Viếng Lăng Bác - Bài giảng
Những bí mật về chiến tranh Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:56' 18-04-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:56' 18-04-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
NHỮNG BÍ MẬT VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM
Tác giả: Daniel Ellsberg
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Lời Giới Thiệu
Năm 1971, Daniel Ellsberg, sĩ quan Lầu Năm Góc từng tham chiến ở Việt Nam, đã
cho công bố 7.000 trang tài liệu tối mật cho báo chí, tạo nên một làn sóng phản đối chiến
tranh Việt Nam mạnh mẽ chưa từng có tại Mỹ. Nhận bằng tiến sĩ Kinh tế Đại học
Harvard năm 1962, nhưng số phận lại đưa ông đến làm việc ở Bộ Quốc phòng và sau đó
ông được phái sang chiến trường Việt Nam.
Sau hơn 3 năm ở Việt Nam, làm việc cho cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
và Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, năm 1967, Daniel trở về Mỹ, ông được phân vào nhóm nghiên
cứu tối mật về hoạch định chính sách đối với Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng
McNamara. Tại đây, ông đã được trực tiếp tiếp xúc với các tài liệu mật của Nhà Trắng và
biết rõ kế hoạch muốn leo thang chiến tranh Việt Nam của Tổng thống, mặc dù bề ngoài
Nixon và bộ sậu của ông ta ra sức nói dối để bao che cho hành động leo thang và kéo dài
cuộc chiến của mình.
Là một người yêu chuộng hoà bình và đã từng có thời gian tham chiến tại Việt Nam,
hiểu rõ bản chất phi nghĩa của cuộc chiến, Dan đã đánh cược cả cuộc đời mình, sao chụp
7.000 trang tài liệu của Hồ sơ Lầu Năm Góc. Ông bắt đầu công việc này từ năm 1969 và
đến năm 1971, ông đã đi đến quyết định làm chấn động nước Mỹ, công bố toàn bộ tài liệu
trên tờ Thời báo New York. Dan đã từng nói: Lẽ ra, nếu tôi có thể đưa các tài liệu đó ra từ
khi tôi mới vào làm việc tại Lầu Năm Góc và Nhà Trắng, vào năm 1964-1965, thì có thể
những tài liệu đó đã góp phần ngăn chặn cuộc chiến".
Những bí mật về chiến tranh Việt Nam - Hồi ức về Việt Nam và Hồ sơ Lầu Năm Góc
(Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon papers) là cuốn hồi ký của Daniel, xuất
bản năm 2002, đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất, gây xôn xao nước Mỹ. Cuốn sách kể
lại cuộc hành trình đi tìm sự thật của Dan và phanh phui những âm mưu dối trá của
Tổng thống Nixon và Lầu Năm Góc về cuộc chiến tranh Việt Nam, bắt đầu từ Sự kiện
Vịnh Bắc Bộ, (tháng tám năm 1964).
Tháng Ba năm 2006, Daniel trở lại thăm Việt Nam, và được trao Kỷ niệm chương "Vì
hoà bình hữu nghị giữa các dân tộc", tôn vinh những cống hiến không mệt mỏi của ông
đã góp phần thức tỉnh dư luận về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.
Ông đã cho phép Nhà xuất bản Công an nhân dân dịch và xuất bản cuốn hồi ký của
mình.
Sau một thời gian làm việc, cuốn sách đã đến tay bạn đọc.
Hy vọng cuốn sách sẽ giúp bạn đọc có một góc nhìn đa diện hơn về cuộc chiến và qua
đó thấy rõ tâm lòng của một người ở phía bên kia chiến tuyến đối với đất nước nhỏ bé
này.
Nhà xuất bản Công an nhân dân xin trân trọng giới thiệu.
NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN
Lời Nói Đầu
Tối ngày 1 tháng mười năm 1969, tôi rảo bước nhanh qua phòng bảo vệ của Công ty
Rand[I] ở Santa Monica, tay xách một vali chứa đầy tài liệu tối mật mà tôi dự tính sẽ sao
chụp trong đêm hôm đó. Số tài liệu này là một phần trong công trình nghiên cứu tối mật
gồm 7.000 trang liên quan tới các quyết định của Mỹ ở Việt Nam, sau này được biết đến
dưới tên gọi quen thuộc là Hồ sơ Lầu Năm Góc. Phần còn lại nằm trong két đựng tài liệu
ở văn phòng của tôi.
Tôi quyết định sao chụp toàn bộ và đưa ra công chúng bộ hồ sơ này, hoặc là thông qua
các cuộc điều trần tại Thượng viện hoặc là qua báo chí nếu tôi thấy điều đó là cần thiết.
Tôi tin rằng tôi có thể sẽ phải ngồi tù suốt đời vì việc làm này. Cuốn hồi ký này sẽ tập
trung mô tả quá trình hành động công bố tài liệu của tôi.
Trong 11 năm, từ giữa năm 1969 đến khi kết thúc cuộc chiến tranh vào tháng Năm
năm 1975, tôi cũng như rất nhiều người Mỹ khác đặc biệt quan tâm tới sự can thiệp của
Mỹ vào Việt Nam. Vào thời gian đó, thoạt tiên tôi nghĩ đó chỉ là một vấn đề, tiếp đến là
một sự bế tắc, nhưng rồi sau đó là một thảm hoạ về đạo đức và chính trị và cuối cùng trở
thành một tội ác. Ba phần đầu của cuốn sách tương ứng với ba giai đoạn phát triển về
nhận thức của tôi.
