BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Viếng Lăng Bác - Bài giảng

    nhan-qua

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 18h:44' 16-03-2024
    Dung lượng: 2.6 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Mục lục
    Giải thích một số từ ngữ
    Một vài suy nghĩ sau khi đọc cuốn sách “Nhân quả”
    Kính gửi Thiếu tướng Nhà văn Chu Phác
    Lời tác giả
    Lời cảm ơn
    Jawaharlai Nerhu (1889-1964) Và Einstein (1879-1955)
    1. “Kinh nhân quả” và “Kinh nhân quả ba đời”
    2. Biết ơn anh Tào Mạt
    3. Báo oán
    4. Lạ lùng người con gái 30 năm canh giữ bên mộ cha
    5. Cụ Nguyễn Đức Cần trong cuộc sống hôm nay
    6. Làm thế nào để hấp thụ năng lượng chữa bệnh một cách tốt
    nhất?
    7. Bố tôi và tên cướp
    8. Tần Cối - Nhạc Phi
    9. Ông Phát Chẩn
    10. Trả ơn
    11. Vong nhập được miễn thi
    12. Rắn báo oán
    13. Rắn xuất hiện
    14. Bươm bướm
    15. Đặc sản và tiếng rú
    16. Bệnh “hét”
    17. “Ông trời” báo oán

    18. Kỳ lạ chuyện “mượn xác nữ sinh” tìm về đúng nhà liệt sỹ
    19. Hành trình tìm liệt sỹ Phan Thương
    20. Có một xu mà thoát chết
    21. Dùng đầu lâu để cắm bút
    22. Răng cắn lưỡi
    23. Tự chặt một đốt ngón tay
    24. Bệnh hộc máu
    25. Bùa
    26. Con yểm bùa mộ bố
    27. Một cơ quan khoa học uy tín bị yểm bùa
    28. Tấm lòng của thầy
    29. Nhà bỏ hoang vì bảy người chết liên tục
    30. Không nên học nghề phù thủy
    31. Bất nhẫn tiểu sự thành đại sự
    32. Đánh người
    33. Chạy tượng
    34. Bán núi
    35. Vụ án dì ghẻ giết con chồng
    36. Mười năm vẫn không thoát tội
    37. Ác giả ác báo
    38. Vua ngô 36 tấn vàng
    39. Đền bù chưa đủ
    40. Xóm cũng có bản xứ thần linh thổ địa
    41. Truy lùng “bóng ma” đang bao trùm lên ngôi làng có những
    cái chết bí ẩn
    42. Chớ coi khinh thổ địa

    43. Thực hư chuyện “thánh thần nổi giận vật chết mấy chục
    người ở Hà Nội”
    44. Đào bới mộ cổ và sự “nổi giận” của vong linh vua Trần
    Nghệ Tông
    45. Bệnh câm
    46. Bệnh cắn
    47. Tự đâm vào mình
    48. Bệnh xơ cứng bì toàn thân
    49. Sự trả thù của xác chết
    50. Con điên và nỗi đau khổ của người cha
    51. Ba đời vợ đều bị ung thư
    52. Người bệnh ung thư miệng
    53. Người bệnh ung thư lưỡi
    54. Liệt toàn thân mười bảy năm
    55. Rất nhiều người âm đòi nợ
    56. Này linh, này thiêng này!
    57. Lượng Phật chỉ là cục gỗ
    58. Không biết thì dựa cột mà nghe
    59. Bổ tượng làm củi
    60. Phá tượng Phật hất xuống hồ
    61. Từ chối là trung thực
    62.Lo cho người sống và lo cho người chết
    63. Thư ngỏ gửi các linh hồn liệt sỹ và tân bộ trưởng trên dương
    thế
    64. Mười cô gái Đồng Lộc
    65. Ông nhân sự
    66. Nhầm dấu phẩy

    67. Cho xe quay lại
    68. Số rồi!
    69. Nguyễn Bỉnh Khiêm
    70. Bệnh tóc tổ quạ
    71. Pla-Tôn
    72. Chữa bệnh cho thai nhi
    73. Phá thai bốn tháng mười chín ngày rưỡi
    74. Phá thai hơn một tháng tuổi
    75. Vong bốn tháng tuổi
    76. Vong nhập kêu tòa xử oan
    77. 25 Lần phá thai
    78. Luật cấm phá thai
    79. Chót rồi - phải làm gì?
    80. Cá chuối đắm đuối vì con
    81. Bà ơi là bà ơi!
    82. Không nên tự vẫn
    83. Cảnh giác với ngải
    84. Ăn cháo đá bát
    85. Trời ơi! Con gái…
    86. Nhớ anh Thanh Tịnh
    87. Chùm thơ tìm mộ liệt sỹ
    88. Thực quyền
    89. Hống hách
    90. Lạy cụ
    91. Khổ một đời
    92. Bệnh trộm vặt

    93. Lời thề với người con gái
    94. Một chiếc nhẫn
    95. Cây có vong trú ngụ
    96. Bốn đời sau mới có dịp báo oán
    97. Chỉ tại con gà và miếng thịt gà
    98. Chết đói
    99. Miệng nam mô bụng bồ dao găm
    100. Rắn thật sợ rồng giả
    101. Voi nổi giận
    102. Tự hành mình
    103. Tam đại họa
    104. Những bí ẩn về di hài tăng ni phật tử
    105. Bí quyết sống lâu
    106. Hậu sinh khả úy
    107. Phút cuối đời của Napôlêông và Hítle
    108. Xin lỗi (?)
    109. Có lẽ trời có mắt thật!
    110. Kỳ diệu của văn hoá phương Đông
    111. Qua thuyết Âm dương ngũ hành pháp, Italia thắng là đương
    nhiên
    112. Tuổi Quý Tỵ (1953-2013)
    Nguyễn Chu Phác

