Viếng Lăng Bác - Bài giảng
nhan-qua

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 18h:44' 16-03-2024
Dung lượng: 2.6 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 18h:44' 16-03-2024
Dung lượng: 2.6 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Giải thích một số từ ngữ
Một vài suy nghĩ sau khi đọc cuốn sách “Nhân quả”
Kính gửi Thiếu tướng Nhà văn Chu Phác
Lời tác giả
Lời cảm ơn
Jawaharlai Nerhu (1889-1964) Và Einstein (1879-1955)
1. “Kinh nhân quả” và “Kinh nhân quả ba đời”
2. Biết ơn anh Tào Mạt
3. Báo oán
4. Lạ lùng người con gái 30 năm canh giữ bên mộ cha
5. Cụ Nguyễn Đức Cần trong cuộc sống hôm nay
6. Làm thế nào để hấp thụ năng lượng chữa bệnh một cách tốt
nhất?
7. Bố tôi và tên cướp
8. Tần Cối - Nhạc Phi
9. Ông Phát Chẩn
10. Trả ơn
11. Vong nhập được miễn thi
12. Rắn báo oán
13. Rắn xuất hiện
14. Bươm bướm
15. Đặc sản và tiếng rú
16. Bệnh “hét”
17. “Ông trời” báo oán
18. Kỳ lạ chuyện “mượn xác nữ sinh” tìm về đúng nhà liệt sỹ
19. Hành trình tìm liệt sỹ Phan Thương
20. Có một xu mà thoát chết
21. Dùng đầu lâu để cắm bút
22. Răng cắn lưỡi
23. Tự chặt một đốt ngón tay
24. Bệnh hộc máu
25. Bùa
26. Con yểm bùa mộ bố
27. Một cơ quan khoa học uy tín bị yểm bùa
28. Tấm lòng của thầy
29. Nhà bỏ hoang vì bảy người chết liên tục
30. Không nên học nghề phù thủy
31. Bất nhẫn tiểu sự thành đại sự
32. Đánh người
33. Chạy tượng
34. Bán núi
35. Vụ án dì ghẻ giết con chồng
36. Mười năm vẫn không thoát tội
37. Ác giả ác báo
38. Vua ngô 36 tấn vàng
39. Đền bù chưa đủ
40. Xóm cũng có bản xứ thần linh thổ địa
41. Truy lùng “bóng ma” đang bao trùm lên ngôi làng có những
cái chết bí ẩn
42. Chớ coi khinh thổ địa
43. Thực hư chuyện “thánh thần nổi giận vật chết mấy chục
người ở Hà Nội”
44. Đào bới mộ cổ và sự “nổi giận” của vong linh vua Trần
Nghệ Tông
45. Bệnh câm
46. Bệnh cắn
47. Tự đâm vào mình
48. Bệnh xơ cứng bì toàn thân
49. Sự trả thù của xác chết
50. Con điên và nỗi đau khổ của người cha
51. Ba đời vợ đều bị ung thư
52. Người bệnh ung thư miệng
53. Người bệnh ung thư lưỡi
54. Liệt toàn thân mười bảy năm
55. Rất nhiều người âm đòi nợ
56. Này linh, này thiêng này!
57. Lượng Phật chỉ là cục gỗ
58. Không biết thì dựa cột mà nghe
59. Bổ tượng làm củi
60. Phá tượng Phật hất xuống hồ
61. Từ chối là trung thực
62.Lo cho người sống và lo cho người chết
63. Thư ngỏ gửi các linh hồn liệt sỹ và tân bộ trưởng trên dương
thế
64. Mười cô gái Đồng Lộc
65. Ông nhân sự
66. Nhầm dấu phẩy
67. Cho xe quay lại
68. Số rồi!
69. Nguyễn Bỉnh Khiêm
70. Bệnh tóc tổ quạ
71. Pla-Tôn
72. Chữa bệnh cho thai nhi
73. Phá thai bốn tháng mười chín ngày rưỡi
74. Phá thai hơn một tháng tuổi
75. Vong bốn tháng tuổi
76. Vong nhập kêu tòa xử oan
77. 25 Lần phá thai
78. Luật cấm phá thai
79. Chót rồi - phải làm gì?
80. Cá chuối đắm đuối vì con
81. Bà ơi là bà ơi!
82. Không nên tự vẫn
83. Cảnh giác với ngải
84. Ăn cháo đá bát
85. Trời ơi! Con gái…
86. Nhớ anh Thanh Tịnh
87. Chùm thơ tìm mộ liệt sỹ
88. Thực quyền
89. Hống hách
90. Lạy cụ
91. Khổ một đời
92. Bệnh trộm vặt
93. Lời thề với người con gái
94. Một chiếc nhẫn
95. Cây có vong trú ngụ
96. Bốn đời sau mới có dịp báo oán
97. Chỉ tại con gà và miếng thịt gà
98. Chết đói
99. Miệng nam mô bụng bồ dao găm
100. Rắn thật sợ rồng giả
101. Voi nổi giận
102. Tự hành mình
103. Tam đại họa
104. Những bí ẩn về di hài tăng ni phật tử
105. Bí quyết sống lâu
106. Hậu sinh khả úy
107. Phút cuối đời của Napôlêông và Hítle
108. Xin lỗi (?)
109. Có lẽ trời có mắt thật!
110. Kỳ diệu của văn hoá phương Đông
111. Qua thuyết Âm dương ngũ hành pháp, Italia thắng là đương
nhiên
112. Tuổi Quý Tỵ (1953-2013)
Nguyễn Chu Phác
Giải thích một số từ ngữ
Theo Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ học - Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam 1992:
Linh: hồn người chết (kết hợp hạn chế) thiêng (trang 566).
Linh hồn: như vong linh (trang 566).
Linh thiêng: linh (trang 167).
Linh ứng: linh nghiệm rất nhanh, rất màu nhiệm (trang 1005).
Vong: (nói tắt) vong hồn (trang 1097).
Vong linh: linh hồn người chế́t (trang 1098).
Vong hồn: như vong linh (trang 1097).
Soi: chiếu ánh sáng vào làm cho thấy rõ (trang 847), (các nhà ngoại cảm
dùng từ “soi” có nghĩa rộng hơn như: bói, đoán bản mệnh, gia sự…).
Giải: làm cho thoát được cái đang trói buộc, hạn chế tự do (giải sầu, giải
thoát…) (trang 389).
Nghiệp: nghề làm ăn sinh sống (trang 785).
Nghiệp luật Karma: năng lượng tiềm tàng trong hành động tương lai mà hậu
quả quá khứ đem lại, ý nghiệp, khẩu nghiệp, thân nghiệp - nghiệp chướng.
Nghiệp báo - quả báo: sự đáp lại điều ác hay điều thiện đã làm trong kiếp
trước bằng điều ác hay điều thiện trong kiếp sau (trang 785).
Giải tội - giải nghiệp: tha tội cho người làm trái đạo, luật lệ (trang 390) (các
nhà ngoại cảm hoặc một số thanh đồng dùng từ “trả nghiệp”).
Sám hối: ăn năn, hối hận về tội lỗi của mình (một lời nói dối sám hối bảy
ngày) (trang 891).
Vi pà ka: Quả của nghiệp. Những điều kiện sinh khởi do hành động quá khứ
(Đại niệm xứ, tr.385).
***
Sách “Nhân quả” xuất bản chưa đầy hai tháng đã hết. Một số người đã phải
phô-tô cho mình và tặng bạn. Mấy tháng qua, tác giả nhận được nhiều điện
thoại và thư của độc giả nói lên cảm nghĩ của mình. Ví dụ kỹ sư, lương y
Nguyễn Khắc Minh viết dài ba trang, trong đó có câu:
“Sách thực sự có giá trị về mặt luân lý giáo dục con người, làm việc thiện sẽ
gặp được điều thiện, làm điều ác sẽ gặp quả báo... Kẻ ác, kẻ bất nhân sẽ bị
âm oán, dương oán, không lâu chúng sẽ bị trời tru đất diệt”. Sau đây, xin nêu
hai lá thư của GS. TSKH Đặng Vũ Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội KHKT
Việt Nam và PGS. TS Đặng Quốc Bảo, nguyên Hiệu trưởng trường Quản lý
Giáo dục.
Một vài suy nghĩ sau khi đọc cuốn sách “Nhân quả”
Nhận được cuốn sách “Nhân quả” của Thiếu tướng, Tiến sĩ, Nhà văn Chu
Phác gửi tặng, tôi đã dành cả một ngày chủ nhật để đọc. Càng đọc, tôi càng
ngạc nhiên. Vẫn biết quy luật chung ở trên đời là “ở hiền gặp lành, ác giả ác
báo”, song đây là lần đầu tiên tôi được đọc một cuốn sách kể lại nhiều
chuyện minh hoạ cho cái quy luật nói trên. Đáng chú ý, tác giả cuốn sách là
một vị tướng đã trải qua nhiều trận mạc của hai cuộc kháng chiến, một nhà
văn được nhiều người biết đến, một nhà khoa học cao tuổi nhưng vẫn say mê
nghiên cứu những điều bí ẩn thuộc về tiềm năng con người. Điều đó càng
làm cho người đọc tin vào tính chân thực của những câu chuyện kể trong
cuốn sách.
Gấp cuốn sách lại, ý nghĩ đầu tiên của tôi là mong sao có nhiều người đọc
“Nhân quả” để hiểu được cái quy luật không ai tránh khỏi trong cuộc đời.
Nếu mỗi người đều hiểu như vậy, chắc chắn những điều thiện sẽ tăng lên,
những điều ác sẽ giảm đi và xã hội ngày càng trở nên tốt đẹp hơn.
Với những suy nghĩ như trên, tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn
sách “Nhân quả”.
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2013
GS.TSKH. Đặng Vũ Minh
Chủ tịch Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam
Kính gửi Thiếu tướng Nhà văn Chu Phác
Ngày 16/5/2013
Xin chân thành cảm ơn Bác đã tặng cuốn sách “Nhân quả”.
Tôi đã đọc kỹ tập sách với những trải nghiệm rất công phu và sự diễn đạt rất
sâu sắc của Bác.
Tôi có đưa cho một vài bằng hữu đang công tác trong ngành giáo dục và các
nhà trường đọc sách này. Họ đều có chung nhận xét: giá như công tác giáo
dục ngày nay biết giáo dục niềm tin theo hướng tiếp cận nhân quả thì sẽ rất
có ích cho việc hoàn thiện nhân cách thế hệ trẻ.
Xin chúc mừng thành quả lao động của Nhà văn Chu Phác đã góp thêm một
sản phẩm hữu ích cho đời.
Kính chúc Bác mạnh khoẻ và sáng tạo.