Những sai phạm và hành động sau đó của tôi đã phản ánh quá trình thay đổi nhận
thức đó. Khi nhận thức cuộc xung đột chỉ là một vấn đề tôi đã cố gắng góp sức để giải
quyết nó, khi nhận ra sự bế tắc, chúng ta (Nước Mỹ - ND) đã cố gắng tư giải thoát mà
không gây phương hại tới lợi ích của quốc gia khác, và tôi đã nỗ vạch trần và chống lại
cuộc chiến khi ý thức mách bảo nó đã trở thành một tội ác với hy vọng chấm dứt nó càng
sớm càng tốt. Qua quá trình nhận thức trên, tôi đã vận dụng nhiều cách khác nhau nhằm
tránh khả năng chiến tranh leo thang lên cao hơn. Nhưng gần đến giữa năm 1973, khi tôi
phải ra trước Toà án liên bang vì nhũng hành động của tôi vào cuối năm 1969, tôi đã nói
không ai, kể cả tôi, thành công trong mục đích và cố gắng của mình. Những nỗ lực nhằm
chấm dứt cuộc xung đột - cho dù nó được nhìn nhận như là một cuộc kiểm nghiệm bị
thất bại, một vũng lầy hay một sai phạm về mặt đạo lý - dường như cũng chẳng thấm vào
đâu so với những cố gắng để chiến thắng trong cuộc xung đột đó. Vì sao?
Như sau này tôi nhận thấy, chỉ cần chống thôi chưa đủ, chúng ta còn cần phải hiểu về
chiến tranh. Ba mươi năm sau tôi vẫn tin điều đó là sự thật. Cuốn sách này thể hiện nỗ
lực cho đến tận ngày hôm nay của tôi - những nỗ lực còn xa mới hoàn tất - trong việc giúp
các bạn hiểu về cuộc chiến tranh của đất nước chúng ta ở Việt Nam, và bản thân tôi là
một phần của cuộc chiến đó và tại sao cuộc chiến tranh đó cũng như những nỗ lực của tôi
lại kéo dài đến như vậy.
Trong thời gian ba năm bắt đầu từ giữa năm 1964 - với ngạch bậc dân sự cao nhất, tôi
đã giúp chính quyền theo đuổi một cuộc chiến tranh mà tôi tin ngay từ khi bắt đầu là nó
sẽ bị thất bại. Làm việc tại Washington bên cạnh những nhà hoạch định chính sách tối
cao trong những năm 1964-1965, tôi đã chứng kiến họ bí mật đẩy đất nước này vào một
cuộc chiến tranh qui mô lớn mà không hề có lấy một khả năng thành công. Sự bi quan
của tôi trong những năm đó không thay đổi, và trong vòng khoảng một năm - từ mùa
Xuân năm 1965 tới mùa Xuân năm 1966 - tôi đã kỳ vọng và làm hết sức để trông chờ một
sự thắng lợi nào đó. Sự kỳ vọng đó đặt vào vị tổng thống, người mà bất chấp nhiều mối
nghi ngại, vẫn đẩy chúng ta lún sâu vào vũng lầy của cuộc chiến. Khi nước Mỹ đã dính líu
toàn diện vào cuộc chiến tranh, vào giữa năm 1965 tôi tình nguyện tới phục vụ ở Việt
Nam như một nhân viên của Bộ Ngoại giao. Công việc của tôi là đánh giá tình hình "bình
định" ở vùng nông thôn. Thời gian này, tôi đã sử dụng vốn kiến thức của một sĩ quan chỉ
huy pháo binh của lực lượng lính thuỷ đánh bộ, để quan sát cuộc chiến tranh một cách
toàn diện. Trước đây câu hỏi liệu chúng ta có một quyền gì đó, bất kể quyền gì cao hơn
người Pháp tới chúng ta, để theo đuổi cuộc chiến bằng lửa đạn và sắt thép ở Đông
Dương, những mục tiêu mà các nhà lãnh đạo của chúng ta đã lựa chọn, chưa bao giờ
khiến tôi phải bận tâm. Trong hai năm ở Việt Nam, ấn tượng về những người dân và
hoàn cảnh của họ đã trở nên chân thực với tôi hơn, chân thực như những binh lính Mỹ
mà tôi cùng hành quân, như chính đôi bàn tay của tôi, mà trong một khía cạnh nào đó, đã
khiến việc tiếp tục theo đuổi cuộc chiến vô vọng đó trở nên không thể tha thứ được.
Bị loại khỏi chiến trường vì bệnh viêm gan và quay trở lại Mỹ từ giữa năm 1967 tôi bắt
đầu làm tất cả những gì có thể để giúp đất nước tôi thoát khỏi cuộc chiến tranh. Trong
hai năm tôi làm việc này với danh nghĩa là người trong cuộc phỏng vấn trực tiếp các quan
chức cao cấp, cố vấn cho các ứng cử viên tổng thống và cuối cùng, vào đầu năm 1969, làm
trợ lý Cố vấn An ninh quốc gia của Tổng thống. Nhưng cùng trong năm đó, tôi nhận ra
mình đã phá vỡ kế hoạch đề ra ban đầu nên quyết định chấm dứt sự nghiệp công bộc cho
chính phủ.
Một trong những việc làm trên đe doạ xâm hại quyền tụ do của tôi. Năm 1969 và 1970,
với sự giúp đỡ của người bạn tên là Anthony Russo - một cựu thành viên của Công ty
Rand, tôi bí mật sao chụp toàn bộ 47 tập Hồ sơ Lầu Năm Góc, một văn kiện nghiên cứu
tối mật về các quyết định của Mỹ ở Việt Nam từ 1945 đến 1968, làm sở hữu riêng của
mình và trao chúng cho Thượng nghị sỹ William Fulbright, Chủ tịch Uỷ ban đối ngoại
Thượng viện. Năm 1971, tôi cũng đã trao những bản sao cho tờ Thời báo New York và tờ
Bưu điện Washington và cuối cùng, bất chấp tới bốn lệnh cấm của liên bang, một điều
chưa có tiền lệ, cho 17 tờ báo khác mà sau đó đã đem công bô nội dung tài liệu của tôi.
Tôi đã không sai khi nhận định về những mối nguy hiểm đối với cá nhân tôi. Ngay sau
đó, tôi bị buộc phải ra trước toà án liên bang, tiếp theo là Russo. Tổng cộng, tôi bị quy tới
12 tội và có thể phải chịu tới 115 năm tù với một vài lần hầu toà nữa. Nhưng tôi cũng
không sai khi hy vọng rằng vạch trần những bí mật và những điều dối trá của 5 vị tổng
thống có thể làm lợi cho nền dân chủ của chúng ta và đó là cái giá xứng đáng cho sự mạo
hiểm của mình. Sự thật được tiết lộ sẽ là động lực để thúc đẩy việc đưa ra công luận hàng
loạt vấn đề, bao gồm cả những việc làm xấu xa của Nhà Trắng hòng làm mất uy tín của tôi
cũng như bắt tôi phải im miệng. Đương nhiên là nếu tôi khuất phục thì họ sẽ bãi bỏ
những cáo buộc chống lại tôi và bạn bè của tôi. Nhưng điều quan trọng hơn nhiều là
chính những tội ác của Phòng Bầu Dục đã góp phần lật đổ Tổng thống, một bước hết sức
cần thiết trước khi đi đến kết thúc chiến tranh.