    Giải thích một số từ ngữ
    Theo Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ học - Viện Khoa học
    Xã hội Việt Nam 1992:
    Linh: hồn người chết (kết hợp hạn chế) thiêng (trang 566).
    Linh hồn: như vong linh (trang 566).
    Linh thiêng: linh (trang 167).
    Linh ứng: linh nghiệm rất nhanh, rất màu nhiệm (trang 1005).
    Vong: (nói tắt) vong hồn (trang 1097).
    Vong linh: linh hồn người chế́t (trang 1098).
    Vong hồn: như vong linh (trang 1097).
    Soi: chiếu ánh sáng vào làm cho thấy rõ (trang 847), (các nhà ngoại cảm
    dùng từ “soi” có nghĩa rộng hơn như: bói, đoán bản mệnh, gia sự…).
    Giải: làm cho thoát được cái đang trói buộc, hạn chế tự do (giải sầu, giải
    thoát…) (trang 389).
    Nghiệp: nghề làm ăn sinh sống (trang 785).
    Nghiệp luật Karma: năng lượng tiềm tàng trong hành động tương lai mà hậu
    quả quá khứ đem lại, ý nghiệp, khẩu nghiệp, thân nghiệp - nghiệp chướng.
    Nghiệp báo - quả báo: sự đáp lại điều ác hay điều thiện đã làm trong kiếp
    trước bằng điều ác hay điều thiện trong kiếp sau (trang 785).
    Giải tội - giải nghiệp: tha tội cho người làm trái đạo, luật lệ (trang 390) (các
    nhà ngoại cảm hoặc một số thanh đồng dùng từ “trả nghiệp”).
    Sám hối: ăn năn, hối hận về tội lỗi của mình (một lời nói dối sám hối bảy
    ngày) (trang 891).
    Vi pà ka: Quả của nghiệp. Những điều kiện sinh khởi do hành động quá khứ
    (Đại niệm xứ, tr.385).

    ***
    Sách “Nhân quả” xuất bản chưa đầy hai tháng đã hết. Một số người đã phải
    phô-tô cho mình và tặng bạn. Mấy tháng qua, tác giả nhận được nhiều điện
    thoại và thư của độc giả nói lên cảm nghĩ của mình. Ví dụ kỹ sư, lương y
    Nguyễn Khắc Minh viết dài ba trang, trong đó có câu:
    “Sách thực sự có giá trị về mặt luân lý giáo dục con người, làm việc thiện sẽ
    gặp được điều thiện, làm điều ác sẽ gặp quả báo... Kẻ ác, kẻ bất nhân sẽ bị
    âm oán, dương oán, không lâu chúng sẽ bị trời tru đất diệt”. Sau đây, xin nêu
    hai lá thư của GS. TSKH Đặng Vũ Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội KHKT
    Việt Nam và PGS. TS Đặng Quốc Bảo, nguyên Hiệu trưởng trường Quản lý
    Giáo dục.

    Một vài suy nghĩ sau khi đọc cuốn sách “Nhân quả”
    Nhận được cuốn sách “Nhân quả” của Thiếu tướng, Tiến sĩ, Nhà văn Chu
    Phác gửi tặng, tôi đã dành cả một ngày chủ nhật để đọc. Càng đọc, tôi càng
    ngạc nhiên. Vẫn biết quy luật chung ở trên đời là “ở hiền gặp lành, ác giả ác
    báo”, song đây là lần đầu tiên tôi được đọc một cuốn sách kể lại nhiều
    chuyện minh hoạ cho cái quy luật nói trên. Đáng chú ý, tác giả cuốn sách là
    một vị tướng đã trải qua nhiều trận mạc của hai cuộc kháng chiến, một nhà
    văn được nhiều người biết đến, một nhà khoa học cao tuổi nhưng vẫn say mê
    nghiên cứu những điều bí ẩn thuộc về tiềm năng con người. Điều đó càng
    làm cho người đọc tin vào tính chân thực của những câu chuyện kể trong
    cuốn sách.
    Gấp cuốn sách lại, ý nghĩ đầu tiên của tôi là mong sao có nhiều người đọc
    “Nhân quả” để hiểu được cái quy luật không ai tránh khỏi trong cuộc đời.
    Nếu mỗi người đều hiểu như vậy, chắc chắn những điều thiện sẽ tăng lên,
    những điều ác sẽ giảm đi và xã hội ngày càng trở nên tốt đẹp hơn.
    Với những suy nghĩ như trên, tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn
    sách “Nhân quả”.
    Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2013

    GS.TSKH. Đặng Vũ Minh
    Chủ tịch Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam

    Kính gửi Thiếu tướng Nhà văn Chu Phác
    Ngày 16/5/2013
    Xin chân thành cảm ơn Bác đã tặng cuốn sách “Nhân quả”.
    Tôi đã đọc kỹ tập sách với những trải nghiệm rất công phu và sự diễn đạt rất
    sâu sắc của Bác.
    Tôi có đưa cho một vài bằng hữu đang công tác trong ngành giáo dục và các
    nhà trường đọc sách này. Họ đều có chung nhận xét: giá như công tác giáo
    dục ngày nay biết giáo dục niềm tin theo hướng tiếp cận nhân quả thì sẽ rất
    có ích cho việc hoàn thiện nhân cách thế hệ trẻ.
    Xin chúc mừng thành quả lao động của Nhà văn Chu Phác đã góp thêm một
    sản phẩm hữu ích cho đời.
    Kính chúc Bác mạnh khoẻ và sáng tạo.
    Kính

