Người ta thường nói rằng sự lựa chọn tự nhiên diễn ra hàng
ngày, hàng giờ, trên khắp thế giới, trong mọi biến thể, thậm chí
là những cái nhỏ nhất; loại trừ những cơ thể xấu, duy trì và
phát triển tất cả cơ thể khoẻ; hoạt động một cách thầm lặng và
vô hình, bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào cơ hội xuất hiện,
biến đối theo hướng tích cực mỗi cơ thể sống trong mối quan
hệ với điều kiện sống hữu cơ và vô cơ của nó. Chúng ta không
hề nhìn thấy bất cứ điều gì từ những thay đổi chậm chạp của
quá trình này, cho đến khi bàn tay thời gian để lại dấu ấn của
mình sau một thời kỳ dài…
Lý thuyết này dựa trên một vài nhân tố cần thiết. Thứ nhất, đó
là tồn tại “một thể nguyên thủy”, nguồn gốc của bàn thân “sự
sống”, mà Darwin khẳng định công việc của ông không thể
“giải thích hay can thiệp” được. Sau đó, một khoảng thời gian
dài chậm chạp trôi qua, không thể nhận thức được hay là cái
mà bây giờ chúng ta gọi là “thời gian sâu”, thông qua đó,
nguồn gốc của sự sống bắt đầu đa dạng hóa thành vô số hình
thái sự sống tự nhiên và cuối cùng trở thành những cơ quan
phức tạp và “hoàn thiện” như là mắt người chẳng hạn. Trong
giai đoạn thế kỷ 19 mà nhà thờ có vai trò khá lớn, môn “thần
học tự nhiên” truyền thống, được thiết lập trong công trình tác
phẩm cùng tên của William Paley (1802) và kế đó được trân
trọng nhắc đến trong rất nhiều Bridgewater Treatises quyền
năng, những cấu trúc bộ phận như kiểu của mẩt người được
giải thích bởi khái niệm quyền lực tuyệt đối của Chúa trời:
chúng là sản phẩm của Đức Chúa. Nhưng trong tác phẩm
Những nguyên lý của Địa chất gồm ba phần của Charles Lyell
với lý thuyết “đồng nhất” hay tiệm tiến luận về quá trình đột
biến địa chất dường như tiêu diệt sự tồn tại của trái đất trong
kinh thánh 6.000 năm, thay thế nó bằng một giai đoạn “hoàn
toàn không thể hiểu được” cần thiết cho sự tiến hóa của những
thể vô cùng phức tạp. Tuy vậy, Darwin cho rằng sẽ là chưa đủ
nếu chi đọc các tác phẩm của Lyell và các chuyên luận khác về
sự hình thành của đá nhằm để nhận thực đúng đắn sự mênh
mông rộng lớn của giai đoạn tiến hóa sâu thẳm: “Hằng năm,
một người phải tự mình tìm hiểu nghiên cứu vô số địa tầng
chồng lên nhau, và quan sát biển bào mòn những tàng đá nhiều
tuổi, tạo nên những tầng trầm tích mới, trước khi anh ta có thể
hi vọng hiểu được mọi thứ theo dòng thời gian, những tượng
đài kỷ niệm xung quanh chúng ta”.