Đây là câu chuyện về sự thay đổi lớn nhất trong đời tôi, nó bắt đầu kể từ khi tôi từ Việt
Nam trở về. Sự tan vỡ của nhũng niềm hy vọng mỏng manh mà tôi có. Ở Việt Nam, sự
hoài nghi về cuộc chiến tranh đã theo tôi về Mỹ từ giữa năm 1967 không còn xa lạ gì với
tôi nữa. Trái lại, nó khiến tôi bi quan trở lại như trong chuyện đi đầu tiên tới Việt Nam
năm 1961 và nó lại được nhân lên trong năm đầu tiên tôi làm cho Lầu Năm Góc từ giữa
năm 1964. Năm 1967, tâm lý hoài nghi này lan rộng trong chính phủ. Dư luận bên ngoài
thậm chí có lẽ còn hoài nghi hơn nữa. Đây chính là thời điểm mà mong muốn chứng kiến
cuộc chiến tranh kết thúc của tôi cũng không khác với hầu hết các đồng nghiệp trong
chính phủ hoặc trong các cơ sở nghiên cứu do chính phủ tài trơ, dù họ đã hoặc chưa tùng
phục vụ ở Việt Nam. Cả một thế hệ sinh ra trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam cũng đều
trở nên vỡ mộng như tôi về một cuộc chiến tranh mà họ thấy ở đó sự vô vọng và vô tận.
Tôi cũng từng có chung quan niệm như họ về những giá trị và đặc tính của nước Mỹ,
tham gia tích cực vào Chiến tranh lạnh, vào việc chống chủ nghĩa cộng sản, vào việc giữ
bí mật, và vào việc ủng hộ chiếc ghế tổng thống. Đến năm 1968, nếu không nói là sớm
hơn, tất cả họ, cũng như tôi đều muốn thấy nước Mỹ cần phải thoát ra khỏi cuộc chiến
tranh này. Mong muốn này thúc đẩy tôi tìm hiểu câu hỏi. Tại sao chiến tranh lại có thể xảy
ra trong những hoàn cảnh như vậy, nhất là sau sự ám ảnh ghê gớm của cuộc Tổng tiến
công Tết Mậu Thân hồi đầu năm 1968 mà cuộc chiến vẫn có thể kéo dài tới bảy năm nữa?
Nội dung chính của cuốn hồi ký này kể một câu chuyện với phần mở đầu là sự chỉ
trích của những nhân vật trong chính phủ về chính chính sách của chúng ta, đến chỗ cuối
cùng tôi đã vượt lên trên cả những nỗ lực chấm dứt chiến tranh từ vị trí trong ngành
hành pháp, sẵn sàng từ bỏ những đặc quyền và mối quan hệ chính trị, cơ hội phục vụ các
tổng thống tương lai, toàn bộ sự nghiệp của tôi để thay bằng việc chấp nhận viễn cảnh
của một cuộc sống ở chốn lao tù. Cuốn sách tập trung vào những điều mà kinh nghiệm
cuộc sống đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện công việc của mình suốt từ năm 1969 đến
năm 1972, nhũng điều tôi đang mong muốn tôi (hoặc nhũng người khác) đã làm trong
năm 1964 hoặc 1965 đó là: đưa những tài liệu này ra Quốc hội và báo chí để nói ra sự thật.
Thật dễ để nói rằng ý tưởng phanh phui sự thật đơn giản đã không đến với tôi và cũng
như bất kỳ ai vào thời điểm đó. Vấn đề còn lại là tại sao điều đó lại không xảy ra? Cũng
giống như nhiều người, tôi hoàn toàn tin tưởng vào vị tổng thống của mình (và đối với
nghề nghiệp của tôi, những dữ liệu thông tin nội bộ và ảnh hưởng của nó, dù sao chăng
nữa, tôi cũng đã lý tưởng hoá mục đích của mình) trên tất cả mọi thứ khác, trên lòng
trung thành với Hiến pháp, trách nhiệm với sự thật, với những người bạn Mỹ và với
những cuộc sống của những người khác. Đây là một câu chuyện đối diện với sự thật, mà
vì nó, tôi luôn biết ơn, của những thanh niên Mỹ đã lựa chọn thà vào tù còn hơn là tham
gia vào một cuộc chiến mà họ biết là sai lầm, đã thức tỉnh tôi trước những sự trung thành
cao cả này.
Tôi hy vọng, thông qua cuốn hồi ký, đưa ra những bài học cho các quan chức tương lai
trong những hoàn cảnh tương tự và cho tất cả mọi người dân, những người sẽ theo dõi
trách nhiệm của chính phủ trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Tôi sẽ nêu một bài học thú
vị hơn (như mô tả trong Phần IV)l vào thời điểm chuẩn bị kết thúc phiên toà và sau đó, là
việc nói ra sự thật, vạch trần những bí mật sai trái được che đậy, có thể đem lại một sức
mạnh bất ngờ chưa từng thấy, nó giúp chấm dứt một sai lầm và cứu được những mạng
sống.