    PGS. TS. Đặng Quốc Bảo
    Nguyên Hiệu trưởng trường Quản lý Giáo dục

    Lời tác giả
    Những năm 1990 - 2000 thế kỷ XX, mỗi lần thầy Huyền Diệu ở Ấn Độ,
    Nepan về Việt Nam lại gặp tôi đàm đạo về chuyện huyền bí và chuyện nhân
    quả - quả báo nhỡn tiền - trong nhân gian còn gọi là báo oán. Thầy Huyền
    Diệu nghe tôi kể những chuyện mà tôi đã gặp và nghiên cứu. Thầy luôn
    khuyến khích tôi viết ra in thành sách. Thầy đã cho một đệ tử đến nhà riêng
    của tôi, yêu cầu tôi kể để viết giúp. Tôi đã cảm ơn và từ chối, để tôi tự viết.
    Thầy còn gửi cho tôi cuốn: “Nhân quả báo ứng - những điều mắt thấy tai
    nghe” gần 500 trang do cư sĩ Tịnh Tùng biên soạn, Mạt nhân Đạo Quang
    dịch - Nhà xuất bản phương Đông, TP Hồ Chí Minh ấn hành năm 2010.
    Để viết cuốn sách này, tôi đã suy nghĩ về quá khứ, lục tìm trong ký ức để
    chọn lọc. Từ nhiều năm của thế kỷ trước, chúng tôi cùng những người có
    khả năng ngoại cảm đi tìm mộ liệt sỹ. Chúng tôi bắt đầu được nghe các vong
    nói chuyện về mình, về đồng đội và về gia đình, đơn vị. Trong đó có nhiều
    chuyện về nhân quả, quả báo, báo oán. Đến năm 1996, Trung tâm Nghiên
    cứu Tiềm năng Con người ra đời, chúng tôi được giám đốc Trung tâm và
    Hội đồng khoa học giao cho các đề tài khoa học nghiên cứu về gọi hồn, áp
    vong, các biểu hiện của vong và đặc biệt là các đề tài tìm mộ riêng lẻ và đề
    tài tìm mộ tập thể. Anh chị em gọi là đề tài “Người sống tìm người chết”. Đề
    tài xác định danh tính của liệt sỹ dưới mộ vô danh, anh chị em gọi là đề tài
    “Người chết tìm người sống” vì muốn xác định được phải theo hai tiêu chí:
    một là tìm được người thân và đúng quê hương mà liệt sỹ “nói”, hai là tìm
    được đơn vị có tên liệt sỹ chiến đấu và hy sinh tại đó. Chính vì đề tài này rất
    khó nên tiến hành chỉ đạt 6% - 14%. Đề tài “Tìm người thất lạc, người bỏ
    nhà đi hoặc tìm kẻ giết người cướp của” anh chị em gọi là đề tài “Người
    sống đi tìm người sống”. Đề tài này chủ yếu do hai nhà ngoại cảm Nguyễn
    Đức Phụng và Nguyễn Khắc Bảy tham gia. Đến nay, anh chị em ngoại cảm
    đã tìm được gần 200 nghìn ngôi mộ.
    Đặc biệt, đề tài “Khảo sát các trạng thái biểu hiện của vong” và đề tài “Giả
    thiết, lý giải các biểu hiện của vong dưới góc độ khoa học” mã số TK10 và
    mã số TK12 TM/TL (2010) đã được Hội đồng khoa học đánh giá cao. Trong
    đó có đề tài nhánh “Bệnh âm và lý giải”. Như vậy, hai mươi năm nghiên cứu
    đối tượng khoa học, thực chất là tìm hiểu về vong, được biểu hiện qua các
    nhà ngoại cảm. Đến nay là thế hệ ngoại cảm thứ tư và thứ năm xuất hiện. Vì
    các anh chị em ở thế hệ trước, một số người đã hết khả năng hoặc khả năng
    đã giảm nhiều hoặc một số không còn trong sáng vô tư nữa. Cũng từ việc
    nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy nếu không có sự giúp đỡ của vong linh

    thì không thể tìm được mộ và sự thành công của nhiều việc về văn hóa
    phương Đông khác.
    Để nghiên cứu, chúng tôi tiếp cận theo phương pháp “Lý thuyết tiếp cận hệ
    thống” (System Approach), để tìm hiểu hiện tượng nổi (emergence) của toàn
    bộ hệ thống. Vì rất nhiều trạng thái biểu hiện của vong nên chọn hiện tượng
    nào? Qua nghiên cứu lý thuyết tiếp cận hệ thống và lý thuyết chỉnh thể của y
    học phương Đông, chúng tôi thấy không có gì là mâu thuẫn, cũng qua
    nghiên cứu, chúng tôi “chộp” được một biểu hiện của vong thấy rất thú vị và
    rất quan trọng đối với cuộc sống con người hiện nay: đó là luật nhân quả mà
    trong nhóm cán bộ nghiên cứu của đề tài gọi là báo oán hoặc quả báo và giải
    nghiệp. Để nghiên cứu về nhân quả và giải nghiệp, chúng tôi dựa theo lý
    thuyết và quan điểm trong cặp phạm trù “tất nhiên và ngẫu nhiên” và cặp
    phạm trù “nhân quả” thì phương pháp tiếp cận dựa vào cặp phạm trù “nhân
    quả” là phù hợp. Vì đạo Phật cũng nói tới nhân quả… trong điều kiện nào đó
    “nhân” sẽ thành “quả”. Đầu vào, đầu ra qua hộp đen của lý thuyết tiếp cận hệ
    thống, muốn tìm được “nhân” đối chiếu với “quả” thì phải soi chéo rồi khớp
    lại mới tiến hành giải nghiệp hay trả nghiệp - giải nghiệp chướng. Có giải
    được nghiệp chướng thì mới giải thoát khỏi báo oán. Ví dụ đem súng, gươm,
    đao, kiếm, bom, đạn đi giết chết hàng nghìn, hàng vạn người dân vô tội ở các
    nước với những lời giả dối, mĩ miều thì làm sao giải được nghiệp chướng
    hoặc cậy vào sức mạnh đồng tiền và thế lực đã phá đền chùa, am thờ, miếu
    mạo, mồ mả, phá hủy hài cốt của người khác.
    Tưởng rằng có quyền lực ở dương thế thì muốn làm gì cũng được. Đây thực
    sự là ảo tưởng và huyễn tưởng, thậm chí vì ham đất đai, quyền lực, tiền của
    mà bất hiếu, bất trung với cha mẹ, gia tiên; anh chị em hại nhau, bạn hữu hại
    nhau, họ hàng giết nhau, cùng một dân tộc, một đất nước cũng giết hại lẫn
    nhau. Ôi! Thật là thê thảm! Chiến tranh! Hận thù cá nhân! Lòng tham vô đáy
    của con người… Hận thù chồng chất hận thù! Chiến tranh chồng chất chiến
    tranh!
    Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, để chuẩn bị cho Đại hội lần
    thứ IV của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị
    cho tôi sưu tầm những quan điểm của chủ nghĩa Mác nói về con người và
    gợi ý chuẩn bị thành lập Viện Nhân học. Thật may mắn, tôi còn lưu giữ được
    nhiều tư liệu quý về “báo oán” của thiên nhiên. Sau đây, tôi xin trích một số
    lời của C.Mác, nói về sự trả thù của thiên nhiên: “Con người sống dựa vào tự
    nhiên. Như thế nghĩa là tự nhiên là thân thể con người. Để khỏi chết, con
    người phải ở trong quá trình giao dịch thường xuyên với thân thể đó. Sinh
    hoạt vật chất và tinh thần của con người liên hệ khăng khít và tự nhiên. Vì