Quá trình lựa chọn cũng được chứng thực nhờ vào việc suy xét
xem liệu thế giới tự nhiên sẽ trông như thế nào nếu không có
quá trình sàng lọc này. Điều cốt yếu ở đây là số lượng loài có
thể tồn tại ít hơn so với số loài sinh ra: nguyên tắc “tăng theo
cấp số nhân”, nếu tất cả các cá thể và rất nhiều trứng và giống
của chúng có thể tồn tại và sinh sản không được kiểm soát, trái
đất này sẽ sớm bị bao phủ - “tràn ngập” bởi “dòng dõi con
cháu của một đôi duy nhất”, thậm chí là loài voi cái to lớn
chậm chạp, mà theo sự tính toán của Darwin đẻ 3 cặp trong
vòng đời 60 năm của chúng, sẽ tạo ra số lượng 15 triệu con
vào cuối thể kỷ 15 trong quá trình tồn tại của chúng. Để cho hệ
thống tự nhiên có thể phát triển tồn tại được, “quá trình tranh
đấu cho sự sinh tồn” là không thể thiếu. Ở đây, với những
người nhân giống chim bồ câu, Darwin tỏ ra mâu thuẫn khi sử
dụng một ví dụ “thiếu tính thuyết phục” trong thế giới loài
người để minh họa cho một nguyên lý mạnh mẽ hơn rất nhiều
của tự nhiên; trong trường hợp này, gây nhiều tranh cãi, tác
phẩm của Thơnas Malthus, cuốn Bài luận về dân số (1798)
cho rằng dân số loài người sẽ luôn luôn vượt quá nguồn sinh
kế của mình trừ khi chịu sự can thiệp giới hạn của tự nhiên
hoặc có ý thức của con người. Đấu tranh sinh tồn là “học
thuyết của Malthus được áp dụng trên rất nhiều lĩnh vực của
vương quốc động và thực vật”; với quá nhiều nơi trong tự
nhiên để khám phá, sự lựa chọn tự nhiên theo nghĩa này có thể
được coi là để tận dụng bất cứ sự điều chỉnh nào trong điều
kiện - từ sự xuất hiện của một cây tại một khu vực, tới sự thay
đổi thời tiết dài hạn hoặc là khắp nơi -nhằm để chứng thực
nguyên lý của sự hủy diệt; vì “sự tuyệt chủng và sự lựa chọn
tự nhiên luôn luôn song hàng”.
Cuối cùng, lựa chọn tự nhiên cũng dựa vào chính sự thay đổi.
Lý thuyết của Darwin hình như là đưa ra một lời giải thích về
tính năng động đa dạng của thế giới sự sống, nhưng nó lại chi
phản ánh những kết quả logic của sự biến đổi, và không hoặc
là không thể tính đến sự biến đổi cá nhân. Nếu sử dụng một
trong những minh họa giả thiết của cuốn sách: nếu một con
sói, mà săn rất nhiều con vật khác nhau bằng kỹ năng săn mồi,
sức mạnh và tốc độ của nó sẽ sống ở vùng mà tại đó những
con mồi nhanh nhất, con hươu, vì một lý do nào đó tăng lên về
mặt số lượng tại thời điểm khan hiếm, và khi những con mồi
khác giảm đi về mặt số lượng, thì chúng ta có thể suy ra rằng
“những con sói nhanh nhất và khéo léo nhất sẽ có nhiều cơ hội
tồn tại hơn, và do đó được duy trì và được lựa chọn”; nguyên
nhân nào khiến cho con sói này nhanh hơn, khéo léo hơn con
sói khác, hoặc là, cụ thể hơn, là hơn cha mẹ chúng trong quá
trình săn mồi? Như Darwin đã phải thừa nhận: “Sự kém hiểu
biết của chúng ta về quy luật đổi thay” - và bằng sự ám chỉ, về
quy luật di truyền “là rất nghiêm trọng”. Sự xuất hiện sáng
ngời của Jean Baptiste Lamarck, một trong những bậc tiền bối
nổi tiếng về biến dạng sống cùng thời Darwin, là đủ cho thấy
những vấn đề của biến đổi và di truyền được Darwin quan tâm
như thế nào, và tầm quan trọng của chúng được thể hiện ở
chương năm cuốn sách này.