Chú thích:
[I] Rand là công ty nghiên cứu chiến lược thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ, viết tắt của cụm từ
tiếng Anh "Research and Development", nghĩa là "Nghiên cứu và Phát triển" - ND
Giai đoạn mở đầu
Việt Nam 1961:
Mùa thu năm 1961, không phải mất nhiều thời gian để khám phá ra rằng chúng ta
hầu như không thể giành được thắng lợi ở Việt Nam. Tôi chỉ mất gần một tuần trong
chuyện thăm đầu tiên để hiểu ra điều đó. Với việc tiếp cận đúng nguồn thông tin, nói
chuyện với đúng đối tượng dân chúng, bạn có thể nhanh chóng có được một cái nhìn xác
thực. Bạn không phải nói tiếng Việt Nam, cũng không cần phải biết lịch sử, triết học hay
văn hoá châu Á mới có thể biết được rằng mọi việc chúng ta đang cố gắng làm đều chẳng
đem lại kết quả tốt đẹp gì hơn. Tôi đã đọc đâu đó rằng bạn không cần phải là một nhà
ngư học mới biết được khi nào thì một con cá bị chết thối.
Tôi là thành viên cấp cao của một lực lượng đặc nhiệm thuộc Lầu Năm Góc, tới thăm
Đoàn Cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) ở Việt Nam với một giấy phép có thể "đi bất
cứ đâu, xem bất cứ cái gì". Trưởng đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ, tướng Lionel McGan,
đã yêu cầu các thành viên tham mưu của ông ta giúp chúng tôi bằng mọi cách để chúng
tôi có thể nói một cách thẳng thắn. Đặc biệt, có một viên đại tá, người mà tôi đã nói
chuyện vào thời gian gần cuối nhiệm kỳ của ông ta ở Việt Nam, đã có ý định chuyển giao
lại những gì ông ta thu thập được ở đất nước này cho một người nào đó mà người đó có
thể nói được với công chúng ở Washington. Ông đã cho tôi xem các hồ sơ của Đoàn cố
vấn viện trợ quân sự Mỹ và kéo ra hàng đống những cặp tài liệu, và tôi đã thức trắng mấy
đêm để đọc, phân loại các kế hoạch, báo cáo và các bản phân tích những chương trình
của chúng ta và triển vọng của nó ở Việt Nam.
Mùi mốc của tài liệu rách nát hiện hữu ở mọi chỗ, và ông bạn đại tá của tôi cũng chẳng
có một cố gắng nào để làm thay đổi tình trạng này.
Ông ta nói với tôi rằng dưới sự trị vì của Tổng thống Ngô Đình Diệm, một nhà lãnh
đạo độc tài mà chúng ta đã lựa chọn cho miền Nam Việt Nam trước bảy năm, thì cuối
cùng trong vòng một hoặc hai năm, Cộng sản gần như chắc chắn sẽ lên nắm quyền.
Nếu Diệm, người đã rất thành công trong năm trước đó bị phế truất trong một cuộc
đảo chính, thì Cộng sản thậm chí còn giành thắng lợi nhanh hơn.
Hầu hết các sĩ quan của Đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ đều đồng ý với ông ta và với
nhiều quan chức người Việt Nam rằng điều duy nhất có thể làm thay đổi triển vọng này
trong thời gian ngắn là các lực lượng chiến đấu người Mỹ với qui mô lớn. (Hiệp định
Geneva năm 1954 chỉ cho phép 350 cố vấn quân sự của Mỹ có mặt tại Việt Nam, cho dù
bằng nhiều mưu mẹo khác nhau Mỹ đã cho tới hơn 700 cố vấn). Vị đại tá này còn tin rằng
kể cả các sự đoàn của Mỹ vào cũng sẽ chỉ làm chậm lại hậu quả tương tự. Cộng sản sẽ
nắm quyền ngay sau khi lực lượng của chúng ta rút ra bất kể khi nào.
Đây không phải là tin tốt lành với tôi. Tôi là một chiến binh mùa đông tận tâm và thực
tế là một chiến binh nhà nghề. Tôi đã là thành viên chống Xô viết từ cuộc đảo chính của
người Séc và trận phong toả Berlin năm 1948, khi tôi đang học năm cuối của trường trung
học và cuộc chiến tranh Triều Tiên khi tôi là sinh viên trường Harvard vài năm sau đó.
Trong thời gian phục vụ quân ngũ, tôi đã chọn Quân đoàn Lính thuỷ đánh bộ và có 3 năm
làm sĩ quan bộ binh. Từ vai trò người lính thuỷ đánh bộ, tôi quay trở về Harvard để thi
tốt nghiệp, sau đó vào Công ty Rand, một tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận với vấn đề
trọng tâm là các khía cạnh quân sự của cuộc Chiến tranh lạnh. Công việc của tôi tới năm
1961 chủ yếu là ngăn cản một cuộc tấn công hạt nhân bất ngờ từ Liên bang Xô viết. Tôi
không thích gì hơn khi được biết miền Nam Việt Nam, nơi mà Xô viết ủng hộ phe Cộng
sản, sẽ bị đánh bại với sự trợ giúp của chúng tôi. Nhưng những cuộc tranh luận với viên
đại tá đã làm tôi tin rằng miền Nam Việt Nam không phải là nơi đó.
Khi tôi trở lại Công ty Rand một tháng sau, thông điệp của tôi tới các cấp trên là, tốt
nhất nên tránh xa Việt Nam, tránh xa các nghiên cứu chống bạo loạn, ít ra là về Việt Nam.
Tôi nói, chúng ta đang bị lúng túng ở đó và tình hình sẽ không khá khấm hơn, người ta
sẽ cản trở và bôi nhọ mọi thứ liên quan tới Việt Nam vì đó sẽ là một thất bại. Họ sẽ phải
hứng chịu một số phận như những người dính líu vào vụ Vịnh Con Lợn, trước đó chỉ vài
tháng. Bản thân tôi cũng quyết định không làm gì liên quan tới Việt Nam.
Một thời gian ngắn sau đó, Chính quyền Kennedy đã thể hiện một thái độ hoàn toàn
khác. Vài tuần sau khi tôi từ Việt Nam trở về, một đoàn cố vấn của Nhà Trắng dưới sự chỉ
huy của hai cố vấn cao cấp của Tổng thống là tướng Maxwell Taylor và W. Rostow đã tới
Sài Gòn để nắm bắt tình hình. Họ phải đi đến quyết định cử các lực lượng đổ bộ Mỹ sang
Việt Nam. Ngay sau khi họ trở về một tháng, Nhà Trắng tuyên bố tăng cường sự can
thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Giữa tháng mười một, Tổng thống Kennedy thực hiện một
đợt tăng cường nhân viên quân sự Mỹ tại Việt Nam, phá vỡ điều khoản đã được đặt ra
trong Hiệp định Geneva năm 1954. Ông ta tăng gấp đôi số cố vấn quân sự trong hai tháng
cuối của năm 1961 và cùng với các đơn vị hỗ trợ cho các lực lượng vũ trang miền Nam
Việt Nam: các đại đội trực thăng các chuyên gia thông tin, vận tải, hậu cần và tình báo.