    con người là một bộ phận của tự nhiên. Đặc biệt, những đoạn viết sau đây
    của Anghen trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” (1875-1876), chúng
    tôi suy ngẫm liên hệ với tình hình nước ta và khu vực hiện nay thì rất đúng:
    “Loài vật sống phần nhiều dựa vào tự nhiên… con người nhận thức được
    quy luật của tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó phục vụ
    những mục đích của mình, nhằm thống trị tự nhiên”. Đồng thời, Anghen
    cũng nhắc nhở: “Nhưng con người cũng không nên quá tự hào thắng lợi về
    khoa học mà con người chinh phục được tự nhiên… Vì sau đó, tự nhiên sẽ
    trả thù, lần thứ hai mạnh hơn lần trước, lần thứ ba dữ dội hơn lần hai…”.
    Anghen đã đưa ra dẫn chứng về thảm họa ở một số nước, ông còn phân tích
    sự khác nhau của châu Âu và châu Á. C.Mác còn nói: “Một tự nhiên hào
    phóng thì nó dắt tay người ta đi như dắt tay trẻ con tập đi. Nó ngăn cản con
    người tàn phá tự nhiên phát triển, bằng cách không cho sự phát triển của con
    người trở thành một tất yếu”. (Nghĩa là bất chấp quy luật của tự nhiên, tàn
    phá tự nhiên).
    Nghiên cứu lý luận Mác - Anghen, cặp phạm trù “nhân quả” của chủ nghĩa
    Mác đối chiếu với thực tế loài người, con người trên dương thế thì không
    những có Báo oán - Quả báo - Nhân quả giữa con người với con người mà
    còn Báo oán - Quả báo - Nhân quả của tự nhiên (thiên nhiên) với con người.
    Triết học phương Đông cách đây trên 2000 năm đã nói: “Vũ trụ này là vũ trụ
    đạo lý, vũ trụ tâm linh. Khi tri thiên tức là khi đã biết đến trời thì người ta
    không những là công dân của xã hội nhân quần mà còn là công dân của trời,
    công dân của vũ trụ… Người ta không những được hưởng phẩm tước của xã
    hội nhân quần mà còn hưởng phẩm tước của trời”.
    Trong cuốn sách này, chúng tôi không nêu sự Báo oán - Nhân quả của tự
    nhiên với con người mà chỉ nêu Nhân quả của con người với con người.
    Ngoài ra, chúng tôi đưa vào một số truyện ngắn, truyện kể nhằm giúp người
    đọc bớt căng thẳng, nhưng vẫn nói lên Nhân quả - Báo ứng. Ví dụ, truyện về
    con sói (Ăn cháo đá bát) nói lên sự vô ơn; truyện “Trời ơi, con gái!” nói về
    sự kiêu căng; truyện “Bà ơi là bà ơi!” nói đến sự bất hiếu; và truyện “Chết
    đói” nói lên lòng nhân đạo…
    Theo cố nhà ngoại cảm có quyền năng huyền bí - Nguyễn Đức Cần - đã nói:
    “Con người có hai loại bệnh: Thân bệnh và nghiệp bệnh. Thân bệnh thì có
    thể chữa được, nghiệp bệnh thì khó. Nghĩa là có người có thể khỏi bệnh, có
    người không khỏi và có người cụ không nhận chữa”.
    Theo nghiên cứu của chúng tôi thấy có thể có ba loại nhân quả. Loại báo oán