Kính
PGS. TS. Đặng Quốc Bảo
Nguyên Hiệu trưởng trường Quản lý Giáo dục
Lời tác giả
Những năm 1990 - 2000 thế kỷ XX, mỗi lần thầy Huyền Diệu ở Ấn Độ,
Nepan về Việt Nam lại gặp tôi đàm đạo về chuyện huyền bí và chuyện nhân
quả - quả báo nhỡn tiền - trong nhân gian còn gọi là báo oán. Thầy Huyền
Diệu nghe tôi kể những chuyện mà tôi đã gặp và nghiên cứu. Thầy luôn
khuyến khích tôi viết ra in thành sách. Thầy đã cho một đệ tử đến nhà riêng
của tôi, yêu cầu tôi kể để viết giúp. Tôi đã cảm ơn và từ chối, để tôi tự viết.
Thầy còn gửi cho tôi cuốn: “Nhân quả báo ứng - những điều mắt thấy tai
nghe” gần 500 trang do cư sĩ Tịnh Tùng biên soạn, Mạt nhân Đạo Quang
dịch - Nhà xuất bản phương Đông, TP Hồ Chí Minh ấn hành năm 2010.
Để viết cuốn sách này, tôi đã suy nghĩ về quá khứ, lục tìm trong ký ức để
chọn lọc. Từ nhiều năm của thế kỷ trước, chúng tôi cùng những người có
khả năng ngoại cảm đi tìm mộ liệt sỹ. Chúng tôi bắt đầu được nghe các vong
nói chuyện về mình, về đồng đội và về gia đình, đơn vị. Trong đó có nhiều
chuyện về nhân quả, quả báo, báo oán. Đến năm 1996, Trung tâm Nghiên
cứu Tiềm năng Con người ra đời, chúng tôi được giám đốc Trung tâm và
Hội đồng khoa học giao cho các đề tài khoa học nghiên cứu về gọi hồn, áp
vong, các biểu hiện của vong và đặc biệt là các đề tài tìm mộ riêng lẻ và đề
tài tìm mộ tập thể. Anh chị em gọi là đề tài “Người sống tìm người chết”. Đề
tài xác định danh tính của liệt sỹ dưới mộ vô danh, anh chị em gọi là đề tài
“Người chết tìm người sống” vì muốn xác định được phải theo hai tiêu chí:
một là tìm được người thân và đúng quê hương mà liệt sỹ “nói”, hai là tìm
được đơn vị có tên liệt sỹ chiến đấu và hy sinh tại đó. Chính vì đề tài này rất
khó nên tiến hành chỉ đạt 6% - 14%. Đề tài “Tìm người thất lạc, người bỏ
nhà đi hoặc tìm kẻ giết người cướp của” anh chị em gọi là đề tài “Người
sống đi tìm người sống”. Đề tài này chủ yếu do hai nhà ngoại cảm Nguyễn
Đức Phụng và Nguyễn Khắc Bảy tham gia. Đến nay, anh chị em ngoại cảm
đã tìm được gần 200 nghìn ngôi mộ.
Đặc biệt, đề tài “Khảo sát các trạng thái biểu hiện của vong” và đề tài “Giả
thiết, lý giải các biểu hiện của vong dưới góc độ khoa học” mã số TK10 và
mã số TK12 TM/TL (2010) đã được Hội đồng khoa học đánh giá cao. Trong
đó có đề tài nhánh “Bệnh âm và lý giải”. Như vậy, hai mươi năm nghiên cứu
đối tượng khoa học, thực chất là tìm hiểu về vong, được biểu hiện qua các
nhà ngoại cảm. Đến nay là thế hệ ngoại cảm thứ tư và thứ năm xuất hiện. Vì
các anh chị em ở thế hệ trước, một số người đã hết khả năng hoặc khả năng
đã giảm nhiều hoặc một số không còn trong sáng vô tư nữa. Cũng từ việc
nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy nếu không có sự giúp đỡ của vong linh
thì không thể tìm được mộ và sự thành công của nhiều việc về văn hóa
phương Đông khác.
Để nghiên cứu, chúng tôi tiếp cận theo phương pháp “Lý thuyết tiếp cận hệ
thống” (System Approach), để tìm hiểu hiện tượng nổi (emergence) của toàn
bộ hệ thống. Vì rất nhiều trạng thái biểu hiện của vong nên chọn hiện tượng
nào? Qua nghiên cứu lý thuyết tiếp cận hệ thống và lý thuyết chỉnh thể của y
học phương Đông, chúng tôi thấy không có gì là mâu thuẫn, cũng qua
nghiên cứu, chúng tôi “chộp” được một biểu hiện của vong thấy rất thú vị và
rất quan trọng đối với cuộc sống con người hiện nay: đó là luật nhân quả mà
trong nhóm cán bộ nghiên cứu của đề tài gọi là báo oán hoặc quả báo và giải
nghiệp. Để nghiên cứu về nhân quả và giải nghiệp, chúng tôi dựa theo lý
thuyết và quan điểm trong cặp phạm trù “tất nhiên và ngẫu nhiên” và cặp
phạm trù “nhân quả” thì phương pháp tiếp cận dựa vào cặp phạm trù “nhân
quả” là phù hợp. Vì đạo Phật cũng nói tới nhân quả… trong điều kiện nào đó
“nhân” sẽ thành “quả”. Đầu vào, đầu ra qua hộp đen của lý thuyết tiếp cận hệ
thống, muốn tìm được “nhân” đối chiếu với “quả” thì phải soi chéo rồi khớp
lại mới tiến hành giải nghiệp hay trả nghiệp - giải nghiệp chướng. Có giải
được nghiệp chướng thì mới giải thoát khỏi báo oán. Ví dụ đem súng, gươm,
đao, kiếm, bom, đạn đi giết chết hàng nghìn, hàng vạn người dân vô tội ở các
nước với những lời giả dối, mĩ miều thì làm sao giải được nghiệp chướng
hoặc cậy vào sức mạnh đồng tiền và thế lực đã phá đền chùa, am thờ, miếu
mạo, mồ mả, phá hủy hài cốt của người khác.
Tưởng rằng có quyền lực ở dương thế thì muốn làm gì cũng được. Đây thực
sự là ảo tưởng và huyễn tưởng, thậm chí vì ham đất đai, quyền lực, tiền của
mà bất hiếu, bất trung với cha mẹ, gia tiên; anh chị em hại nhau, bạn hữu hại
nhau, họ hàng giết nhau, cùng một dân tộc, một đất nước cũng giết hại lẫn
nhau. Ôi! Thật là thê thảm! Chiến tranh! Hận thù cá nhân! Lòng tham vô đáy
của con người… Hận thù chồng chất hận thù! Chiến tranh chồng chất chiến
tranh!
Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, để chuẩn bị cho Đại hội lần
thứ IV của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị
cho tôi sưu tầm những quan điểm của chủ nghĩa Mác nói về con người và
gợi ý chuẩn bị thành lập Viện Nhân học. Thật may mắn, tôi còn lưu giữ được
nhiều tư liệu quý về “báo oán” của thiên nhiên. Sau đây, tôi xin trích một số
lời của C.Mác, nói về sự trả thù của thiên nhiên: “Con người sống dựa vào tự
nhiên. Như thế nghĩa là tự nhiên là thân thể con người. Để khỏi chết, con
người phải ở trong quá trình giao dịch thường xuyên với thân thể đó. Sinh
hoạt vật chất và tinh thần của con người liên hệ khăng khít và tự nhiên. Vì
con người là một bộ phận của tự nhiên. Đặc biệt, những đoạn viết sau đây
của Anghen trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” (1875-1876), chúng
tôi suy ngẫm liên hệ với tình hình nước ta và khu vực hiện nay thì rất đúng:
“Loài vật sống phần nhiều dựa vào tự nhiên… con người nhận thức được
quy luật của tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó phục vụ
những mục đích của mình, nhằm thống trị tự nhiên”. Đồng thời, Anghen
cũng nhắc nhở: “Nhưng con người cũng không nên quá tự hào thắng lợi về
khoa học mà con người chinh phục được tự nhiên… Vì sau đó, tự nhiên sẽ
trả thù, lần thứ hai mạnh hơn lần trước, lần thứ ba dữ dội hơn lần hai…”.
Anghen đã đưa ra dẫn chứng về thảm họa ở một số nước, ông còn phân tích
sự khác nhau của châu Âu và châu Á. C.Mác còn nói: “Một tự nhiên hào
phóng thì nó dắt tay người ta đi như dắt tay trẻ con tập đi. Nó ngăn cản con
người tàn phá tự nhiên phát triển, bằng cách không cho sự phát triển của con
người trở thành một tất yếu”. (Nghĩa là bất chấp quy luật của tự nhiên, tàn
phá tự nhiên).
Nghiên cứu lý luận Mác - Anghen, cặp phạm trù “nhân quả” của chủ nghĩa
Mác đối chiếu với thực tế loài người, con người trên dương thế thì không
những có Báo oán - Quả báo - Nhân quả giữa con người với con người mà
còn Báo oán - Quả báo - Nhân quả của tự nhiên (thiên nhiên) với con người.
Triết học phương Đông cách đây trên 2000 năm đã nói: “Vũ trụ này là vũ trụ
đạo lý, vũ trụ tâm linh. Khi tri thiên tức là khi đã biết đến trời thì người ta
không những là công dân của xã hội nhân quần mà còn là công dân của trời,
công dân của vũ trụ… Người ta không những được hưởng phẩm tước của xã
hội nhân quần mà còn hưởng phẩm tước của trời”.
Trong cuốn sách này, chúng tôi không nêu sự Báo oán - Nhân quả của tự
nhiên với con người mà chỉ nêu Nhân quả của con người với con người.
Ngoài ra, chúng tôi đưa vào một số truyện ngắn, truyện kể nhằm giúp người
đọc bớt căng thẳng, nhưng vẫn nói lên Nhân quả - Báo ứng. Ví dụ, truyện về
con sói (Ăn cháo đá bát) nói lên sự vô ơn; truyện “Trời ơi, con gái!” nói về
sự kiêu căng; truyện “Bà ơi là bà ơi!” nói đến sự bất hiếu; và truyện “Chết
đói” nói lên lòng nhân đạo…
Theo cố nhà ngoại cảm có quyền năng huyền bí - Nguyễn Đức Cần - đã nói:
“Con người có hai loại bệnh: Thân bệnh và nghiệp bệnh. Thân bệnh thì có
thể chữa được, nghiệp bệnh thì khó. Nghĩa là có người có thể khỏi bệnh, có
người không khỏi và có người cụ không nhận chữa”.
Theo nghiên cứu của chúng tôi thấy có thể có ba loại nhân quả. Loại báo oán
ngay đối với người gây ra đau khổ, chết chóc với người khác, hoặc xâm
phạm đến nơi thờ phụng của vong linh, thánh thần, chùa chiền… Cũng có
loại một hai đời sau mới phải gánh họa của cha ông gây ra và cũng có loại
năm bảy đời sau thì họa mới đến dữ dội, liên tiếp mà người đời không hiểu
tại sao.