Tôi thực sự không ngạc nhiên về việc này. Tôi rất vui vì trái ngược với sự dự đoán của
báo chí những tuần trước, tổng thống đã không gửi thêm các đơn vị chiến đấu của Mỹ.
Dù sao, tôi vẫn cho rằng sự can thiệp gia tăng của Mỹ đã đi sai hướng. (Sự có mặt của cố
vấn Mỹ đã tăng tới 12.000 người vào lúc Tổng thống Kennedy chết năm 1963 và một số
hàng viện trợ của Mỹ đang được bí mật chuyển tới nhưng vẫn chưa có các đơn vị bộ
binh).
Đó là những gì tôi lo sợ sẽ xảy ra; và cũng là lý do tại sao tôi có quyết định quan trọng
tách mình ra khỏi tiến trình này. Tôi đã giữ chính kiến của mình trong ba năm tiếp theo.
Chương 1
Vịnh Bắc bộ - Tháng 8-1964
Sáng thứ Tư, ngày 4-8-1964, ngày đầu tiên của tôi với công việc mới ở Lầu Năm Góc,
một người đưa thư tới văn phòng đem theo một bức điện khẩn cho cấp trên của tôi. Ông
ấy đã đi vắng. Các thư ký nói với anh ta là trợ lý Bộ trưởng John McNaughton đã ra ngoài
cùng với Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara. Họ chỉ anh ta tới tôi, người trợ lý
chuyện trách mới. Người đưa thư trao cho tôi bức điện và đi.
Bức điện đến từ Hạm trưởng John J. Herrick, Phó chuẩn đô đốc Đội tàu khu trục ở
Vịnh Bắc Bộ, ngoài khơi miền Bắc Việt Nam tại Biển Đông. Theo bản báo cáo, tàu của ông
ta bị các tàu tuần tra của Bắc Việt tấn công khi đang đi trong vùng hải phận quốc tế, trên
60 dặm ngoài khơi Bắc Việt và đã ra lệnh bắn trả.
Một ngư lôi đã va phải trạm thuỷ âm của tàu chỉ huy Maddox, một ngư lôi khác sượt
qua tàu khu trục Turner Joy.
Ngay khi đưa cho tôi bức điện, người đưa thư quay trở lại trung tâm điện tín ở Viện
An ninh quốc tế Lầu Năm Góc, Văn phòng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Trong 10 phút anh
ta quay lại chỗ tôi với một bức điện khác trong cùng một seri: "Tôi bị ngư lôi tấn công
liên tiếp"[1]
Một vài phút sau, Herrick báo cáo một ngư lôi khác đã bị ông ta bắn trả, hai ngư lôi
khác đã lao xuống nước. Hai tàu khu trục của ông ta bị tấn công và có thể một trong hai
chiếc đã bị hư hại. Hai tàu đang bắn trả bằng hệ thống vũ khí điều khiển bằng radar.
Cuộc đụng độ diễn ra vào một đêm tối, không trăng không sao, trong nhiều giờ tới gần
nửa đêm.
Đây là một sự kiện không bình thường. Chính xác đây là đợt tấn công thứ hai vào tàu
Hải quân của Mỹ kể từ Đại chiến thế giới II. Còn đợt đầu chỉ cách trước đó không đầy 3
ngày, ngày chủ nhật, mồng 2 tháng tám, cũng là tàu Maddox của Herrick đang đi tuần
trên Vịnh Bắc Bộ. Vào giữa trưa, cách bờ biển 28 dặm, 3 thuyền ngư lôi của Bắc Việt đã
tấn công và phóng ngư lôi vào tàu Maddox. Tất cả các quả ngư lôi đều trượt và không làm
thiệt hại tới tàu khu trục, ngoại trừ một viên đạn 14,5 ly trúng vào một ống khói. Các
thuyền của Bắc Việt đã bị hoả lực từ tàu Maddox, từ các máy bay hải quân trên tàu sân
bay gần đó bắn phá huỷ.
Từ đó không có một thương vong hay thiệt hại nào của phía Mỹ, Tổng thống Johnson
quyết định không thực hiện thêm hành động nào, trừ việc đưa thêm tàu khu trục Turner
Joy vào hoạt động. Hai tàu khu trục được lệnh tiếp tục hoạt động như một đội tuần tra để
khẳng định quyền qua lại tự do của Mỹ trong hải phận quốc tế. Tổng thống còn tuyên bố
rằng trong trường hợp bị tấn công thêm, các tàu tấn công sẽ bị không chỉ đánh lui mà là
tiêu diệt. Ông ta đã gửi một kháng nghị tới Hà Nội, cảnh báo "bất cứ một hành động
quân sự nào chống lại các lực lượng của Mỹ mà không phải do khiêu khích đều sẽ mang
lại những hậu quả nghiêm trọng khó tránh nổi"[2]. Tất cả những điều này, trừ những công
bố mới nhất, tôi đều đã đọc trên các tờ báo sáng thứ Hai. Trưa hôm đó, đọc những thống
kê được giải mật của giai đoạn này, tôi đã học thêm được nhiều điều.
Giờ đây, mỗi khi có bức điện mới tới, tôi thường nhìn vào điểm thời gian ở góc trái của
các bức điện. Hai số đầu tiên chỉ ngày trong tháng; 4 số tiếp theo, thời gian quân sự (24
giờ là nửa đêm), thời gian chính xác khi bức điện được chuyển đi. Bức điện đầu tiên được
chuyển từ tàu chỉ huy của Herrick lúc 10h42 sáng, giờ Washington (9h42 ở Vịnh Bắc Bộ).