    ngay đối với người gây ra đau khổ, chết chóc với người khác, hoặc xâm
    phạm đến nơi thờ phụng của vong linh, thánh thần, chùa chiền… Cũng có
    loại một hai đời sau mới phải gánh họa của cha ông gây ra và cũng có loại
    năm bảy đời sau thì họa mới đến dữ dội, liên tiếp mà người đời không hiểu
    tại sao.
    Hiện nay, có người nửa tin, nửa không tin hoặc vì quá ham quyền lực, tiền
    bạc, đất đai nên vẫn lao vào con đường Ý, Khẩu, Thân làm điều ác và vẫn cứ
    tưởng rằng họ sẽ thoát khỏi lưới trời. Họ không hiểu, không thấy được luật
    nhân quả đang ở trước mặt. Vì thế giới này được điều khiển tự động bằng
    luật Nhân quả! Đây chính là luật của Vũ trụ - luật của Vũ trụ là luật Nhân
    quả. Đúng là “thiên võng khôi khôi sơ nhi bất lậu” (lưới trời tuy thưa nhưng
    không gì có thể lọt qua được). Dân gian ta còn có vè rằng:
    “Ai ơi chớ vội khoe tài
    Hôm nay võng lọng ngày mai bộ hành
    Ngày kia bị, gậy, chiếu manh
    Ngày kìa đui cụt, lê quanh chân giường!”
    Để cứu giải, giải nghiệp thì cứ lễ lạt phần âm thật to ư? Như hiện nay có
    người sẵn sàng bỏ ra một tỷ hoặc mười tỷ để lễ lạt âm phần phù hộ cho họ.
    Không được đâu! Chả lẽ thánh thần cũng tham nhũng ư? Như thế thì không
    còn là thánh nữa.
    Lễ lạt cốt lòng thành, người tốt sẽ được âm phù, dương trợ. Không thể đem
    tiền ra mua thánh thần, sẽ thêm tội đấy. Nhiều người cứ tưởng rằng lễ to thì
    thoát tội. Một số người lợi dụng sự đau khổ của người khác để moi tiền bạc
    của họ. Chắc chắn đó là tội ác. Ở đời không phải tội gì cũng sám hối giải
    nghiệp được. Ví như tội giết cha mẹ, anh em; tội bán nước cầu vinh. Ở đời
    không phải cuộc lễ cầu nào cũng được chứng, cũng thành công. Đút lót
    nhiều, hối lộ nhiều với thánh thần càng thêm tội. Thầy sẽ phải gánh họa.
    Cuốn sách này hi vọng sẽ góp phần suy ngẫm cho người đọc.
    Xã hội phát triển, nhiều người làm việc thiện, nhiều người chân thật và tốt
    bụng… Nhưng chúng ta cũng đang phải sống trong thời kỳ vàng thau lẫn
    lộn, ngoại cảm giả danh, tà vong quá nhiều, từ thiện cửa miệng, kẻ cơ hội nổi
    lên kiếm chác. Điều đó làm cho niềm tin xã hội bị chao đảo. Nhưng chúng
    tôi cho rằng, cùng với sự phát triển, nhiều người có lòng nhân ái thực sự, từ
    thiện thực sự và tài năng đặc biệt thực sự thì chính con người sẽ sàng lọc

    được và thời gian chắc chắn sẽ trả lại sự chân chính đích thực…
    Xin chân thành cảm ơn.
    THIẾU TƯỚNG, TIẾN SĨ, NHÀ VĂN NGUYỄN CHU PHÁC

    Lời cảm ơn
    Tác giả xin chân thành cảm ơn thầy Huyền Diệu đã liên tục động viên, cảm
    ơn tất cả các anh, các chị, các nhà văn hóa phương Đông, các nhà ngoại cảm
    đã đóng góp nhiều công sức, tài liệu, bài báo quý giá và động viên để tôi có
    nghị lực hoàn thành cuốn sách này. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ông
    Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học và Nghệ thuật Việt Nam, Hội
    Nhà văn Việt Nam, Nhà xuất bản Hội Nhà văn và nhà in Mai Linh. Có điều
    gì sơ suất mong được mọi người thứ lỗi và thông cảm.
    THIẾU TƯỚNG, TIẾN SĨ, NHÀ VĂN NGUYỄN CHU PHÁC
    Ngẫm xem muôn sự ở đời
    Ác thì gặp ác nhân thời gặp nhân
    Lúc thịnh đạt gia tà trá đạo
    Lúc cuối đời quả báo coi chừng!
    NGUYỄN BỈNH KHIÊM
    “Càng ngày con người càng tin vào luật NHÂN QUẢ và ngay cả khoa học
    cũng đang tiến dần vào việc xác nhận sự kiện nữa.
    Riêng tôi, tôi tin vào luật NHÂN QUẢ”.
    ALBERT EINSTEIN

    Jawaharlai Nerhu (1889-1964) Và Einstein (1879-1955)
    Năm 1949, Nerhu nhân chuyến viếng thăm Mỹ có đến thăm Albert Einstein
    tại Princeton - Nerhu bày tỏ:
    “Nền văn hoá toàn cầu ngày nay tạo ra nhiều của cải vật chất, nhưng lại vô
    trách nhiệm đối với việc chăm sóc đạo đức con người”.
    Einstein đáp:
    “Vâng, nền văn hoá chăm lo đạo đức chính là nền văn hoá phương Đông cổ
    truyền của các ông”.
    Nhà khoa học Carl Sagan hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma:
    - “Ngài nghĩ sao nếu thuyết Nhân quả bị khoa học phương Tây chứng minh
    là sai?”
    Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời:
    “Nếu khoa học phương Tây chứng minh được rằng thuyết Nhân quả - tái
    sinh là không đúng; Phật giáo Tây Tạng sẽ huỷ bỏ ngay thuyết Nhân quả.
    Tuy nhiên sẽ là rất khó khăn để mà quý vị bác được thuyết Nhân quả”.
    Tồn tâm bất thiện
    Phong thuỷ vô ích
    Bất hiếu phụ mẫu
    Phụng thần vô ích
    Huynh đệ bất hoà
    Giao hữu vô ích