Trong công trình nghiên cứu Triết lý về động vật học (1809),
Lamarck lần đầu tiên nêu ra lý thuyết của ông về sự kế thừa
những tính cách thu được. Thông qua sử dụng và thói quen,
những cá thể có thể, theo như lý thuyết này, không chỉ thay đổi
thể trạng của chúng nhằm thích nghi với môi trường mới mà
còn di truyền các đặc tính đó cho con cháu chúng. Những đặc
điểm hình thoi dài thường là những cái được lấy làm ví dụ
minh họa chủ nghĩa Lamarck; có lẽ bởi vì hiệu ứng thị giác
trực tiếp của chúng: cổ của con hươu cao cổ, chân của con
chim cao cẳng. Lamarck do đó tin rằng trong một cơ chế tiến
hóa từ từ, giống như sự lựa chọn tự nhiên, làm giảm đi tính cố
định của các loài; nhưng tác phẩm của ông cũng không loại trừ
khả năng tồn tại thế hệ tự phát của những kiểu mới, và được
dựa trên mô hình kỹ thuật của lòng khát vọng và sự cải thiện
mà người ta cho rằng là mang tính trừu tượng như là bản thân
chủ nghĩa loài, vẫn có người tin là “quan điểm của Lamarck về
quá trình tiến hóa vẫn còn nổi tiếng”[2]
Những dòng hồi ký mà Darwin viết vào những năm 1840 cho
thấy ông ít có thời gian để nghiên cứu các khía cạnh vấn đề
trong tác phẩm của Lamarck, và trong chương “Những quy
luật của sự thay đổi” của cuốn sách Nguồn gốc của muôn loài,
chúng ta sẽ thấy ông đưa một loạt các phương pháp thay thế lý
giải cho “điều kiện nhân tạo” của các con vật mới được sinh
ra: sự phụ thuộc của hệ thống sinh đẻ vào những đổi thay
trong điều kiện sống; hay là nguyên tắc của sự tương quan
tăng trường nhờ đó mà những biến đổi nhỏ nhất định sẽ dẫn
đến những thay đổi khác của cấu trúc. Mặt khác, quay trở lại
với những người nuôi chim bồ câu của ông, thực tế củạ nhân
giống tại gia đã khiến Darwin “hoàn toàn tin” rằng “việc một
vài con vật nuôi trong nhà sử dụng các bộ phận nhất định của
chủng ta làm cho những bộ phận cơ thể đó phát triển và to ra,
và ngược lại việc không sử dụng sẽ làm suy yếu chúng; và
những thay đổi như vậy sẽ được truyền sang đời sau”. Thật là
thú vị khi chúng ta thấy Darwin, trong suốt cả chương đó, liên
tục quay trở lại và “làm xiếc” với những thứ bên lề thói quen
và “các nguyên lý chính” của sự kế thừa. Còn Darwin, trong
một chừng mực nào đó, dựa vào công trình của Lamarck vẫn
tiếp tục là chủ để gây tranh cãi giữa những nhà bình luận về
ông. Song điều rõ ràng ở đây là nếu sự chọn lựa tự nhiên ở
một mức độ nào đó có thể dự báo được dựa trên một mức biến
đổi nhưng nhỏ giữa con cái và bố mẹ thì nó sẽ cần một cơ chế
lý giải cho quá trình di truyền, và sự biến dạng của vật chất ẩn
trong quả trình sinh sản. Chúng ta bây giờ gọi quá trình cơ chế
này là “gen” - một thuật ngữ, một khoa học mà vào năm 1859,
Darwin không hề biết đến. Tiếp tục công trình nghiên cứu của
Gregor Mendel, một nhà sư người Bohemian Augustunian,
người đã đặt nền móng cho ngành khoa học này vào năm 1865
(nhưng lại không được biết đến cho tới đầu thế kỹ hai mốt), và
cùng với thời gian, chúng ta có thể vẽ được bản đố gen người,
chính mục tiêu này đã, đang và sẽ thôi thúc chúng ta nâng cao
hiểu biết của mình bằng việc đọc cuốn Nguồn gốc của muôn
loài với những kiến thức của chúng ta về gen di truyền.