Tôi đối chiếu thời gian chuyển với đồng hồ trên tường trong văn phòng của tôi ở Lầu
Năm Góc, lúc đó khoảng một tiếng rưỡi sau khi bức điện được chuyển, một khoảng thời
gian quá ngắn để một bức điện có thể tới được chỗ tôi. Sự thật tương tự như thế với bức
điện thứ hai, được gửi lúc 10h52 sáng giờ Washington và tới tay tôi lúc 11h20 , và với các
bức điện khác chỉ mất ít phút. Herrick cho họ quyền cao nhất để chuyện các bức điện
bằng tay, vì thế họ có toàn quyền để chuyển và phân phát các bức điện. Nhưng 20 phút
hay 30 phút đều là một thời gian dài với một hành động như vậy. Toàn bộ việc trao đổi
vào ngày chủ nhật, trên bộ và trên không, đã kéo dài 37 phút. Việc này đã có thể kết thúc
ở đầu bên kia của trái đất, vào đúng lúc tôi đọc bức điện đầu tiên hoặc bức điện cuối
cùng. Một tàu khu trục bị đâm có thể đã chìm trong khi chúng ta đang xem những buổi
diễn tập của nó hoặc sự thành công của nó khi tiêu diệt một kẻ tấn công. Nhưng không
có cách nào cho những người ở Washington biết về điều này khi họ đọc nó.
Tiếp đó, CNN cũng không theo dõi được hoạt động trực tiếp của nửa trái đất bên kia,
thậm chí còn chẳng có liên lạc trực tiếp giữa Washington và các tàu khu trục ở Thái Bình
Dương. Sự liên lạc thường xuyên nhất là đài phát thanh và điện thoại với Đô đốc S.G.
Sharp, Tổng Tư lệnh Thái Bình Dương, tại sở chỉ huy của ông ta ở Hawaii. Các bức điện
của CINCPAC giờ đang chất đống trên mặt bàn của tôi, nhưng chúng không tới thường
xuyên và nhanh chóng như các bức điện từ tàu khu trục. Theo một loạt các điện báo của
Hạm trưởng Herrick, chúng tôi thực sự đã không theo dõi được các hoạt động vào đúng
thời điểm diễn ra.
Các bức điện báo rất gấp gáp. Herrick chắc chắn đã phải nửa chỉ thị nửa ra lệnh vì hai
tàu khu trục đã đột ngột đổi hướng để tránh các quả ngư lôi mà hệ thống định vị âm
thanh dưới nước của tàu Maddox đã phát hiện và trong đêm tối đã bắn vào các mục tiêu
được vạch ra bằng radar của tàu Turner Joy: "Các quả ngư lôi trượt ra ngoài. Một quả
khác đã bắn vào chúng tôi. 4 quả đang dưới nước. 5 quả đang dưới nước… Đã may mắn
tránh được ít nhất 6 quả".[3]
9 quả ngư lôi đã bắn vào hai con tàu của Herrick, 14, 26. Nhiều tàu phóng ngư lôi bị
trúng hoả lực và ít nhất một chiếc bị chìm. Hoạt động này kéo dài từ 40 phút tới một
tiếng đồng hồ. Biển gầm lên dữ dội vì những đợt hoả lực và những chiếc máy bay phóng
rocket vào các vị trí do radar của tàu Turner Joy vạch ra.
Một giờ sau đó, bỗng nhiên mọi hoạt động im bặt. Một bức điện tới thông báo không
phải toàn bộ sự việc nhưng cũng đủ để nêu vấn đề. Sau một giờ tương đối yên tĩnh,
người đưa tin tới với một loạt các bức điện từ CINCPAC, Hạm đội 7 và các bản phân tích
từ Bộ Quốc phòng, Cục tình báo Trung ương (CIA) và các bộ phận khác của Lầu Năm
Góc. Tôi đang ngồi trong phòng, hồi tưởng lại, cố gắng lắp ghép các thông tin theo thứ tự
cho McNaughton, thì người đưa tin ấn vào tay tôi một bức điện khẩn từ Herrick: "Hành
động lặp lại đã tạo ra nhiều cuộc đụng độ như đã báo cáo và các quả ngư lôi được phóng
ra rất đáng nghi ngờ. Thời tiết bất thường ảnh hưởng tới radar và những người điều
khiển hệ thống định vị âm thanh dưới nước quá sốt sắng có thể là lý do giải thích cho
việc có nhiều báo cáo. Không có những hình ảnh thực của tàu Maddox. Hãy cho những
đánh giá cụ thể trước khi diễn ra bất cứ một hành động nào tiếp theo"[4].
Lúc đó là hơn 2h chiều. Bức điện được gửi đi lúc 1h27 chiều, giờ Washington. Nửa giờ
sau một bức điện khác từ Herrick, đánh giá tóm tắt hành động tích cực và tiêu cực đối
với một cuộc tấn công, kết luận: "Toàn bộ hành động đã đem lại nhiều sự nghi ngờ, ngoại trừ
trận phục kích có chủ định ngay từ ban đầu. Hãy cho máy bay trinh sát kỹ vào ban ngày"[5].
Hàng ngày, cứ cách khoảng 3-4 tiếng máy bay lại trinh sát trên vùng vịnh để tìm ra các vết
dầu loang và các mảnh tàu bị vỡ có thể do trúng hoả lực, những dấu hiệu của một cuộc
tấn công chứ không chỉ là một cuộc va chạm với các mục tiêu mà radar đã vạch ra.
Trong đầu tôi, những bức điện này đã xoá đi hình ảnh một vở kịch được truyền "trực
tiếp" trong 2 giờ mà chúng tôi đang dõi theo. Thông tin mới này là một gáo nước lạnh.
Tới khoảng 3h, để đáp lại những yêu cầu gấp gáp cần được chứng thực, Herrick đánh
điện: "Các hoạt động chi tiết thể hiện một bức tranh lộn xộn cho dù chắc chắn trận phục
kích ban đầu là có thật". Nhưng làm sao anh ta có thể chắc chắn về điều đó, hoặc tại sao,
trước đó 1 giờ, khi anh ta dường như đã đủ tự tin, thì không còn ai có những báo cáo tiếp
theo chuyện về cho tới tận giờ?