    Thời vận bất thông

    Cúng cầu vô ích
    “TU DƯỠNG QUYẾT”
    - KHỔNG TỬ 1. “Kinh nhân quả” và “Kinh nhân quả ba đời”
    (Trích)
    “…
    Những người chửi mắng mẹ cha
    Chết xuống âm phủ phải sa vạc dầu
    Những người bầu bạn lừa nhau
    Báo oán gặp phải cụt đầu, mất chân
    Những người ăn của bần dân
    Chết xuống âm phủ người âm vẫn đòi
    Những người ăn chơi dạc dài
    Kiếp này, kiếp nữa là loài súc sinh
    Những người đanh đá điêu toa
    Nước đồng đổ miệng, máu ra đầy mồm
    Những người chửi rủa sa môn
    Thánh thần phỉ báng - méo mồm gẫy răng
    Phật truyền nhân quả chư kinh
    Đọc để suy ngẫm sửa mình, tu thân…”
    2. Biết ơn anh Tào Mạt

    Cây có gốc mới nở cành xanh lá
    Nước có nguồn mới biển cả sông sâu
    Người ta nguồn gốc từ đâu
    Có tổ tiên trước rồi sau có mình.
    Năm 1990, tôi và anh Tào Mạt cùng về ở phố Lý Nam Đế. Anh ở số lẻ, tôi ở
    số chẵn, đối diện nhau, chỉ cách một con đường. Vì thế, hàng ngày, chúng
    tôi thường qua lại hàn huyên. Tôi thấy anh không những hiểu sâu sắc về lịch
    sử nước nhà mà còn rất uyên thâm về Hán học.
    Một hôm, tôi nhờ anh giúp đỡ. Tôi bảo: “Bố tôi có di chúc riêng với tôi là:
    Bố đã dịch xong gia phả của gia tiên để lại, riêng lời gia huấn văn chương
    súc tích lắm, con xem ai đó dịch thoát được thì con nhờ”. Tôi khẩn khoản
    nhờ anh Tào Mạt. Anh vui vẻ nhận lời ngay, yêu cầu đưa bản gốc chữ Hán
    (viết mực tàu trên giấy dó). Tôi đưa cho anh. Đọc qua, anh bảo: “Đọc gia
    phả nhà anh, tôi cũng học thêm được nhiều. Nhưng muốn dịch lời gia huấn
    của họ Nguyễn thì phải đọc kỹ toàn bộ gia phả, dịch mới thoát”. Sau đây là
    bản dịch của anh Tào Mạt. Cả họ tôi biết ơn anh!
    LỜI GIA HUÂN CỦA HỌ NGUYỄN CHU
    (Do nghệ sĩ nhân dân Tào Mạt dịch)
    Tích đức như quả khô
    Nghìn năm lại nở thiên thu vẹn toàn
    Chữ nhẫn là chữ tráng vàng
    Hễ ai nhẫn được thời càng bền lâu.
    Vẫn nghe:
    Một trung thành diệt muôn quỷ quyệt.
    Một kính cẩn hơn vạn gian ngoa.
    Lại nghe:

    Hiếu là gốc cho mọi điều thiện, cho nên lập được chữ hiếu thì mọi đức tốt có
    theo, điều thiện phải luôn luôn giữ, giữ được điều thiện có thể làm Thầy.
    Phàm trong nhà phải có lễ bái các Thổ địa, Thần kỳ, các vị Phật thánh linh
    thiêng, các Tôn thần trong nhà, cùng với Tổ tiên, cần phải hết lòng kính cẩn,
    luôn luôn giữ tâm tính và thân thể cho trong sạch, cầu lấy bình an phúc ấm.
    Cho nên có câu rằng: Thần hưởng lòng thành có lòng thành mới cảm được
    Thần. Thần cảm mình thì được, không lấy lễ lạt mà xin được. Thần không vì
    lễ hậu mà giáng phúc, không vì lễ bạc mà ra tai. Tất cả chỉ dựa vào phúc đức
    mà thôi.
    Người xưa dạy rằng: Chay ba ngày, giới bảy ngày gọi là “chay tam giới
    thất”.
    Thứ nhất: Lập thân
    Ý thực, lòng ngay, làm nhân, tích đức.
    Ở hiếu, giữ trung không hoang, không dâm, không tham, không lam, không
    lười, không chơi mà siêng năng công việc.
    Đọc sách, cày ruộng là hai việc lập nghiệp. Thức khuya dậy sớm lấy đức
    chăm chỉ mà xây dựng cơ nghiệp.
    Không để rỗi chân tay.
    Không để lòng dục buông tuồng.
    Giữ cần kiệm để mở rộng sự nghiệp.
    Không kiêu, không ghen, không hèn, không nịnh để giữ phẩm giá của mình.
    Trọng cái mà mình có, chính là quý bản thân.
    Sách luận ngữ dạy: “Học giả, học để làm người”.
    Liêm khiết có thể làm vẻ vang cho tổ tiên, để sung sướng cho con cháu.
    Thứ hai: Xử thế
    Thờ nước phải trung.