Trong cuốn tiểu sử sống động của mình, hai ông Adrrian
Desmond và James Moore đã thu hút được sự quan tâm tới
ngành nghiên cứu bệnh lý học mới lạ mà Darwin theo đuổi khi
trưởng thành. Khi bắt đầu khóa học cao học tại trường Beagle
về quá trình chuyển hóa, Darwin đã bị mắc chứng đau nửa
đầu. Căn bệnh này đã hành hạ ông, làm ông “khô héo trên
giường bệnh, cảm thấy như đang bị tra tấn tàn bạo”; cuối
cùng, “một phần ba cuộc đời làm việc của ông chìm trong sự
đau đớn, run rẩy, nôn tháo, và dìm ngập ông vào băng giá”[3].
Sự đau đớn về thể xác và những cuộc xung đột tư tưởng mà
cùng với nhận thức ngày một rõ rệt rằng những quan điểm của
ông khác xa so với học thuyết chính thống Thiên chúa giáo
được thể hiện rất rõ trong quá trình phát triển ý tưởng cho
cuốn sách này. Bắt đầu bằng những quyển ghi chép về sự đột
biến loài vào năm 1837, Darwin đã hoàn thành hai bản tóm tắt
sơ bộ trong năm 1844. Nhưng cả hai bản thảo này đều không
được biết đến rộng rãi. Ông tiếp tục cố gắng và cho xuất bản
những nghiên cứu gây tranh cãi hơn, chẳng hạn như nghiên
cứu của ông về cấu trúc và vị trí của những rặng san hô, về
con hàu, trong khi vẫn âm thầm theo đuổi những ý tường lý
thuyết táo bạo. Những bài viết và lá thư của ông trong giai
đoạn này bị gián đoạn bởi nỗi sợ hãi và sự cam chịu: ông cảm
thấy mình đã dành trọn cuộc đời cho một “suy nghĩ kỳ quặc”,
nó giống như thú nhận “tội giết người”: “Ồ, bạn là người theo
chủ nghĩa Duy vật biện chứng”, ông thường tự chỉ trích mình
một cách hài hước. Cho đến trước những năm 1850, các bài
nghiên cứu của ông được viết thành một cuốn sách dày, không
có sự kết thúc, Sự lựa chọn của tự nhiên, thu thập những dẫn
chứng về quá trình này một cách cẩn thận song rất khó khăn.
Khả năng để cuốn sách có thể ra mắt công chúng là xa vời.
Nhưng cuối cùng, ông cũng viết ra tất cả những suy nghĩ thật
của mình; sự im lặng trong ông đã bị phá vỡ bởi yếu tổ bên
ngoài.
Alffred Russell Wallace, một nhà tự nhiên học cũng là một
người theo chủ nghĩa xã hội trẻ tuổi nghiên cứu và tìm hiểu về
quần đảo Malay, đã trao đổi ý tưởng với Darwin, và gửi cho
ông một vài mẫu vật thí nghiệm. Ông Wallace cũng đưa ra các
quan điểm của ông về lý thuyết của cơ chế tiến hóa. Sự kiện
này mà qua đó Darwin tìm thấy những điểm tưởng đồng trong
lý thuyết của mình đã làm Darwin cảm thấy hết sức sung
sướng và khuyến khích Wallace tiếp tục phát triển lý thuyết
đó. Vào ngày 18 tháng 6 năm 1858, một bức thư dài 20 trang
được Wallace gửi đến cho Darwin. Trong bức thư chứa đựng
một bản đề cương sơ lược về lý thuyết của sự lựa chọn tự
nhiên. Không thể cư xử như một kẻ thiếu văn hóa, Darwin
đồng ý giúp công trình nghiên cứu của Wallace có được sự
quan tâm rộng rãi của công luận trong khi ông phải đối mặt
với sự thực phũ phàng là sự chậm chạp đo để chỉnh sửa tài liệu
đã khiến ông trở thành người đến sau. Sau khi tham khảo ý
kiến với Charles Lyell và nhà thực vật học Joseph Hooker, một
thỏa ước đã đạt được: bức thư của Wallace và những đoạn
trích có liên quan từ công trình nghiên cứu của Darwin sẽ
được đọc cùng một lúc trong buổi họp tại Hiệp hội Linnean ở
London vào ngày 1 tháng 7 năm 1858. Sự vắng mặt của
Darwin trong buổi hôm đó là do ông được báo tin về cái chết
của cậu con trai bé bỏng, Charles, do bệnh ban đỏ. Do đó, tại
thòi điểm tồi tệ ấy, rõ ràng là ông cần xuất bản tác phẩm của
mình một cách nhanh chóng. Trong khoảng thời gian đi nghi
với gia đình tại đảo Wight, thời gian an dưỡng và trị bệnh ở
Moor Park tại Surrey, và thời gian ở nhà, Darwin đã hoàn
thành xong cuốn Nguồn gốc của muôn loài trong vòng 10
tháng và chủ yếu là từ trí nhớ. Cuốn sách được xuất bản bởi
John Murray trong tháng 11 năm 1859, và bán chạy đến nỗi
mà kế hoạch tái bản lần thứ hai được đưa ra ngay lập tức.