Hiện nay, có người nửa tin, nửa không tin hoặc vì quá ham quyền lực, tiền
bạc, đất đai nên vẫn lao vào con đường Ý, Khẩu, Thân làm điều ác và vẫn cứ
tưởng rằng họ sẽ thoát khỏi lưới trời. Họ không hiểu, không thấy được luật
nhân quả đang ở trước mặt. Vì thế giới này được điều khiển tự động bằng
luật Nhân quả! Đây chính là luật của Vũ trụ - luật của Vũ trụ là luật Nhân
quả. Đúng là “thiên võng khôi khôi sơ nhi bất lậu” (lưới trời tuy thưa nhưng
không gì có thể lọt qua được). Dân gian ta còn có vè rằng:
“Ai ơi chớ vội khoe tài
Hôm nay võng lọng ngày mai bộ hành
Ngày kia bị, gậy, chiếu manh
Ngày kìa đui cụt, lê quanh chân giường!”
Để cứu giải, giải nghiệp thì cứ lễ lạt phần âm thật to ư? Như hiện nay có
người sẵn sàng bỏ ra một tỷ hoặc mười tỷ để lễ lạt âm phần phù hộ cho họ.
Không được đâu! Chả lẽ thánh thần cũng tham nhũng ư? Như thế thì không
còn là thánh nữa.
Lễ lạt cốt lòng thành, người tốt sẽ được âm phù, dương trợ. Không thể đem
tiền ra mua thánh thần, sẽ thêm tội đấy. Nhiều người cứ tưởng rằng lễ to thì
thoát tội. Một số người lợi dụng sự đau khổ của người khác để moi tiền bạc
của họ. Chắc chắn đó là tội ác. Ở đời không phải tội gì cũng sám hối giải
nghiệp được. Ví như tội giết cha mẹ, anh em; tội bán nước cầu vinh. Ở đời
không phải cuộc lễ cầu nào cũng được chứng, cũng thành công. Đút lót
nhiều, hối lộ nhiều với thánh thần càng thêm tội. Thầy sẽ phải gánh họa.
Cuốn sách này hi vọng sẽ góp phần suy ngẫm cho người đọc.
Xã hội phát triển, nhiều người làm việc thiện, nhiều người chân thật và tốt
bụng… Nhưng chúng ta cũng đang phải sống trong thời kỳ vàng thau lẫn
lộn, ngoại cảm giả danh, tà vong quá nhiều, từ thiện cửa miệng, kẻ cơ hội nổi
lên kiếm chác. Điều đó làm cho niềm tin xã hội bị chao đảo. Nhưng chúng
tôi cho rằng, cùng với sự phát triển, nhiều người có lòng nhân ái thực sự, từ
thiện thực sự và tài năng đặc biệt thực sự thì chính con người sẽ sàng lọc
được và thời gian chắc chắn sẽ trả lại sự chân chính đích thực…
Xin chân thành cảm ơn.
THIẾU TƯỚNG, TIẾN SĨ, NHÀ VĂN NGUYỄN CHU PHÁC
Lời cảm ơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn thầy Huyền Diệu đã liên tục động viên, cảm
ơn tất cả các anh, các chị, các nhà văn hóa phương Đông, các nhà ngoại cảm
đã đóng góp nhiều công sức, tài liệu, bài báo quý giá và động viên để tôi có
nghị lực hoàn thành cuốn sách này. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ông
Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học và Nghệ thuật Việt Nam, Hội
Nhà văn Việt Nam, Nhà xuất bản Hội Nhà văn và nhà in Mai Linh. Có điều
gì sơ suất mong được mọi người thứ lỗi và thông cảm.
THIẾU TƯỚNG, TIẾN SĨ, NHÀ VĂN NGUYỄN CHU PHÁC
Ngẫm xem muôn sự ở đời
Ác thì gặp ác nhân thời gặp nhân
Lúc thịnh đạt gia tà trá đạo
Lúc cuối đời quả báo coi chừng!
NGUYỄN BỈNH KHIÊM
“Càng ngày con người càng tin vào luật NHÂN QUẢ và ngay cả khoa học
cũng đang tiến dần vào việc xác nhận sự kiện nữa.
Riêng tôi, tôi tin vào luật NHÂN QUẢ”.
ALBERT EINSTEIN
Jawaharlai Nerhu (1889-1964) Và Einstein (1879-1955)
Năm 1949, Nerhu nhân chuyến viếng thăm Mỹ có đến thăm Albert Einstein
tại Princeton - Nerhu bày tỏ:
“Nền văn hoá toàn cầu ngày nay tạo ra nhiều của cải vật chất, nhưng lại vô
trách nhiệm đối với việc chăm sóc đạo đức con người”.
Einstein đáp:
“Vâng, nền văn hoá chăm lo đạo đức chính là nền văn hoá phương Đông cổ
truyền của các ông”.
Nhà khoa học Carl Sagan hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma:
- “Ngài nghĩ sao nếu thuyết Nhân quả bị khoa học phương Tây chứng minh
là sai?”
Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời:
“Nếu khoa học phương Tây chứng minh được rằng thuyết Nhân quả - tái
sinh là không đúng; Phật giáo Tây Tạng sẽ huỷ bỏ ngay thuyết Nhân quả.
Tuy nhiên sẽ là rất khó khăn để mà quý vị bác được thuyết Nhân quả”.
Tồn tâm bất thiện
Phong thuỷ vô ích
Bất hiếu phụ mẫu
Phụng thần vô ích
Huynh đệ bất hoà
Giao hữu vô ích
…
…
Thời vận bất thông
Cúng cầu vô ích
“TU DƯỠNG QUYẾT”
- KHỔNG TỬ 1. “Kinh nhân quả” và “Kinh nhân quả ba đời”
(Trích)
“…
Những người chửi mắng mẹ cha
Chết xuống âm phủ phải sa vạc dầu
Những người bầu bạn lừa nhau
Báo oán gặp phải cụt đầu, mất chân
Những người ăn của bần dân
Chết xuống âm phủ người âm vẫn đòi
Những người ăn chơi dạc dài
Kiếp này, kiếp nữa là loài súc sinh
Những người đanh đá điêu toa
Nước đồng đổ miệng, máu ra đầy mồm
Những người chửi rủa sa môn
Thánh thần phỉ báng - méo mồm gẫy răng
Phật truyền nhân quả chư kinh
Đọc để suy ngẫm sửa mình, tu thân…”
2. Biết ơn anh Tào Mạt
Cây có gốc mới nở cành xanh lá
Nước có nguồn mới biển cả sông sâu
Người ta nguồn gốc từ đâu
Có tổ tiên trước rồi sau có mình.
Năm 1990, tôi và anh Tào Mạt cùng về ở phố Lý Nam Đế. Anh ở số lẻ, tôi ở
số chẵn, đối diện nhau, chỉ cách một con đường. Vì thế, hàng ngày, chúng
tôi thường qua lại hàn huyên. Tôi thấy anh không những hiểu sâu sắc về lịch
sử nước nhà mà còn rất uyên thâm về Hán học.
Một hôm, tôi nhờ anh giúp đỡ. Tôi bảo: “Bố tôi có di chúc riêng với tôi là:
Bố đã dịch xong gia phả của gia tiên để lại, riêng lời gia huấn văn chương
súc tích lắm, con xem ai đó dịch thoát được thì con nhờ”. Tôi khẩn khoản
nhờ anh Tào Mạt. Anh vui vẻ nhận lời ngay, yêu cầu đưa bản gốc chữ Hán
(viết mực tàu trên giấy dó). Tôi đưa cho anh. Đọc qua, anh bảo: “Đọc gia
phả nhà anh, tôi cũng học thêm được nhiều. Nhưng muốn dịch lời gia huấn
của họ Nguyễn thì phải đọc kỹ toàn bộ gia phả, dịch mới thoát”. Sau đây là
bản dịch của anh Tào Mạt. Cả họ tôi biết ơn anh!
LỜI GIA HUÂN CỦA HỌ NGUYỄN CHU
(Do nghệ sĩ nhân dân Tào Mạt dịch)
Tích đức như quả khô
Nghìn năm lại nở thiên thu vẹn toàn
Chữ nhẫn là chữ tráng vàng
Hễ ai nhẫn được thời càng bền lâu.
Vẫn nghe:
Một trung thành diệt muôn quỷ quyệt.
Một kính cẩn hơn vạn gian ngoa.
Lại nghe:
Hiếu là gốc cho mọi điều thiện, cho nên lập được chữ hiếu thì mọi đức tốt có
theo, điều thiện phải luôn luôn giữ, giữ được điều thiện có thể làm Thầy.
Phàm trong nhà phải có lễ bái các Thổ địa, Thần kỳ, các vị Phật thánh linh
thiêng, các Tôn thần trong nhà, cùng với Tổ tiên, cần phải hết lòng kính cẩn,
luôn luôn giữ tâm tính và thân thể cho trong sạch, cầu lấy bình an phúc ấm.
Cho nên có câu rằng: Thần hưởng lòng thành có lòng thành mới cảm được
Thần. Thần cảm mình thì được, không lấy lễ lạt mà xin được. Thần không vì
lễ hậu mà giáng phúc, không vì lễ bạc mà ra tai. Tất cả chỉ dựa vào phúc đức
mà thôi.
Người xưa dạy rằng: Chay ba ngày, giới bảy ngày gọi là “chay tam giới
thất”.
Thứ nhất: Lập thân
Ý thực, lòng ngay, làm nhân, tích đức.
Ở hiếu, giữ trung không hoang, không dâm, không tham, không lam, không
lười, không chơi mà siêng năng công việc.
Đọc sách, cày ruộng là hai việc lập nghiệp. Thức khuya dậy sớm lấy đức
chăm chỉ mà xây dựng cơ nghiệp.
Không để rỗi chân tay.
Không để lòng dục buông tuồng.
Giữ cần kiệm để mở rộng sự nghiệp.
Không kiêu, không ghen, không hèn, không nịnh để giữ phẩm giá của mình.
Trọng cái mà mình có, chính là quý bản thân.
Sách luận ngữ dạy: “Học giả, học để làm người”.
Liêm khiết có thể làm vẻ vang cho tổ tiên, để sung sướng cho con cháu.
Thứ hai: Xử thế
Thờ nước phải trung.
Thờ bố mẹ phải hiếu thảo.
Đối với bậc anh chị phải lễ phép săn sóc.
Đối với người dưới mình phải quý trọng nhân cách của họ.
Luôn luôn giữ lời giữ nết cẩn thận trong việc làm.
Nói năng khiêm nhường.
Không nịnh kẻ giàu sang.
Không khinh người nghèo khó.
3. Báo oán
TÍCH XƯA
Thưở xưa, vào đời nhà Đường, có một vị quốc sư hiệu là Ngô Đạt, tên là Tri
Huyền. Lúc chưa hiển đạt, ngài thường gặp gỡ một nhà sư ở đất Kinh Sư
trong một ngôi chùa nọ. Nhà sư ấy mắc bệnh hủi, ai cũng gớm, chỉ có ngài
Tri Huyền là thường gần gũi hỏi han giúp đỡ, không hề khinh rẻ. Nhân lúc
chia tay, nhà sư vì cảm kích trước tấm lòng của ngài Tri Huyền mới dặn
rằng: Sau này ông có nạn chi, nên qua núi Cửu Lũng tìm tôi, và nhớ trên núi
ấy có hai cây tùng làm dấu chỗ tôi trú ngụ.