    Thờ bố mẹ phải hiếu thảo.
    Đối với bậc anh chị phải lễ phép săn sóc.
    Đối với người dưới mình phải quý trọng nhân cách của họ.
    Luôn luôn giữ lời giữ nết cẩn thận trong việc làm.
    Nói năng khiêm nhường.
    Không nịnh kẻ giàu sang.
    Không khinh người nghèo khó.
    3. Báo oán
    TÍCH XƯA
    Thưở xưa, vào đời nhà Đường, có một vị quốc sư hiệu là Ngô Đạt, tên là Tri
    Huyền. Lúc chưa hiển đạt, ngài thường gặp gỡ một nhà sư ở đất Kinh Sư
    trong một ngôi chùa nọ. Nhà sư ấy mắc bệnh hủi, ai cũng gớm, chỉ có ngài
    Tri Huyền là thường gần gũi hỏi han giúp đỡ, không hề khinh rẻ. Nhân lúc
    chia tay, nhà sư vì cảm kích trước tấm lòng của ngài Tri Huyền mới dặn
    rằng: Sau này ông có nạn chi, nên qua núi Cửu Lũng tìm tôi, và nhớ trên núi
    ấy có hai cây tùng làm dấu chỗ tôi trú ngụ.
    Sau đó ngài Ngô Đạt quốc sư đến ở chùa An Quốc thì đạo đức của ngài càng
    vang khắp. Vua thân hành đến pháp tịch nghe ngài giảng đạo. Nhân đó vua
    mới ân từ cho ngài cái pháp tọa bằng gỗ trầm hương. Nhưng, cũng từ đó trên
    đầu gối của ngài bỗng nhiên mọc một mụn ghẻ tựa như mặt người, đau nhức
    khôn xiết. Ngài cho mời tất cả các bậc danh y, nhưng không ai chữa được.
    Nhân ngài nhớ lời dặn trước bèn đi vào núi mà tìm.
    Trên đường đi, trời đã tối, trong khoảng âm u mây bay khói tỏa mịt mù, ngài
    nhìn xem bốn phía, bỗng thấy hai cây tùng, ngài mới tin rằng lời ước hẹn
    xưa không sai. Ngài liền đến ngay chỗ đó, quả nhiên thấy lầu vàng điện ngọc
    lộng lẫy nguy nga, ánh quang minh chói rọi khắp nơi. Trước cửa, nhà sư
    đang đứng chờ đón ngài một cách thân mật.
    Nhân tiện ở lại đêm, ngài Ngô Đạt mới tỏ hết sự đau khổ của mình. Nhà sư
    ấy nói: Không hề gì đâu, dưới núi này có một cái suối, sáng mai rửa, mụn

    ghẻ ấy khỏi ngay.
    Mờ sáng hôm sau, một chú tiểu đồng dẫn ngài ra ngoài suối, ngài vừa bụm
    nước lên rửa thì mụn ghẻ kêu lên:
    - Đừng rửa vội. Ông học nhiều biết rộng, đã khảo cứu các sách cổ kim, mà
    đã từng đọc đến truyện Viên Áng, Tiều Thố chép trong bộ Tây Hán chưa?
    - Tôi có đọc.
    - Ông đã đọc rồi lẽ nào lại không biết truyện Viên Áng giết Tiều Thố vậy.
    Thố bị chém ở chợ phía đông oan ức biết dường nào. Ông chính là Viên Áng
    đó. Đời đời tôi tìm cách báo thù ông, xong đã mười kiếp ông làm bậc cao
    tăng, giới luật tinh nghiêm, nên tôi chưa có cơ hội báo oán được.
    Nay vì ông được nhà vua quá yêu chuộng nên khởi tâm danh lợi làm tổn giới
    đức, tôi mới báo thù được ông. Nay nhờ ngài Ca Nặc Ca tôn giả lấy nước
    pháp Tam muội rửa oán cho tôi rồi, từ đây trở đi tôi không còn báo oán ông
    nữa.
    Ngài Ngô Đạt nghe qua hoảng sợ liền vội vàng múc nước gột rửa mụn ghẻ,
    làm nhức nhối tận xương tủy, chết giấc hồi lâu mới tỉnh. Khi tỉnh lại thì
    không thấy mụn ghẻ ấy nữa. Ngài muốn trở lên lạy tạ vị sư, nhưng ngoảnh
    lại thì ngôi bảo điện kia đã biến mất tự bao giờ. Vì thế, ngài bèn lập một cái
    thảo am ngay chỗ ấy và sau trở thành một ngôi chùa. Khi đó, ngài Ngô Đạt
    nghĩ đến nỗi oan trái đã bao đời nếu không gặp thánh nhân thì đâu có khỏi
    được. Vì cảm niệm cái ơn tế độ lạ lùng ấy, ngài mới thuật ra pháp sám này
    để sớm hôm lễ tụng, sau truyền bá khắp thiên hạ.
    Nghĩa chính của bài văn này là lấy nước Tam muội rửa sạch nghiệp oan
    khiên nên mới đặt tên là Thủy Sám.
    (Trích Kinh Thủy Sám)
    CHUYỆN NAY
    Ở một làng quê ngoại thành Hà Nội, trong một gia đình nông dân nọ, có bảy
    người con trai. Gia đình họ làm ăn chất phác, chăm chỉ nên tạo dựng được
    một cơ ngơi, nhà cửa, vườn ao rộng rãi.
    Nhưng có một chuyện lạ, là những người con trong gia đình này, cứ đến năm
    mười bảy tuổi là bị tai nạn chết, người thì bị chết đuối, người thì bị ngã do