Sự mô tả của Darwin trong cuốn sách đó với quan niệm là
“một cuộc tranh luận lâu dài” xác nhận đánh giá của chúng ta
về cuốn sách là sâu sắc và phong phú về nội dung - luôn luôn
tỉ mẩn, tuy có đôi chỗ chưa được như ý, nhưng thường là sinh
động và đầy xúc cảm trong kỹ năng thuyết phục. Nhận thức rõ
vô số “khó khăn” trong quá trình trình bày lý thuyết của mình
-không có bằng chứng cụ thể trong thiên nhiên về những dạng
chuyển đổi, hay sự thiếu sót của những tải liệu địa chất, đây
chỉ là hai vướng mắc nhất đổi với Darwin đôi khi người ta có
cảm giác như Darwin thích dựng lên những chướng ngại vật
đối với mình hơn là rũ bỏ chúng. Tác phẩm Nguồn gốc của
muôn loài tự tranh luận với bản thân nó, hay nói chính xác hơn
là với một người đối thoại tưởng tượng - “anh ta người mà tin
vào vô số hành động riêng rẽ của sự sáng tạo” - người mà lúc
nào cũng sẵn sàng nêu ra các ý tưởng cần thiết đối lập với
người theo chủ nghĩa sáng tạo luận. Tuy thể, sự xuất hiện của
sự thật không thể chối cãi tất nhiên luôn luôn có thể gây ấn
tượng tốt cho người đọc. Hom nữa, khi người đối thoại theo
trường phái sáng tạo luận phải đối mặt với việc giải thích sự
tồn tại lâu dài của những đặc điểm tiến hóa mặc dù khó nhận
biết về những nguyên lý thiết kế, chẳng hạn như chân có màng
của loài vịt sống trên cạn, hay là loài chim gõ kiến sống ở
những cánh đồng không có cây tại La Plata, chúng ta nhận ra
rằng những bằng chứng đó đứng về phía Darwin.
Công trình nghiên cứu gần đây của Gillian Beer về điểm chính
của Darwin nhấn mạnh nhà khoa học xét trên một vài khía
cạnh quan trọng phụ thuộc vào ngôn ngữ giống như bất kỳ
“nhà sản xuất kiến thức” nào[4]. Ngôn ngữ thể hiện kiến thức,
và kiến thức là sức mạnh, nhưng ngôn ngữ cũng nổi tiếng là
bất tín và khỏ lường, luôn có nguy cơ làm sai lệch hoặc nói
giảm những ý mà ta thực sự muốn truyền đạt. Thậm chí là bản
thân cụm từ “sự lựa chọn của tự nhiên” cũng không phải là
ngoại lệ, mà đoạn trích sau đang một lần nữa minh họa:
Người ta thường nói rằng sự lựa chọn tự nhiên diễn ra hàng
ngày, hàng giờ, trên khắp thế giới, trong mọi biến thể, thậm chí
là những cái nhỏ nhất; loại trừ những cơ thể xấu, duy trì và
phát triển tất cả cơ thể khoẻ; hoạt động một cách thầm lặng và
vô hình, bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào cơ hội xuất hiện,
biến đối theo hướng tích cực mỗi cơ thể sống trong mối quan
hệ với điều kiện sống hữu cơ và vô cơ của nó.