Sau đó ngài Ngô Đạt quốc sư đến ở chùa An Quốc thì đạo đức của ngài càng
vang khắp. Vua thân hành đến pháp tịch nghe ngài giảng đạo. Nhân đó vua
mới ân từ cho ngài cái pháp tọa bằng gỗ trầm hương. Nhưng, cũng từ đó trên
đầu gối của ngài bỗng nhiên mọc một mụn ghẻ tựa như mặt người, đau nhức
khôn xiết. Ngài cho mời tất cả các bậc danh y, nhưng không ai chữa được.
Nhân ngài nhớ lời dặn trước bèn đi vào núi mà tìm.
Trên đường đi, trời đã tối, trong khoảng âm u mây bay khói tỏa mịt mù, ngài
nhìn xem bốn phía, bỗng thấy hai cây tùng, ngài mới tin rằng lời ước hẹn
xưa không sai. Ngài liền đến ngay chỗ đó, quả nhiên thấy lầu vàng điện ngọc
lộng lẫy nguy nga, ánh quang minh chói rọi khắp nơi. Trước cửa, nhà sư
đang đứng chờ đón ngài một cách thân mật.
Nhân tiện ở lại đêm, ngài Ngô Đạt mới tỏ hết sự đau khổ của mình. Nhà sư
ấy nói: Không hề gì đâu, dưới núi này có một cái suối, sáng mai rửa, mụn
ghẻ ấy khỏi ngay.
Mờ sáng hôm sau, một chú tiểu đồng dẫn ngài ra ngoài suối, ngài vừa bụm
nước lên rửa thì mụn ghẻ kêu lên:
- Đừng rửa vội. Ông học nhiều biết rộng, đã khảo cứu các sách cổ kim, mà
đã từng đọc đến truyện Viên Áng, Tiều Thố chép trong bộ Tây Hán chưa?
- Tôi có đọc.
- Ông đã đọc rồi lẽ nào lại không biết truyện Viên Áng giết Tiều Thố vậy.
Thố bị chém ở chợ phía đông oan ức biết dường nào. Ông chính là Viên Áng
đó. Đời đời tôi tìm cách báo thù ông, xong đã mười kiếp ông làm bậc cao
tăng, giới luật tinh nghiêm, nên tôi chưa có cơ hội báo oán được.
Nay vì ông được nhà vua quá yêu chuộng nên khởi tâm danh lợi làm tổn giới
đức, tôi mới báo thù được ông. Nay nhờ ngài Ca Nặc Ca tôn giả lấy nước
pháp Tam muội rửa oán cho tôi rồi, từ đây trở đi tôi không còn báo oán ông
nữa.
Ngài Ngô Đạt nghe qua hoảng sợ liền vội vàng múc nước gột rửa mụn ghẻ,
làm nhức nhối tận xương tủy, chết giấc hồi lâu mới tỉnh. Khi tỉnh lại thì
không thấy mụn ghẻ ấy nữa. Ngài muốn trở lên lạy tạ vị sư, nhưng ngoảnh
lại thì ngôi bảo điện kia đã biến mất tự bao giờ. Vì thế, ngài bèn lập một cái
thảo am ngay chỗ ấy và sau trở thành một ngôi chùa. Khi đó, ngài Ngô Đạt
nghĩ đến nỗi oan trái đã bao đời nếu không gặp thánh nhân thì đâu có khỏi
được. Vì cảm niệm cái ơn tế độ lạ lùng ấy, ngài mới thuật ra pháp sám này
để sớm hôm lễ tụng, sau truyền bá khắp thiên hạ.
Nghĩa chính của bài văn này là lấy nước Tam muội rửa sạch nghiệp oan
khiên nên mới đặt tên là Thủy Sám.
(Trích Kinh Thủy Sám)
CHUYỆN NAY
Ở một làng quê ngoại thành Hà Nội, trong một gia đình nông dân nọ, có bảy
người con trai. Gia đình họ làm ăn chất phác, chăm chỉ nên tạo dựng được
một cơ ngơi, nhà cửa, vườn ao rộng rãi.
Nhưng có một chuyện lạ, là những người con trong gia đình này, cứ đến năm
mười bảy tuổi là bị tai nạn chết, người thì bị chết đuối, người thì bị ngã do
trèo cây, người thì bị xe đâm khiến gia đình rất sợ hãi, đã đi cúng lễ ở nhiều
nơi, đã mời nhiều thầy về cúng lễ tại nhà. Nhưng cứ đến hạn định, người con
nào đến mười bảy tuổi là bị đột tử mà chết thảm thương. Có sáu người con
của họ bị chết như vậy.
Và chỉ còn một người con trai duy nhất năm đó đã bước vào tuổi mười bảy.
Gia đình người nông dân đó như nằm trên đống lửa.
Năm đó, vào vụ gặt mùa, cụ Trưởng Cần sang làng thăm một số bà con bệnh
nhân mà trước đó họ đã tha thiết mời cụ. Khi cụ vừa đến cánh đồng làng thì
nhiều người đang làm đồng trông thấy, vội chạy ra chào đón tíu tít. Cụ dừng
chân, hỏi chuyện bà con. Mọi người vui mừng kể rằng năm nay được mùa,
lúa tốt, nhà nào thóc cũng đầy sân. Đang lúc vui chuyện, thì vợ chồng nhà
nọ, không biết có ai mách bảo, chạy đến quỳ thụp ngay dưới chân cụ, kêu
xin cụ cứu giúp. Họ vừa khóc, vừa kể lể sự tình và kêu xin:
- Bây giờ gia đình chúng con chỉ còn đứa con trai duy nhất, trăm lạy cụ cứu
cho.
Cụ trầm ngâm đôi chút, rồi bảo:
- Thôi, hãy đứng dậy đã. Được, tôi sẽ giúp.
Mọi người có mặt lúc đó ai cũng mừng cho họ, vì thấy cụ đã nhận lời.
Nhưng, người ta còn chờ xem số phận của người con trai họ. Một năm trôi
qua, rồi hai năm… gia đình họ vẫn bình yên. Và đến khi chàng trai tròn hai
mươi tuổi thì gia đình cưới vợ cho con, họ sang báo tin mừng và mời cụ. Cụ
bảo:
- Tôi mừng cho ông bà, nhưng muốn giữ gìn được gia đình hạnh phúc thì
phải luôn ăn ở có đạo đức, làm nhiều điều tốt đẹp.
Sau này, cụ cho biết: Kiếp trước nhà kia đã làm chết bảy người của một gia
đình trong một hố vôi, họ đã bị chết rất thảm thương và đến đời này họ đòi
lại món nợ.
Oán thù nếu không được giải, thì nó sẽ chất chồng mãi, đời này sang đời
khác.
4. Lạ lùng người con gái 30 năm canh giữ bên mộ cha
Trong đạo hiếu ngày xưa có quy định về việc con canh mộ cha. Khi người
bố qua đời thì người con trai trưởng phải dựng lều bên mộ bố, túc trực canh
giữ suốt ba năm. Ba năm đi chân đất, mặc áo vải sô, ăn uống đạm bạc, ba
năm không uống rượu, ba năm không gần nữ sắc. Trong ba năm đó, kể cả có
chiếu chỉ của nhà vua cũng không phải chấp hành. Như vậy, quy định này
trong đạo hiếu đã trở thành quốc pháp. Nhưng đó là chuyện thời xa xưa và
cũng chỉ là việc dành riêng cho đàn ông. Còn trong thời đại ngày nay mà có
một người con gái 30 năm ròng canh bên mộ cha là chuyện lạ lùng nhất ở
nước ta, từ cổ chí kim chưa thấy.
Người con gái này là bà Nguyễn Thị Sinh, sinh năm 1947, trú quán làng
Thanh Mai, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Gọi làng Thanh Mai là trú quán của
bà Sinh vì nguyên quán của bà không ở đây mà ở làng Đại Yên, phường
Ngọc Hà, quận Ba Đình, Hà Nội. Cuối năm 1946, giặc Pháp tấn công Hà
Nội, Bác Hồ kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Thực hiện chủ
trương tiêu thổ kháng chiến, người Hà Nội sơ tán về các làng quê. Một ngày
đầu tháng 4/1947, trong khi chạy giặc, bà Lê Thị Tuyết - vợ ông Nguyễn
Đức Cần đẻ rơi đứa con gái thứ hai trên bãi ngô cánh đồng làng Thanh Mai,
Thanh Oai, Hà Đông cũ. Bà Tuyết ôm đứa con gái còn đỏ hỏn vào ở nhờ
dưới mái hiên ngôi đình thôn My Hạ. Do chạy giặc vất vả và ăn uống thiếu
thốn nên bà Tuyết bị mất sữa. Không có sữa bú, bé gái sơ sinh khóc suốt
đêm, khiến nhiều người thôn My Hạ khó ngủ. Người khó ngủ nhất là vợ ông
Bùi Văn Hồ, nhà ở sát đình thôn. Bà Hồ cũng vừa sinh một đứa con gái
nhưng chỉ bốn ngày sau thì cháu đã bỏ cha mẹ mà đi. Ôm hai bầu vú căng
đầy sữa, bà Hồ vừa thương đứa con đã mất lại vừa thương đứa bé khát sữa
đang khóc ngằn ngặt ngoài đình. Bà Hồ nhổm dậy, cầm ngọn đèn dầu đi ra
đình thôn cho đứa bé khát sữa bú nhờ. Đứa bé bập vào bầu sữa của bà Hồ,
mút lấy mút để rồi sau đó ngủ rất ngoan. Bà Hồ đã ba lần sinh nở và cả ba
lần con đầu chết yểu. Có người nói rằng, bà nhà phải xin con nuôi rồi sau đó
mới nuôi được con đẻ. Bà Hồ về nhà bàn với chồng ra đình thôn thưa chuyện
với bà Tuyết xin nhận bé gái sơ sinh làm con nuôi. Đứa bé gái sơ sinh ấy
chính là bà Nguyễn Thị Sinh ngày nay.
Ngôi mộ mà bà Sinh làm nhà trông coi suốt 30 năm qua là linh phần của cụ
Nguyễn Đức Cần, còn gọi là cụ Trưởng Cần - thân phụ của bà Sinh. Cụ
Trưởng Cần là một nhân vật rất đặc biệt, một con người có thật mà đời sống
như huyền thoại. Cụ Nguyễn Đức Cần sinh vào đêm 30 Tết Kỷ Dậu, niên
hiệu Duy Tân thứ ba (1909), là con trai của cụ Phó tổng Nguyễn Đức Nhuận
và bà Hoàng Thị Khế.