    trèo cây, người thì bị xe đâm khiến gia đình rất sợ hãi, đã đi cúng lễ ở nhiều
    nơi, đã mời nhiều thầy về cúng lễ tại nhà. Nhưng cứ đến hạn định, người con
    nào đến mười bảy tuổi là bị đột tử mà chết thảm thương. Có sáu người con
    của họ bị chết như vậy.
    Và chỉ còn một người con trai duy nhất năm đó đã bước vào tuổi mười bảy.
    Gia đình người nông dân đó như nằm trên đống lửa.
    Năm đó, vào vụ gặt mùa, cụ Trưởng Cần sang làng thăm một số bà con bệnh
    nhân mà trước đó họ đã tha thiết mời cụ. Khi cụ vừa đến cánh đồng làng thì
    nhiều người đang làm đồng trông thấy, vội chạy ra chào đón tíu tít. Cụ dừng
    chân, hỏi chuyện bà con. Mọi người vui mừng kể rằng năm nay được mùa,
    lúa tốt, nhà nào thóc cũng đầy sân. Đang lúc vui chuyện, thì vợ chồng nhà
    nọ, không biết có ai mách bảo, chạy đến quỳ thụp ngay dưới chân cụ, kêu
    xin cụ cứu giúp. Họ vừa khóc, vừa kể lể sự tình và kêu xin:
    - Bây giờ gia đình chúng con chỉ còn đứa con trai duy nhất, trăm lạy cụ cứu
    cho.
    Cụ trầm ngâm đôi chút, rồi bảo:
    - Thôi, hãy đứng dậy đã. Được, tôi sẽ giúp.
    Mọi người có mặt lúc đó ai cũng mừng cho họ, vì thấy cụ đã nhận lời.
    Nhưng, người ta còn chờ xem số phận của người con trai họ. Một năm trôi
    qua, rồi hai năm… gia đình họ vẫn bình yên. Và đến khi chàng trai tròn hai
    mươi tuổi thì gia đình cưới vợ cho con, họ sang báo tin mừng và mời cụ. Cụ
    bảo:
    - Tôi mừng cho ông bà, nhưng muốn giữ gìn được gia đình hạnh phúc thì
    phải luôn ăn ở có đạo đức, làm nhiều điều tốt đẹp.
    Sau này, cụ cho biết: Kiếp trước nhà kia đã làm chết bảy người của một gia
    đình trong một hố vôi, họ đã bị chết rất thảm thương và đến đời này họ đòi
    lại món nợ.
    Oán thù nếu không được giải, thì nó sẽ chất chồng mãi, đời này sang đời
    khác.
    4. Lạ lùng người con gái 30 năm canh giữ bên mộ cha

    Trong đạo hiếu ngày xưa có quy định về việc con canh mộ cha. Khi người
    bố qua đời thì người con trai trưởng phải dựng lều bên mộ bố, túc trực canh
    giữ suốt ba năm. Ba năm đi chân đất, mặc áo vải sô, ăn uống đạm bạc, ba
    năm không uống rượu, ba năm không gần nữ sắc. Trong ba năm đó, kể cả có
    chiếu chỉ của nhà vua cũng không phải chấp hành. Như vậy, quy định này
    trong đạo hiếu đã trở thành quốc pháp. Nhưng đó là chuyện thời xa xưa và
    cũng chỉ là việc dành riêng cho đàn ông. Còn trong thời đại ngày nay mà có
    một người con gái 30 năm ròng canh bên mộ cha là chuyện lạ lùng nhất ở
    nước ta, từ cổ chí kim chưa thấy.
    Người con gái này là bà Nguyễn Thị Sinh, sinh năm 1947, trú quán làng
    Thanh Mai, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Gọi làng Thanh Mai là trú quán của
    bà Sinh vì nguyên quán của bà không ở đây mà ở làng Đại Yên, phường
    Ngọc Hà, quận Ba Đình, Hà Nội. Cuối năm 1946, giặc Pháp tấn công Hà
    Nội, Bác Hồ kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Thực hiện chủ
    trương tiêu thổ kháng chiến, người Hà Nội sơ tán về các làng quê. Một ngày
    đầu tháng 4/1947, trong khi chạy giặc, bà Lê Thị Tuyết - vợ ông Nguyễn
    Đức Cần đẻ rơi đứa con gái thứ hai trên bãi ngô cánh đồng làng Thanh Mai,
    Thanh Oai, Hà Đông cũ. Bà Tuyết ôm đứa con gái còn đỏ hỏn vào ở nhờ
    dưới mái hiên ngôi đình thôn My Hạ. Do chạy giặc vất vả và ăn uống thiếu
    thốn nên bà Tuyết bị mất sữa. Không có sữa bú, bé gái sơ sinh khóc suốt
    đêm, khiến nhiều người thôn My Hạ khó ngủ. Người khó ngủ nhất là vợ ông
    Bùi Văn Hồ, nhà ở sát đình thôn. Bà Hồ cũng vừa sinh một đứa con gái
    nhưng chỉ bốn ngày sau thì cháu đã bỏ cha mẹ mà đi. Ôm hai bầu vú căng
    đầy sữa, bà Hồ vừa thương đứa con đã mất lại vừa thương đứa bé khát sữa
    đang khóc ngằn ngặt ngoài đình. Bà Hồ nhổm dậy, cầm ngọn đèn dầu đi ra
    đình thôn cho đứa bé khát sữa bú nhờ. Đứa bé bập vào bầu sữa của bà Hồ,
    mút lấy mút để rồi sau đó ngủ rất ngoan. Bà Hồ đã ba lần sinh nở và cả ba
    lần con đầu chết yểu. Có người nói rằng, bà nhà phải xin con nuôi rồi sau đó
    mới nuôi được con đẻ. Bà Hồ về nhà bàn với chồng ra đình thôn thưa chuyện
    với bà Tuyết xin nhận bé gái sơ sinh làm con nuôi. Đứa bé gái sơ sinh ấy
    chính là bà Nguyễn Thị Sinh ngày nay.
    Ngôi mộ mà bà Sinh làm nhà trông coi suốt 30 năm qua là linh phần của cụ
    Nguyễn Đức Cần, còn gọi là cụ Trưởng Cần - thân phụ của bà Sinh. Cụ
    Trưởng Cần là một nhân vật rất đặc biệt, một con người có thật mà đời sống
    như huyền thoại. Cụ Nguyễn Đức Cần sinh vào đêm 30 Tết Kỷ Dậu, niên
    hiệu Duy Tân thứ ba (1909), là con trai của cụ Phó tổng Nguyễn Đức Nhuận
    và bà Hoàng Thị Khế.
    Khi Nguyễn Đức Cần học năm cuối trường Anbe Xarô (mang tên toàn quyền

    Pháp), thì cụ Nhuận mắc một chứn...
     
    Gửi ý kiến

    “Nếu bạn muốn đạt được bất cứ điều gì trong cuộc sống, bạn phải đọc rất nhiều sách.” – Roald Dahl

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TRUNG HỌC THỰC HÀNH SÀI GÒN !