Xét về mặt ngôn ngữ học, cụm từ “sự lựa chọn” hàm ý một
nhân tố của sự lựa chọn có ý thức; một ai đó hoặc cái gì đó
phải tiến hành quá trình chọn lọc, nhất là khi quá trình này kết
hợp một vài động từ như “xem xét kỹ lưỡng”, “loại bỏ”, “duy
trì”, “thêm vào” và “làm việc”. Có phải là nó không để cho
cụm từ dễ dàng quên “không nhận thức”, hoặc là một chút hạn
chế “Người ta có thể nói rằng”, người đọc có thể được tha thứ
khi cho rằng trong phần này, Darwin cố gắng gán Sự thiết kế
sáng tạo cho quá trình đó, cho dù thậm chí là nội dung chính
trong công trình nghiên cứu của ông là để phản bác sự can
thiệp siêu hình như vậy. Hơn nữa, tại điểm này trong bài viết
của Darwin, “sự lựa chọn của tự nhiên” liên tục xuất hiện bằng
một phương pháp diễn đạt quen thuộc hơn về “tác nhân của tự
nhiên; chính là, từ bài luận về giống mà trong đó tự nhiên là
giống cái, người mẹ nuôi dưỡng, người mà chi “lựa chọn”
những đứa con mà bà cho là tốt nhất” (sự nhấn mạnh của tôi):
“Mọi người con được chọn lựa đều hoàn toàn do bà ta quyết
định; và người con đó được đặt trong một môi trường sống
thích hợp nhất”.
Liệu ở đây chúng ta có thể rút ra kết luận rằng Darwin không
hoàn toàn kiểm soát được ngôn ngữ mà ông sử dụng? Hay là,
rằng những nguyên tố của tác nhân trong “sự chọn lựa” và “tự
nhiên” đã giúp ông làm hài lòng những độc giả theo trường
phái chính thống trong khi lặng lẽ đưa ra lý thuyết thực của
ông dưới vỏ bọc đó? Sự thực là một điều gì đó phức tạp hơn,
là sự hòa trộn của hai, dựa trên một thực tế là ngôn ngữ chắc
chắn thể hiện thế giới trong ngữ cảnh nhân chủng học hay là
lấy con người làm trung tâm. Ông khẳng định tại một điểm
“Tôi nên tuyên bố rằng việc tôi sử dụng cụm từ Đấu tranh sinh
tồn trong ngữ cảnh rộng mang tính ẩn dụ, bao gồm sự phụ
thuộc của một các thể vào các cá thể khác, và bao gồm (điều
này quan trọng hơn) không chỉ sự sống của các thể đó mà còn
cả khả năng duy trì giống nòi”. Giống như cụm từ “sự lựa
chọn của thiên nhiên”, cụm từ “đấu tranh sinh tồn” là một
phép ẩn dụ; nó như thể là tự nhiên lựa chọn, hay là như thể
mọi sinh vật liên tục đấu tranh cho sự tồn tại của chúng.
Những hình mẫu cùng phụ thuộc, và hoạt động của “sự đấu
tranh” mang tính trừu tượng hơn nhiều, không chì đơn thuần là
sự cạnh tranh của hai loài động vật nào đó giành nhau khu đất,
và làm thay đổi đáng kể ý nghĩa của phép ẩn dụ. Tuy nhiên,
điều chính xác là ngữ nghĩa”rộng mang tính ẩn dụ” mà giúp
cuốn Nguồn gốc của muôn loài rất dễ dẫn đến kiểu hiểu nhầm
đó hoặc là sự vận dụng sáng tạo mà Darwin, trong những lần
tái bản tiếp theo bản thảo đưa ra ở đây, cố tìm kiếm sự giới hạn
và kiểm soát[5].