Khi Nguyễn Đức Cần học năm cuối trường Anbe Xarô (mang tên toàn quyền
Pháp), thì cụ Nhuận mắc một chứn...
Giải thích một số từ ngữ
Một vài suy nghĩ sau khi đọc cuốn sách “Nhân quả”
Kính gửi Thiếu tướng Nhà văn Chu Phác
Lời tác giả
Lời cảm ơn
Jawaharlai Nerhu (1889-1964) Và Einstein (1879-1955)
1. “Kinh nhân quả” và “Kinh nhân quả ba đời”
2. Biết ơn anh Tào Mạt
3. Báo oán
4. Lạ lùng người con gái 30 năm canh giữ bên mộ cha
5. Cụ Nguyễn Đức Cần trong cuộc sống hôm nay
6. Làm thế nào để hấp thụ năng lượng chữa bệnh một cách tốt
nhất?
7. Bố tôi và tên cướp
8. Tần Cối - Nhạc Phi
9. Ông Phát Chẩn
10. Trả ơn
11. Vong nhập được miễn thi
12. Rắn báo oán
13. Rắn xuất hiện
14. Bươm bướm
15. Đặc sản và tiếng rú
16. Bệnh “hét”
17. “Ông trời” báo oán
18. Kỳ lạ chuyện “mượn xác nữ sinh” tìm về đúng nhà liệt sỹ
19. Hành trình tìm liệt sỹ Phan Thương
20. Có một xu mà thoát chết
21. Dùng đầu lâu để cắm bút
22. Răng cắn lưỡi
23. Tự chặt một đốt ngón tay
24. Bệnh hộc máu
25. Bùa
26. Con yểm bùa mộ bố
27. Một cơ quan khoa học uy tín bị yểm bùa
28. Tấm lòng của thầy
29. Nhà bỏ hoang vì bảy người chết liên tục
30. Không nên học nghề phù thủy
31. Bất nhẫn tiểu sự thành đại sự
32. Đánh người
33. Chạy tượng
34. Bán núi
35. Vụ án dì ghẻ giết con chồng
36. Mười năm vẫn không thoát tội
37. Ác giả ác báo
38. Vua ngô 36 tấn vàng
39. Đền bù chưa đủ
40. Xóm cũng có bản xứ thần linh thổ địa
41. Truy lùng “bóng ma” đang bao trùm lên ngôi làng có những
cái chết bí ẩn
42. Chớ coi khinh thổ địa
43. Thực hư chuyện “thánh thần nổi giận vật chết mấy chục
người ở Hà Nội”
44. Đào bới mộ cổ và sự “nổi giận” của vong linh vua Trần
Nghệ Tông
45. Bệnh câm
46. Bệnh cắn
47. Tự đâm vào mình
48. Bệnh xơ cứng bì toàn thân
49. Sự trả thù của xác chết
50. Con điên và nỗi đau khổ của người cha
51. Ba đời vợ đều bị ung thư
52. Người bệnh ung thư miệng
53. Người bệnh ung thư lưỡi
54. Liệt toàn thân mười bảy năm
55. Rất nhiều người âm đòi nợ
56. Này linh, này thiêng này!
57. Lượng Phật chỉ là cục gỗ
58. Không biết thì dựa cột mà nghe
59. Bổ tượng làm củi
60. Phá tượng Phật hất xuống hồ
61. Từ chối là trung thực
62.Lo cho người sống và lo cho người chết
63. Thư ngỏ gửi các linh hồn liệt sỹ và tân bộ trưởng trên dương
thế
64. Mười cô gái Đồng Lộc
65. Ông nhân sự
66. Nhầm dấu phẩy
67. Cho xe quay lại
68. Số rồi!
69. Nguyễn Bỉnh Khiêm
70. Bệnh tóc tổ quạ
71. Pla-Tôn
72. Chữa bệnh cho thai nhi
73. Phá thai bốn tháng mười chín ngày rưỡi
74. Phá thai hơn một tháng tuổi
75. Vong bốn tháng tuổi
76. Vong nhập kêu tòa xử oan
77. 25 Lần phá thai
78. Luật cấm phá thai
79. Chót rồi - phải làm gì?
80. Cá chuối đắm đuối vì con
81. Bà ơi là bà ơi!
82. Không nên tự vẫn
83. Cảnh giác với ngải
84. Ăn cháo đá bát
85. Trời ơi! Con gái…
86. Nhớ anh Thanh Tịnh
87. Chùm thơ tìm mộ liệt sỹ
88. Thực quyền
89. Hống hách
90. Lạy cụ
91. Khổ một đời
92. Bệnh trộm vặt
93. Lời thề với người con gái
94. Một chiếc nhẫn
95. Cây có vong trú ngụ
96. Bốn đời sau mới có dịp báo oán
97. Chỉ tại con gà và miếng thịt gà
98. Chết đói
99. Miệng nam mô bụng bồ dao găm
100. Rắn thật sợ rồng giả
101. Voi nổi giận
102. Tự hành mình
103. Tam đại họa
104. Những bí ẩn về di hài tăng ni phật tử
105. Bí quyết sống lâu
106. Hậu sinh khả úy
107. Phút cuối đời của Napôlêông và Hítle
108. Xin lỗi (?)
109. Có lẽ trời có mắt thật!
110. Kỳ diệu của văn hoá phương Đông
111. Qua thuyết Âm dương ngũ hành pháp, Italia thắng là đương
nhiên
112. Tuổi Quý Tỵ (1953-2013)
Nguyễn Chu Phác
Giải thích một số từ ngữ
Theo Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ học - Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam 1992:
Linh: hồn người chết (kết hợp hạn chế) thiêng (trang 566).
Linh hồn: như vong linh (trang 566).
Linh thiêng: linh (trang 167).
Linh ứng: linh nghiệm rất nhanh, rất màu nhiệm (trang 1005).
Vong: (nói tắt) vong hồn (trang 1097).
Vong linh: linh hồn người chế́t (trang 1098).
Vong hồn: như vong linh (trang 1097).
Soi: chiếu ánh sáng vào làm cho thấy rõ (trang 847), (các nhà ngoại cảm
dùng từ “soi” có nghĩa rộng hơn như: bói, đoán bản mệnh, gia sự…).
Giải: làm cho thoát được cái đang trói buộc, hạn chế tự do (giải sầu, giải
thoát…) (trang 389).
Nghiệp: nghề làm ăn sinh sống (trang 785).
Nghiệp luật Karma: năng lượng tiềm tàng trong hành động tương lai mà hậu
quả quá khứ đem lại, ý nghiệp, khẩu nghiệp, thân nghiệp - nghiệp chướng.
Nghiệp báo - quả báo: sự đáp lại điều ác hay điều thiện đã làm trong kiếp
trước bằng điều ác hay điều thiện trong kiếp sau (trang 785).
Giải tội - giải nghiệp: tha tội cho người làm trái đạo, luật lệ (trang 390) (các
nhà ngoại cảm hoặc một số thanh đồng dùng từ “trả nghiệp”).
Sám hối: ăn năn, hối hận về tội lỗi của mình (một lời nói dối sám hối bảy
ngày) (trang 891).
Vi pà ka: Quả của nghiệp. Những điều kiện sinh khởi do hành động quá khứ
(Đại niệm xứ, tr.385).
***
Sách “Nhân quả” xuất bản chưa đầy hai tháng đã hết. Một số người đã phải
phô-tô cho mình và tặng bạn. Mấy tháng qua, tác giả nhận được nhiều điện
thoại và thư của độc giả nói lên cảm nghĩ của mình. Ví dụ kỹ sư, lương y
Nguyễn Khắc Minh viết dài ba trang, trong đó có câu:
“Sách thực sự có giá trị về mặt luân lý giáo dục con người, làm việc thiện sẽ
gặp được điều thiện, làm điều ác sẽ gặp quả báo... Kẻ ác, kẻ bất nhân sẽ bị
âm oán, dương oán, không lâu chúng sẽ bị trời tru đất diệt”. Sau đây, xin nêu
hai lá thư của GS. TSKH Đặng Vũ Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội KHKT
Việt Nam và PGS. TS Đặng Quốc Bảo, nguyên Hiệu trưởng trường Quản lý
Giáo dục.
Một vài suy nghĩ sau khi đọc cuốn sách “Nhân quả”
Nhận được cuốn sách “Nhân quả” của Thiếu tướng, Tiến sĩ, Nhà văn Chu
Phác gửi tặng, tôi đã dành cả một ngày chủ nhật để đọc. Càng đọc, tôi càng
ngạc nhiên. Vẫn biết quy luật chung ở trên đời là “ở hiền gặp lành, ác giả ác
báo”, song đây là lần đầu tiên tôi được đọc một cuốn sách kể lại nhiều
chuyện minh hoạ cho cái quy luật nói trên. Đáng chú ý, tác giả cuốn sách là
một vị tướng đã trải qua nhiều trận mạc của hai cuộc kháng chiến, một nhà
văn được nhiều người biết đến, một nhà khoa học cao tuổi nhưng vẫn say mê
nghiên cứu những điều bí ẩn thuộc về tiềm năng con người. Điều đó càng
làm cho người đọc tin vào tính chân thực của những câu chuyện kể trong
cuốn sách.
Gấp cuốn sách lại, ý nghĩ đầu tiên của tôi là mong sao có nhiều người đọc
“Nhân quả” để hiểu được cái quy luật không ai tránh khỏi trong cuộc đời.
Nếu mỗi người đều hiểu như vậy, chắc chắn những điều thiện sẽ tăng lên,
những điều ác sẽ giảm đi và xã hội ngày càng trở nên tốt đẹp hơn.
Với những suy nghĩ như trên, tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn
sách “Nhân quả”.
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2013
GS.TSKH. Đặng Vũ Minh
Chủ tịch Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam
Kính gửi Thiếu tướng Nhà văn Chu Phác
Ngày 16/5/2013
Xin chân thành cảm ơn Bác đã tặng cuốn sách “Nhân quả”.
Tôi đã đọc kỹ tập sách với những trải nghiệm rất công phu và sự diễn đạt rất
sâu sắc của Bác.
Tôi có đưa cho một vài bằng hữu đang công tác trong ngành giáo dục và các
nhà trường đọc sách này. Họ đều có chung nhận xét: giá như công tác giáo
dục ngày nay biết giáo dục niềm tin theo hướng tiếp cận nhân quả thì sẽ rất
có ích cho việc hoàn thiện nhân cách thế hệ trẻ.
Xin chúc mừng thành quả lao động của Nhà văn Chu Phác đã góp thêm một
sản phẩm hữu ích cho đời.
Kính chúc Bác mạnh khoẻ và sáng tạo.