Herrick tiếp tục khẳng định, lúc 6 giờ Washington (5h sáng giờ vùng vịnh), chiếc
thuyền đầu tiên áp sát tàu Maddox có thể đã bắn một quả ngư lôi vào tàu Maddox (theo
âm thanh nghe thấy chứ không phải nhìn thấy). Tất cả các báo cáo về quả ngư lôi bắn vào
tàu Maddox đều bị nghi ngờ vì người ta đoán rằng do người điều khiển hệ thống định vị
âm thanh dưới nước đã bị nhầm khi nghe thấy tiếng đập chân vịt của tàu. Vì thế sự thừa
nhận của anh ta về những báo cáo đã gửi đi đều không đáng tin cậy. Đống bằng chứng
tới trong vài ngày dường như đã không có cuộc tấn công nào xảy ra vào ngày 4-8; Năm
1967, các tài liệu dường như đều khẳng định không có cuộc tấn công thứ hai, và năm
1971 tôi buộc phải tin vào sự ngờ vực này. Năm 1966, một bằng chứng đáng tin cậy của
các sĩ quan Bắc Việt bị bắt từng tham gia vào cuộc tấn công ngày 2 tháng tám đã bác bỏ
bất cứ cuộc tấn công nào vào ngày 4-8. Cuối năm 1970, nhà báo Anthony Austin phát
hiện và đưa cho tôi bằng chứng khẳng định, cuộc tấn công ngày 4-8 có lẽ có liên quan tới
cuộc tấn công ngày 2 tháng tám. Năm 1981, với những bằng chứng mới trong cuốn nhật
ký của mình, nhà báo Robert Scheer đã khẳng định với Herrick rằng báo cáo về quả ngư
lôi đầu tiên không được tìm thấy. Dẫu sao, ngày 4-8, từ những báo cáo được bảo đảm
chuyện tới cho Herrick, tôi kết luận rằng có thể đã có một cuộc tấn công dưới dạng nào
đó. Đúng lúc đó, rõ ràng đã có một cơ hội tốt mà lại không xảy ra. Chính thế mà lời đề
nghị tạm ngừng để điều tra trước khi thực hiện hành động của Herrick dường như rất rõ
ràng, ông ta nói ngắn gọn: "Quay tàu lại, chấm dứt ẩu đả!". Nhưng đó không phải là
những gì được chuyển tải về Washington trưa ngày thứ tư hôm đó.
Các bức điện mới của Herrick đã không làm chậm tiến trình chuẩn bị cho một cuộc
không kích trả đũa nhanh chóng ở Washington và ở Thái Bình Dương, cụ thể hơn là Vịnh
Bắc Bộ.
Những gì họ đã làm để khuyến khích cho công việc này là một loạt các cuộc điều tra
gây xôn xao để tìm bằng chứng, nhân chứng ủng hộ cho những hành động ban đầu của
cuộc tấn công hay ít ra để khẳng định một thực tế là đã có một cuộc diễn ra.
Vì những việc này đã tới Washington nên Tổng thống đã triệu tập một cuộc họp với
Hội đồng An ninh quốc gia (NSC) cơ bản là để thông báo những hành động đã dự tính.
Tiếp đó, ông thông báo với các nhà lãnh đạo quốc hội. Các tàu sân bay đã vào vị trí để
thực hiện các chuyến bay càng sớm càng tốt vào sáng hôm đó. Giờ Washington có thể vào
khoảng từ 6h tối đến gần nửa đêm. Còn Tổng thống thì quyết định nói với công chúng
Mỹ về các cuộc tấn công của Mỹ ít nhiều như chúng đang diễn ra.
Ông ta không muốn họ biết về những cuộc không kích trên các bản tin buổi sáng của
ngày hôm sau, mà phải san nhiều giờ khi chúng diễn ra ở phía bên kia của thế giới vào
khoảng thời gian sớm hơn.
Hải quân thấy quan ngại, vì không có cảnh báo của Tổng thống với các tay súng phòng
không của Việt Nam rằng một cuộc tấn công sẽ xảy ra, trước khi các máy bay rơi vào tần
số quét radar của Bắc Việt. Tổng thống nhất quyết không làm như thế. Ông ta yêu cầu giờ
bay lúc 7h tối, sau đổi sang 8h rồi đến 9h vì tàu sân bay Constellation vẫn chưa tới được
vị trí và chưa thông báo hết cho các phi công. Tổng thống quyết định diễn thuyết trước
11h30 tối. Từ McNamara tới CINCPAC, (đô đốc Sharp ở Hawaii đều đang chú ý xem, liệu
Tổng thống có thể phát biểu trước khi các máy bay tập trung ném bom các mục tiêu,
hoặc kh...
Tác giả: Daniel Ellsberg
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Lời Giới Thiệu
Năm 1971, Daniel Ellsberg, sĩ quan Lầu Năm Góc từng tham chiến ở Việt Nam, đã
cho công bố 7.000 trang tài liệu tối mật cho báo chí, tạo nên một làn sóng phản đối chiến
tranh Việt Nam mạnh mẽ chưa từng có tại Mỹ. Nhận bằng tiến sĩ Kinh tế Đại học
Harvard năm 1962, nhưng số phận lại đưa ông đến làm việc ở Bộ Quốc phòng và sau đó
ông được phái sang chiến trường Việt Nam.
Sau hơn 3 năm ở Việt Nam, làm việc cho cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
và Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, năm 1967, Daniel trở về Mỹ, ông được phân vào nhóm nghiên
cứu tối mật về hoạch định chính sách đối với Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng
McNamara. Tại đây, ông đã được trực tiếp tiếp xúc với các tài liệu mật của Nhà Trắng và
biết rõ kế hoạch muốn leo thang chiến tranh Việt Nam của Tổng thống, mặc dù bề ngoài
Nixon và bộ sậu của ông ta ra sức nói dối để bao che cho hành động leo thang và kéo dài
cuộc chiến của mình.