Ngày nay, “chủ nghĩa Darwin” và “người theo chủ nghĩa
Darwin” là những thuật ngữ quen thuộc đối với chúng ta. Do
vậy, khi đọc cuốn Nguồn gốc của muôn loài tức là chúng ta
đang tận dụng cơ hội xem xét xem kiến thức chung đấy quan
hệ gần gũi đến mức nào với nguồn mà được coi là kiến tạo ra
chúng. Bời vì có thể người ta sẽ sử dụng nó kiến thức đó
nhưng cũng có thể lạm dụng nó và có rất nhiều thứ trong “chủ
nghĩa Darwin” và “người theo chủ nghĩa Darwin” mà chúng ta
có lẽ sẽ không tìm thấy ở Darwin. Hãy lấy đoạn dẫn sau đây
về nguyên tắc chung của “người theo chủ nghĩa Darwin” làm
ví dụ:
…sự lựa chọn của tự nhiên liên tục tìm cách tối ưu hóa tất cả
các phần của một tổ chức. Nếu trong điều kiện sống bị thay
đổi, một cấu trúc mà trở nên kém hữu ích, thì bất kỳ sự suy
giảm nào dù nhỏ trong quá trình phát triển của nó sẽ được quá
trình lựa chọn của tự nhiên nắm lấy, bởi vì cấu trúc đó sẽ được
hưởng lợi do không bị lãng phí dinh dưỡng để xây dựng nên
những phần vô ích.
Do không nằm trong văn cảnh, chúng ta có thể dễ dàng hiểu
cụm từ “tổ chức” ở đây theo nghĩa quen thuộc là một công ty
thương mại, cho dù là cơ quan hợp nhất được nói đến là một
“cá thể” sống. Theo nghĩa cơ bản nhất, tác phẩm Nguồn gốc
của muôn loài là một tác phẩm của kinh tế học, của tự nhiên như là - nền kinh tế; và lịch sử cận đại của chúng ta chứng
kiến sự lớn mạnh của chủ nghĩa tự do mới, thị trường tự do,
trong những năm 1980, và sau đó là sự sụp đổ của Liên bang
Xô viết theo chủ nghĩa Cộng sản, sự chấp nhận rộng rãi mối
quan hệ kinh tế của tư bản chủ nghĩa. Những biến cố đó có thể
khiến chúng ta hiểu nội dung cuốn sách theo nghĩa nó là một
một sự khẳng định rằng trật tự kinh tế xã hội của kiểu này là
“tự nhiên” hơn các trật tự khác. Mặc dù không hề ám chỉ rằng
ngôn ngữ được sử dụng trong cuốn sách là ngôn ngữ của
những nhà quản lý doanh nghiệp đương đại, nhưng một điều
không thể phủ nhận là ngôn từ của nghệ thuật quản lý kiểu
mới - thu gọn và hợp lý hóa, nhằm tạo ra những tổ chức thích
hợp và gọn ghẽ hơn có khả năng cạnh tranh trong môi trường
kinh doanh cạnh tranh khốc liệt mà tại đó kẻ mạnh thì sống kẻ
yếu thì bị tiêu diệt - đã được mượn từ một sự lựa trọn của thiên
nhiên mà “luôn luôn thành công, xét về mặt dài hạn, trong việc
tinh giản mọi phần của tổ chức ngay khi phần đó không còn có
ích nữa”. Một doanh nhân có thể đổi cái gì để chạm vào một
vật mà Darwin gọi là “bản năng tuyệt diệu nhất trong sổ tất cả
các bản năng được biết đến”, bản năng của ông? …sự lựa chọn
tự nhiên diễn ra từ từ và ngày càng hoàn chinh điều khiến loài
ong bay từ nơi này sang nơi khác với một khoảng cách nhất
định theo dạng lớp...
 