Kính
PGS. TS. Đặng Quốc Bảo
Nguyên Hiệu trưởng trường Quản lý Giáo dục
Lời tác giả
Những năm 1990 - 2000 thế kỷ XX, mỗi lần thầy Huyền Diệu ở Ấn Độ,
Nepan về Việt Nam lại gặp tôi đàm đạo về chuyện huyền bí và chuyện nhân
quả - quả báo nhỡn tiền - trong nhân gian còn gọi là báo oán. Thầy Huyền
Diệu nghe tôi kể những chuyện mà tôi đã gặp và nghiên cứu. Thầy luôn
khuyến khích tôi viết ra in thành sách. Thầy đã cho một đệ tử đến nhà riêng
của tôi, yêu cầu tôi kể để viết giúp. Tôi đã cảm ơn và từ chối, để tôi tự viết.
Thầy còn gửi cho tôi cuốn: “Nhân quả báo ứng - những điều mắt thấy tai
nghe” gần 500 trang do cư sĩ Tịnh Tùng biên soạn, Mạt nhân Đạo Quang
dịch - Nhà xuất bản phương Đông, TP Hồ Chí Minh ấn hành năm 2010.
Để viết cuốn sách này, tôi đã suy nghĩ về quá khứ, lục tìm trong ký ức để
chọn lọc. Từ nhiều năm của thế kỷ trước, chúng tôi cùng những người có
khả năng ngoại cảm đi tìm mộ liệt sỹ. Chúng tôi bắt đầu được nghe các vong
nói chuyện về mình, về đồng đội và về gia đình, đơn vị. Trong đó có nhiều
chuyện về nhân quả, quả báo, báo oán. Đến năm 1996, Trung tâm Nghiên
cứu Tiềm năng Con người ra đời, chúng tôi được giám đốc Trung tâm và
Hội đồng khoa học giao cho các đề tài khoa học nghiên cứu về gọi hồn, áp
vong, các biểu hiện của vong và đặc biệt là các đề tài tìm mộ riêng lẻ và đề
tài tìm mộ tập thể. Anh chị em gọi là đề tài “Người sống tìm người chết”. Đề
tài xác định danh tính của liệt sỹ dưới mộ vô danh, anh chị em gọi là đề tài
“Người chết tìm người sống” vì muốn xác định được phải theo hai tiêu chí:
một là tìm được người thân và đúng quê hương mà liệt sỹ “nói”, hai là tìm
được đơn vị có tên liệt sỹ chiến đấu và hy sinh tại đó. Chính vì đề tài này rất
khó nên tiến hành chỉ đạt 6% - 14%. Đề tài “Tìm người thất lạc, người bỏ
nhà đi hoặc tìm kẻ giết người cướp của” anh chị em gọi là đề tài “Người
sống đi tìm người sống”. Đề tài này chủ yếu do hai nhà ngoại cảm Nguyễn
Đức Phụng và Nguyễn Khắc Bảy tham gia. Đến nay, anh chị em ngoại cảm
đã tìm được gần 200 nghìn ngôi mộ.
Đặc biệt, đề tài “Khảo sát các trạng thái biểu hiện của vong” và đề tài “Giả
thiết, lý giải các biểu hiện của vong dưới góc độ khoa học” mã số TK10 và
mã số TK12 TM/TL (2010) đã được Hội đồng khoa học đánh giá cao. Trong
đó có đề tài nhánh “Bệnh âm và lý giải”. Như vậy, hai mươi năm nghiên cứu
đối tượng khoa học, thực chất là tìm hiểu về vong, được biểu hiện qua các
nhà ngoại cảm. Đến nay là thế hệ ngoại cảm thứ tư và thứ năm xuất hiện. Vì
các anh chị em ở thế hệ trước, một số người đã hết khả năng hoặc khả năng
đã giảm nhiều hoặc một số không còn trong sáng vô tư nữa. Cũng từ việc
nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy nếu không có sự giúp đỡ của vong linh
thì không thể tìm được mộ và sự thành công của nhiều việc về văn hóa
phương Đông khác.
Để nghiên cứu, chúng tôi tiếp cận theo phương pháp “Lý thuyết tiếp cận hệ
thống” (System Approach), để tìm hiểu hiện tượng nổi (emergence) của toàn
bộ hệ thống. Vì rất nhiều trạng thái biểu hiện của vong nên chọn hiện tượng
nào? Qua nghiên cứu lý thuyết tiếp cận hệ thống và lý thuyết chỉnh thể của y
học phương Đông, chúng tôi thấy không có gì là mâu thuẫn, cũng qua
nghiên cứu, chúng tôi “chộp” được một biểu hiện của vong thấy rất thú vị và
rất quan trọng đối với cuộc sống con người hiện nay: đó là luật nhân quả mà
trong nhóm cán bộ nghiên cứu của đề tài gọi là báo oán hoặc quả báo và giải
nghiệp. Để nghiên cứu về nhân quả và giải nghiệp, chúng tôi dựa theo lý
thuyết và quan điểm trong cặp phạm trù “tất nhiên và ngẫu nhiên” và cặp
phạm trù “nhân quả” thì phương pháp tiếp cận dựa vào cặp phạm trù “nhân
quả” là phù hợp. Vì đạo Phật cũng nói tới nhân quả… trong điều kiện nào đó
“nhân” sẽ thành “quả”. Đầu vào, đầu ra qua hộp đen của lý thuyết tiếp cận hệ
thống, muốn tìm được “nhân” đối chiếu với “quả” thì phải soi chéo rồi khớp
lại mới tiến hành giải nghiệp hay trả nghiệp - giải nghiệp chướng. Có giải
được nghiệp chướng thì mới giải thoát khỏi báo oán. Ví dụ đem súng, gươm,
đao, kiếm, bom, đạn đi giết chết hàng nghìn, hàng vạn người dân vô tội ở các
nước với những lời giả dối, mĩ miều thì làm sao giải được nghiệp chướng
hoặc cậy vào sức mạnh đồng tiền và thế lực đã phá đền chùa, am thờ, miếu
mạo, mồ mả, phá hủy hài cốt của người khác.
Tưởng rằng có quyền lực ở dương thế thì muốn làm gì cũng được. Đây thực
sự là ảo tưởng và huyễn tưởng, thậm chí vì ham đất đai, quyền lực, tiền của
mà bất hiếu, bất trung với cha mẹ, gia tiên; anh chị em hại nhau, bạn hữu hại
nhau, họ hàng giết nhau, cùng một dân tộc, một đất nước cũng giết hại lẫn
nhau. Ôi! Thật là thê thảm! Chiến tranh! Hận thù cá nhân! Lòng tham vô đáy
của con người… Hận thù chồng chất hận thù! Chiến tranh chồng chất chiến
tranh!
Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, để chuẩn bị cho Đại hội lần
thứ IV của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị
cho tôi sưu tầm những quan điểm của chủ nghĩa Mác nói về con người và
gợi ý chuẩn bị thành lập Viện Nhân học. Thật may mắn, tôi còn lưu giữ được
nhiều tư liệu quý về “báo oán” của thiên nhiên. Sau đây, tôi xin trích một số
lời của C.Mác, nói về sự trả thù của thiên nhiên: “Con người sống dựa vào tự
nhiên. Như thế nghĩa là tự nhiên là thân thể con người. Để khỏi chết, con
người phải ở trong quá trình giao dịch thường xuyên với thân thể đó. Sinh
hoạt vật chất và tinh thần của con người liên hệ khăng khít và tự nhiên. Vì
con người là một bộ phận của tự nhiên. Đặc biệt, những đoạn viết sau đây
của Anghen trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” (1875-1876), chúng
tôi suy ngẫm liên hệ với tình hình nước ta và khu vực hiện nay thì rất đúng:
“Loài vật sống phần nhiều dựa vào tự nhiên… con người nhận thức được
quy luật của tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó phục vụ
những mục đích của mình, nhằm thống trị tự nhiên”. Đồng thời, Anghen
cũng nhắc nhở: “Nhưng con người cũng không nên quá tự hào thắng lợi về
khoa học mà con người chinh phục được tự nhiên… Vì sau đó, tự nhiên sẽ
trả thù, lần thứ hai mạnh hơn lần trước, lần thứ ba dữ dội hơn lần hai…”.
Anghen đã đưa ra dẫn chứng về thảm họa ở một số nước, ông còn phân tích
sự khác nhau của châu Âu và châu Á. C.Mác còn nói: “Một tự nhiên hào
phóng thì nó dắt tay người ta đi như dắt tay trẻ con tập đi. Nó ngăn cản con
người tàn phá tự nhiên phát triển, bằng cách không cho sự phát triển của con
người trở thành một tất yếu”. (Nghĩa là bất chấp quy luật của tự nhiên, tàn
phá tự nhiên).
Nghiên cứu lý luận Mác - Anghen, cặp phạm trù “nhân quả” của chủ nghĩa
Mác đối chiếu với thực tế loài người, con người trên dương thế thì không
những có Báo oán - Quả báo - Nhân quả giữa con người với con người mà
còn Báo oán - Quả báo - Nhân quả của tự nhiên (thiên nhiên) với con người.
Triết học phương Đông cách đây trên 2000 năm đã nói: “Vũ trụ này là vũ trụ
đạo lý, vũ trụ tâm linh. Khi tri thiên tức là khi đã biết đến trời thì người ta
không những là công dân của xã hội nhân quần mà còn là công dân của trời,
công dân của vũ trụ… Người ta không những được hưởng phẩm tước của xã
hội nhân quần mà còn hưởng phẩm tước của trời”.
Trong cuốn sách này, chúng tôi không nêu sự Báo oán - Nhân quả của tự
nhiên với con người mà chỉ nêu Nhân quả của con người với con người.
Ngoài ra, chúng tôi đưa vào một số truyện ngắn, truyện kể nhằm giúp người
đọc bớt căng thẳng, nhưng vẫn nói lên Nhân quả - Báo ứng. Ví dụ, truyện về
con sói (Ăn cháo đá bát) nói lên sự vô ơn; truyện “Trời ơi, con gái!” nói về
sự kiêu căng; truyện “Bà ơi là bà ơi!” nói đến sự bất hiếu; và truyện “Chết
đói” nói lên lòng nhân đạo…
Theo cố nhà ngoại cảm có quyền năng huyền bí - Nguyễn Đức Cần - đã nói:
“Con người có hai loại bệnh: Thân bệnh và nghiệp bệnh. Thân bệnh thì có
thể chữa được, nghiệp bệnh thì khó. Nghĩa là có người có thể khỏi bệnh, có
người không khỏi và có người cụ không nhận chữa”.
Theo nghiên cứu của chúng tôi thấy có thể có ba loại nhân quả. Loại báo oán
ngay đối với người gây ra đau khổ, chết chóc với người khác, hoặc xâm
phạm đến nơi thờ phụng của vong linh, thánh thần, chùa chiền… Cũng có
loại một hai đời sau mới phải gánh họa của cha ông gây ra và cũng có loại
năm bảy đời sau thì họa mới đến dữ dội, liên tiếp mà người đời không hiểu
tại sao.
Hiện nay, có người nửa tin, nửa không tin hoặc vì quá ham quyền lực, tiền
bạc, đất đai nên vẫn lao vào con đường Ý, Khẩu, Thân làm điều ác và vẫn cứ
tưởng rằng họ sẽ thoát khỏi lưới trời. Họ không hiểu, không thấy được luật
nhân quả đang ở trước mặt. Vì thế giới này được điều khiển tự động bằng
luật Nhân quả! Đây chính là luật của Vũ trụ - luật của Vũ trụ là luật Nhân
quả. Đúng là “thiên võng khôi khôi sơ nhi bất lậu” (lưới trời tuy thưa nhưng
không gì có thể lọt qua được). Dân gian ta còn có vè rằng:
“Ai ơi chớ vội khoe tài
Hôm nay võng lọng ngày mai bộ hành
Ngày kia bị, gậy, chiếu manh
Ngày kìa đui cụt, lê quanh chân giường!”
Để cứu giải, giải nghiệp thì cứ lễ lạt phần âm thật to ư? Như hiện nay có
người sẵn sàng bỏ ra một tỷ hoặc mười tỷ để lễ lạt âm phần phù hộ cho họ.
Không được đâu! Chả lẽ thánh thần cũng tham nhũng ư? Như thế thì không
còn là thánh nữa.
Lễ lạt cốt lòng thành, người tốt sẽ được âm phù, dương trợ. Không thể đem
tiền ra mua thánh thần, sẽ thêm tội đấy. Nhiều người cứ tưởng rằng lễ to thì
thoát tội. Một số người lợi dụng sự đau khổ của người khác để moi tiền bạc
của họ. Chắc chắn đó là tội ác. Ở đời không phải tội gì cũng sám hối giải
nghiệp được. Ví như tội giết cha mẹ, anh em; tội bán nước cầu vinh. Ở đời
không phải cuộc lễ cầu nào cũng được chứng, cũng thành công. Đút lót
nhiều, hối lộ nhiều với thánh thần càng thêm tội. Thầy sẽ phải gánh họa.
Cuốn sách này hi vọng sẽ góp phần suy ngẫm cho người đọc.
Xã hội phát triển, nhiều người làm việc thiện, nhiều người chân thật và tốt
bụng… Nhưng chúng ta cũng đang phải sống trong thời kỳ vàng thau lẫn
lộn, ngoại cảm giả danh, tà vong quá nhiều, từ thiện cửa miệng, kẻ cơ hội nổi
lên kiếm chác. Điều đó làm cho niềm tin xã hội bị chao đảo. Nhưng chúng
tôi cho rằng, cùng với sự phát triển, nhiều người có lòng nhân ái thực sự, từ
thiện thực sự và tài năng đặc biệt thực sự thì chính con người sẽ sàng lọc
được và thời gian chắc chắn sẽ trả lại sự chân chính đích thực…
Xin chân thành cảm ơn.
THIẾU TƯỚNG, TIẾN SĨ, NHÀ VĂN NGUYỄN CHU PHÁC
Lời cảm ơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn thầy Huyền Diệu đã liên tục động viên, cảm
ơn tất cả các anh, các chị, các nhà văn hóa phương Đông, các nhà ngoại cảm
đã đóng góp nhiều công sức, tài liệu, bài báo quý giá và động viên để tôi có
nghị lực hoàn thành cuốn sách này. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ông
Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học và Nghệ thuật Việt Nam, Hội
Nhà văn Việt Nam, Nhà xuất bản Hội Nhà văn và nhà in Mai Linh. Có điều
gì sơ suất mong được mọi người thứ lỗi và thông cảm.
THIẾU TƯỚNG, TIẾN SĨ, NHÀ VĂN NGUYỄN CHU PHÁC
Ngẫm xem muôn sự ở đời
Ác thì gặp ác nhân thời gặp nhân
Lúc thịnh đạt gia tà trá đạo
Lúc cuối đời quả báo coi chừng!
NGUYỄN BỈNH KHIÊM
“Càng ngày con người càng tin vào luật NHÂN QUẢ và ngay cả khoa học
cũng đang tiến dần vào việc xác nhận sự kiện nữa.
Riêng tôi, tôi tin vào luật NHÂN QUẢ”.
ALBERT EINSTEIN
Jawaharlai Nerhu (1889-1964) Và Einstein (1879-1955)
Năm 1949, Nerhu nhân chuyến viếng thăm Mỹ có đến thăm Albert Einstein
tại Princeton - Nerhu bày tỏ:
“Nền văn hoá toàn cầu ngày nay tạo ra nhiều của cải vật chất, nhưng lại vô
trách nhiệm đối với việc chăm sóc đạo đức con người”.
Einstein đáp:
“Vâng, nền văn hoá chăm lo đạo đức chính là nền văn hoá phương Đông cổ
truyền của các ông”.
Nhà khoa học Carl Sagan hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma:
- “Ngài nghĩ sao nếu thuyết Nhân quả bị khoa học phương Tây chứng minh
là sai?”
Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời:
“Nếu khoa học phương Tây chứng minh được rằng thuyết Nhân quả - tái
sinh là không đúng; Phật giáo Tây Tạng sẽ huỷ bỏ ngay thuyết Nhân quả.
Tuy nhiên sẽ là rất khó khăn để mà quý vị bác được thuyết Nhân quả”.
Tồn tâm bất thiện
Phong thuỷ vô ích
Bất hiếu phụ mẫu
Phụng thần vô ích
Huynh đệ bất hoà
Giao hữu vô ích
…
…
Thời vận bất thông
Cúng cầu vô ích
“TU DƯỠNG QUYẾT”
- KHỔNG TỬ 1. “Kinh nhân quả” và “Kinh nhân quả ba đời”
(Trích)
“…
Những người chửi mắng mẹ cha
Chết xuống âm phủ phải sa vạc dầu
Những người bầu bạn lừa nhau
Báo oán gặp phải cụt đầu, mất chân
Những người ăn của bần dân
Chết xuống âm phủ người âm vẫn đòi
Những người ăn chơi dạc dài
Kiếp này, kiếp nữa là loài súc sinh
Những người đanh đá điêu toa
Nước đồng đổ miệng, máu ra đầy mồm
Những người chửi rủa sa môn
Thánh thần phỉ báng - méo mồm gẫy răng
Phật truyền nhân quả chư kinh
Đọc để suy ngẫm sửa mình, tu thân…”
2. Biết ơn anh Tào Mạt
Cây có gốc mới nở cành xanh lá
Nước có nguồn mới biển cả sông sâu
Người ta nguồn gốc từ đâu
Có tổ tiên trước rồi sau có mình.
Năm 1990, tôi và anh Tào Mạt cùng về ở phố Lý Nam Đế. Anh ở số lẻ, tôi ở
số chẵn, đối diện nhau, chỉ cách một con đường. Vì thế, hàng ngày, chúng
tôi thường qua lại hàn huyên. Tôi thấy anh không những hiểu sâu sắc về lịch
sử nước nhà mà còn rất uyên thâm về Hán học.
Một hôm, tôi nhờ anh giúp đỡ. Tôi bảo: “Bố tôi có di chúc riêng với tôi là:
Bố đã dịch xong gia phả của gia tiên để lại, riêng lời gia huấn văn chương
súc tích lắm, con xem ai đó dịch thoát được thì con nhờ”. Tôi khẩn khoản
nhờ anh Tào Mạt. Anh vui vẻ nhận lời ngay, yêu cầu đưa bản gốc chữ Hán
(viết mực tàu trên giấy dó). Tôi đưa cho anh. Đọc qua, anh bảo: “Đọc gia
phả nhà anh, tôi cũng học thêm được nhiều. Nhưng muốn dịch lời gia huấn
của họ Nguyễn thì phải đọc kỹ toàn bộ gia phả, dịch mới thoát”. Sau đây là
bản dịch của anh Tào Mạt. Cả họ tôi biết ơn anh!
LỜI GIA HUÂN CỦA HỌ NGUYỄN CHU
(Do nghệ sĩ nhân dân Tào Mạt dịch)
Tích đức như quả khô
Nghìn năm lại nở thiên thu vẹn toàn
Chữ nhẫn là chữ tráng vàng
Hễ ai nhẫn được thời càng bền lâu.
Vẫn nghe:
Một trung thành diệt muôn quỷ quyệt.
Một kính cẩn hơn vạn gian ngoa.
Lại nghe:
Hiếu là gốc cho mọi điều thiện, cho nên lập được chữ hiếu thì mọi đức tốt có
theo, điều thiện phải luôn luôn giữ, giữ được điều thiện có thể làm Thầy.
Phàm trong nhà phải có lễ bái các Thổ địa, Thần kỳ, các vị Phật thánh linh
thiêng, các Tôn thần trong nhà, cùng với Tổ tiên, cần phải hết lòng kính cẩn,
luôn luôn giữ tâm tính và thân thể cho trong sạch, cầu lấy bình an phúc ấm.
Cho nên có câu rằng: Thần hưởng lòng thành có lòng thành mới cảm được
Thần. Thần cảm mình thì được, không lấy lễ lạt mà xin được. Thần không vì
lễ hậu mà giáng phúc, không vì lễ bạc mà ra tai. Tất cả chỉ dựa vào phúc đức
mà thôi.
Người xưa dạy rằng: Chay ba ngày, giới bảy ngày gọi là “chay tam giới
thất”.
Thứ nhất: Lập thân
Ý thực, lòng ngay, làm nhân, tích đức.
Ở hiếu, giữ trung không hoang, không dâm, không tham, không lam, không
lười, không chơi mà siêng năng công việc.
Đọc sách, cày ruộng là hai việc lập nghiệp. Thức khuya dậy sớm lấy đức
chăm chỉ mà xây dựng cơ nghiệp.
Không để rỗi chân tay.
Không để lòng dục buông tuồng.
Giữ cần kiệm để mở rộng sự nghiệp.
Không kiêu, không ghen, không hèn, không nịnh để giữ phẩm giá của mình.
Trọng cái mà mình có, chính là quý bản thân.
Sách luận ngữ dạy: “Học giả, học để làm người”.
Liêm khiết có thể làm vẻ vang cho tổ tiên, để sung sướng cho con cháu.
Thứ hai: Xử thế
Thờ nước phải trung.
Thờ bố mẹ phải hiếu thảo.
Đối với bậc anh chị phải lễ phép săn sóc.
Đối với người dưới mình phải quý trọng nhân cách của họ.
Luôn luôn giữ lời giữ nết cẩn thận trong việc làm.
Nói năng khiêm nhường.
Không nịnh kẻ giàu sang.
Không khinh người nghèo khó.
3. Báo oán
TÍCH XƯA
Thưở xưa, vào đời nhà Đường, có một vị quốc sư hiệu là Ngô Đạt, tên là Tri
Huyền. Lúc chưa hiển đạt, ngài thường gặp gỡ một nhà sư ở đất Kinh Sư
trong một ngôi chùa nọ. Nhà sư ấy mắc bệnh hủi, ai cũng gớm, chỉ có ngài
Tri Huyền là thường gần gũi hỏi han giúp đỡ, không hề khinh rẻ. Nhân lúc
chia tay, nhà sư vì cảm kích trước tấm lòng của ngài Tri Huyền mới dặn
rằng: Sau này ông có nạn chi, nên qua núi Cửu Lũng tìm tôi, và nhớ trên núi
ấy có hai cây tùng làm dấu chỗ tôi trú ngụ.
Sau đó ngài Ngô Đạt quốc sư đến ở chùa An Quốc thì đạo đức của ngài càng
vang khắp. Vua thân hành đến pháp tịch nghe ngài giảng đạo. Nhân đó vua
mới ân từ cho ngài cái pháp tọa bằng gỗ trầm hương. Nhưng, cũng từ đó trên
đầu gối của ngài bỗng nhiên mọc một mụn ghẻ tựa như mặt người, đau nhức
khôn xiết. Ngài cho mời tất cả các bậc danh y, nhưng không ai chữa được.
Nhân ngài nhớ lời dặn trước bèn đi vào núi mà tìm.
Trên đường đi, trời đã tối, trong khoảng âm u mây bay khói tỏa mịt mù, ngài
nhìn xem bốn phía, bỗng thấy hai cây tùng, ngài mới tin rằng lời ước hẹn
xưa không sai. Ngài liền đến ngay chỗ đó, quả nhiên thấy lầu vàng điện ngọc
lộng lẫy nguy nga, ánh quang minh chói rọi khắp nơi. Trước cửa, nhà sư
đang đứng chờ đón ngài một cách thân mật.
Nhân tiện ở lại đêm, ngài Ngô Đạt mới tỏ hết sự đau khổ của mình. Nhà sư
ấy nói: Không hề gì đâu, dưới núi này có một cái suối, sáng mai rửa, mụn
ghẻ ấy khỏi ngay.
Mờ sáng hôm sau, một chú tiểu đồng dẫn ngài ra ngoài suối, ngài vừa bụm
nước lên rửa thì mụn ghẻ kêu lên:
- Đừng rửa vội. Ông học nhiều biết rộng, đã khảo cứu các sách cổ kim, mà
đã từng đọc đến truyện Viên Áng, Tiều Thố chép trong bộ Tây Hán chưa?
- Tôi có đọc.
- Ông đã đọc rồi lẽ nào lại không biết truyện Viên Áng giết Tiều Thố vậy.
Thố bị chém ở chợ phía đông oan ức biết dường nào. Ông chính là Viên Áng
đó. Đời đời tôi tìm cách báo thù ông, xong đã mười kiếp ông làm bậc cao
tăng, giới luật tinh nghiêm, nên tôi chưa có cơ hội báo oán được.
Nay vì ông được nhà vua quá yêu chuộng nên khởi tâm danh lợi làm tổn giới
đức, tôi mới báo thù được ông. Nay nhờ ngài Ca Nặc Ca tôn giả lấy nước
pháp Tam muội rửa oán cho tôi rồi, từ đây trở đi tôi không còn báo oán ông
nữa.
Ngài Ngô Đạt nghe qua hoảng sợ liền vội vàng múc nước gột rửa mụn ghẻ,
làm nhức nhối tận xương tủy, chết giấc hồi lâu mới tỉnh. Khi tỉnh lại thì
không thấy mụn ghẻ ấy nữa. Ngài muốn trở lên lạy tạ vị sư, nhưng ngoảnh
lại thì ngôi bảo điện kia đã biến mất tự bao giờ. Vì thế, ngài bèn lập một cái
thảo am ngay chỗ ấy và sau trở thành một ngôi chùa. Khi đó, ngài Ngô Đạt
nghĩ đến nỗi oan trái đã bao đời nếu không gặp thánh nhân thì đâu có khỏi
được. Vì cảm niệm cái ơn tế độ lạ lùng ấy, ngài mới thuật ra pháp sám này
để sớm hôm lễ tụng, sau truyền bá khắp thiên hạ.
Nghĩa chính của bài văn này là lấy nước Tam muội rửa sạch nghiệp oan
khiên nên mới đặt tên là Thủy Sám.
(Trích Kinh Thủy Sám)
CHUYỆN NAY
Ở một làng quê ngoại thành Hà Nội, trong một gia đình nông dân nọ, có bảy
người con trai. Gia đình họ làm ăn chất phác, chăm chỉ nên tạo dựng được
một cơ ngơi, nhà cửa, vườn ao rộng rãi.
Nhưng có một chuyện lạ, là những người con trong gia đình này, cứ đến năm
mười bảy tuổi là bị tai nạn chết, người thì bị chết đuối, người thì bị ngã do
trèo cây, người thì bị xe đâm khiến gia đình rất sợ hãi, đã đi cúng lễ ở nhiều
nơi, đã mời nhiều thầy về cúng lễ tại nhà. Nhưng cứ đến hạn định, người con
nào đến mười bảy tuổi là bị đột tử mà chết thảm thương. Có sáu người con
của họ bị chết như vậy.
Và chỉ còn một người con trai duy nhất năm đó đã bước vào tuổi mười bảy.
Gia đình người nông dân đó như nằm trên đống lửa.
Năm đó, vào vụ gặt mùa, cụ Trưởng Cần sang làng thăm một số bà con bệnh
nhân mà trước đó họ đã tha thiết mời cụ. Khi cụ vừa đến cánh đồng làng thì
nhiều người đang làm đồng trông thấy, vội chạy ra chào đón tíu tít. Cụ dừng
chân, hỏi chuyện bà con. Mọi người vui mừng kể rằng năm nay được mùa,
lúa tốt, nhà nào thóc cũng đầy sân. Đang lúc vui chuyện, thì vợ chồng nhà
nọ, không biết có ai mách bảo, chạy đến quỳ thụp ngay dưới chân cụ, kêu
xin cụ cứu giúp. Họ vừa khóc, vừa kể lể sự tình và kêu xin:
- Bây giờ gia đình chúng con chỉ còn đứa con trai duy nhất, trăm lạy cụ cứu
cho.
Cụ trầm ngâm đôi chút, rồi bảo:
- Thôi, hãy đứng dậy đã. Được, tôi sẽ giúp.
Mọi người có mặt lúc đó ai cũng mừng cho họ, vì thấy cụ đã nhận lời.
Nhưng, người ta còn chờ xem số phận của người con trai họ. Một năm trôi
qua, rồi hai năm… gia đình họ vẫn bình yên. Và đến khi chàng trai tròn hai
mươi tuổi thì gia đình cưới vợ cho con, họ sang báo tin mừng và mời cụ. Cụ
bảo:
- Tôi mừng cho ông bà, nhưng muốn giữ gìn được gia đình hạnh phúc thì
phải luôn ăn ở có đạo đức, làm nhiều điều tốt đẹp.
Sau này, cụ cho biết: Kiếp trước nhà kia đã làm chết bảy người của một gia
đình trong một hố vôi, họ đã bị chết rất thảm thương và đến đời này họ đòi
lại món nợ.
Oán thù nếu không được giải, thì nó sẽ chất chồng mãi, đời này sang đời
khác.
4. Lạ lùng người con gái 30 năm canh giữ bên mộ cha
Trong đạo hiếu ngày xưa có quy định về việc con canh mộ cha. Khi người
bố qua đời thì người con trai trưởng phải dựng lều bên mộ bố, túc trực canh
giữ suốt ba năm. Ba năm đi chân đất, mặc áo vải sô, ăn uống đạm bạc, ba
năm không uống rượu, ba năm không gần nữ sắc. Trong ba năm đó, kể cả có
chiếu chỉ của nhà vua cũng không phải chấp hành. Như vậy, quy định này
trong đạo hiếu đã trở thành quốc pháp. Nhưng đó là chuyện thời xa xưa và
cũng chỉ là việc dành riêng cho đàn ông. Còn trong thời đại ngày nay mà có
một người con gái 30 năm ròng canh bên mộ cha là chuyện lạ lùng nhất ở
nước ta, từ cổ chí kim chưa thấy.
Người con gái này là bà Nguyễn Thị Sinh, sinh năm 1947, trú quán làng
Thanh Mai, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Gọi làng Thanh Mai là trú quán của
bà Sinh vì nguyên quán của bà không ở đây mà ở làng Đại Yên, phường
Ngọc Hà, quận Ba Đình, Hà Nội. Cuối năm 1946, giặc Pháp tấn công Hà
Nội, Bác Hồ kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Thực hiện chủ
trương tiêu thổ kháng chiến, người Hà Nội sơ tán về các làng quê. Một ngày
đầu tháng 4/1947, trong khi chạy giặc, bà Lê Thị Tuyết - vợ ông Nguyễn
Đức Cần đẻ rơi đứa con gái thứ hai trên bãi ngô cánh đồng làng Thanh Mai,
Thanh Oai, Hà Đông cũ. Bà Tuyết ôm đứa con gái còn đỏ hỏn vào ở nhờ
dưới mái hiên ngôi đình thôn My Hạ. Do chạy giặc vất vả và ăn uống thiếu
thốn nên bà Tuyết bị mất sữa. Không có sữa bú, bé gái sơ sinh khóc suốt
đêm, khiến nhiều người thôn My Hạ khó ngủ. Người khó ngủ nhất là vợ ông
Bùi Văn Hồ, nhà ở sát đình thôn. Bà Hồ cũng vừa sinh một đứa con gái
nhưng chỉ bốn ngày sau thì cháu đã bỏ cha mẹ mà đi. Ôm hai bầu vú căng
đầy sữa, bà Hồ vừa thương đứa con đã mất lại vừa thương đứa bé khát sữa
đang khóc ngằn ngặt ngoài đình. Bà Hồ nhổm dậy, cầm ngọn đèn dầu đi ra
đình thôn cho đứa bé khát sữa bú nhờ. Đứa bé bập vào bầu sữa của bà Hồ,
mút lấy mút để rồi sau đó ngủ rất ngoan. Bà Hồ đã ba lần sinh nở và cả ba
lần con đầu chết yểu. Có người nói rằng, bà nhà phải xin con nuôi rồi sau đó
mới nuôi được con đẻ. Bà Hồ về nhà bàn với chồng ra đình thôn thưa chuyện
với bà Tuyết xin nhận bé gái sơ sinh làm con nuôi. Đứa bé gái sơ sinh ấy
chính là bà Nguyễn Thị Sinh ngày nay.
Ngôi mộ mà bà Sinh làm nhà trông coi suốt 30 năm qua là linh phần của cụ
Nguyễn Đức Cần, còn gọi là cụ Trưởng Cần - thân phụ của bà Sinh. Cụ
Trưởng Cần là một nhân vật rất đặc biệt, một con người có thật mà đời sống
như huyền thoại. Cụ Nguyễn Đức Cần sinh vào đêm 30 Tết Kỷ Dậu, niên
hiệu Duy Tân thứ ba (1909), là con trai của cụ Phó tổng Nguyễn Đức Nhuận
và bà Hoàng Thị Khế.
Khi Nguyễn Đức Cần học năm cuối trường Anbe Xarô (mang tên toàn quyền
Pháp), thì cụ Nhuận mắc một chứn...
 