Là một người yêu chuộng hoà bình và đã từng có thời gian tham chiến tại Việt Nam,
hiểu rõ bản chất phi nghĩa của cuộc chiến, Dan đã đánh cược cả cuộc đời mình, sao chụp
7.000 trang tài liệu của Hồ sơ Lầu Năm Góc. Ông bắt đầu công việc này từ năm 1969 và
đến năm 1971, ông đã đi đến quyết định làm chấn động nước Mỹ, công bố toàn bộ tài liệu
trên tờ Thời báo New York. Dan đã từng nói: Lẽ ra, nếu tôi có thể đưa các tài liệu đó ra từ
khi tôi mới vào làm việc tại Lầu Năm Góc và Nhà Trắng, vào năm 1964-1965, thì có thể
những tài liệu đó đã góp phần ngăn chặn cuộc chiến".
Những bí mật về chiến tranh Việt Nam - Hồi ức về Việt Nam và Hồ sơ Lầu Năm Góc
(Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon papers) là cuốn hồi ký của Daniel, xuất
bản năm 2002, đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất, gây xôn xao nước Mỹ. Cuốn sách kể
lại cuộc hành trình đi tìm sự thật của Dan và phanh phui những âm mưu dối trá của
Tổng thống Nixon và Lầu Năm Góc về cuộc chiến tranh Việt Nam, bắt đầu từ Sự kiện
Vịnh Bắc Bộ, (tháng tám năm 1964).
Tháng Ba năm 2006, Daniel trở lại thăm Việt Nam, và được trao Kỷ niệm chương "Vì
hoà bình hữu nghị giữa các dân tộc", tôn vinh những cống hiến không mệt mỏi của ông
đã góp phần thức tỉnh dư luận về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.
Ông đã cho phép Nhà xuất bản Công an nhân dân dịch và xuất bản cuốn hồi ký của
mình.
Sau một thời gian làm việc, cuốn sách đã đến tay bạn đọc.
Hy vọng cuốn sách sẽ giúp bạn đọc có một góc nhìn đa diện hơn về cuộc chiến và qua
đó thấy rõ tâm lòng của một người ở phía bên kia chiến tuyến đối với đất nước nhỏ bé
này.
Nhà xuất bản Công an nhân dân xin trân trọng giới thiệu.
NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN
Lời Nói Đầu
Tối ngày 1 tháng mười năm 1969, tôi rảo bước nhanh qua phòng bảo vệ của Công ty
Rand[I] ở Santa Monica, tay xách một vali chứa đầy tài liệu tối mật mà tôi dự tính sẽ sao
chụp trong đêm hôm đó. Số tài liệu này là một phần trong công trình nghiên cứu tối mật
gồm 7.000 trang liên quan tới các quyết định của Mỹ ở Việt Nam, sau này được biết đến
dưới tên gọi quen thuộc là Hồ sơ Lầu Năm Góc. Phần còn lại nằm trong két đựng tài liệu
ở văn phòng của tôi.
Tôi quyết định sao chụp toàn bộ và đưa ra công chúng bộ hồ sơ này, hoặc là thông qua
các cuộc điều trần tại Thượng viện hoặc là qua báo chí nếu tôi thấy điều đó là cần thiết.
Tôi tin rằng tôi có thể sẽ phải ngồi tù suốt đời vì việc làm này. Cuốn hồi ký này sẽ tập
trung mô tả quá trình hành động công bố tài liệu của tôi.
Trong 11 năm, từ giữa năm 1969 đến khi kết thúc cuộc chiến tranh vào tháng Năm
năm 1975, tôi cũng như rất nhiều người Mỹ khác đặc biệt quan tâm tới sự can thiệp của
Mỹ vào Việt Nam. Vào thời gian đó, thoạt tiên tôi nghĩ đó chỉ là một vấn đề, tiếp đến là
một sự bế tắc, nhưng rồi sau đó là một thảm hoạ về đạo đức và chính trị và cuối cùng trở
thành một tội ác. Ba phần đầu của cuốn sách tương ứng với ba giai đoạn phát triển về
nhận thức của tôi.
Những sai phạm và hành động sau đó của tôi đã phản ánh quá trình thay đổi nhận
thức đó. Khi nhận thức cuộc xung đột chỉ là một vấn đề tôi đã cố gắng góp sức để giải
quyết nó, khi nhận ra sự bế tắc, chúng ta (Nước Mỹ - ND) đã cố gắng tư giải thoát mà
không gây phương hại tới lợi ích của quốc gia khác, và tôi đã nỗ vạch trần và chống lại
cuộc chiến khi ý thức mách bảo nó đã trở thành một tội ác với hy vọng chấm dứt nó càng
sớm càng tốt. Qua quá trình nhận thức trên, tôi đã vận dụng nhiều cách khác nhau nhằm
tránh khả năng chiến tranh leo thang lên cao hơn. Nhưng gần đến giữa năm 1973, khi tôi
phải ra trước Toà án liên bang vì nhũng hành động của tôi vào cuối năm 1969, tôi đã nói
không ai, kể cả tôi, thành công trong mục đích và cố gắng của mình. Những nỗ lực nhằm
chấm dứt cuộc xung đột - cho dù nó được nhìn nhận như là một cuộc kiểm nghiệm bị
thất bại, một vũng lầy hay một sai phạm về mặt đạo lý - dường như cũng chẳng thấm vào
đâu so với những cố gắng để chiến thắng trong cuộc xung đột đó. Vì sao?
Như sau này tôi nhận thấy, chỉ cần chống thôi chưa đủ, chúng ta còn cần phải hiểu về
chiến tranh. Ba mươi năm sau tôi vẫn tin điều đó là sự thật. Cuốn sách này thể hiện nỗ
lực cho đến tận ngày hôm nay của tôi - những nỗ lực còn xa mới hoàn tất - trong việc giúp
các bạn hiểu về cuộc chiến tranh của đất nước chúng ta ở Việt Nam, và bản thân tôi là
một phần của cuộc chiến đó và tại sao cuộc chiến tranh đó cũng như những nỗ lực của tôi
lại kéo dài đến như vậy.
Trong thời gian ba năm bắt đầu từ giữa năm 1964 - với ngạch bậc dân sự cao nhất, tôi
đã giúp chính quyền theo đuổi một cuộc chiến tranh mà tôi tin ngay từ khi bắt đầu là nó
sẽ bị thất bại. Làm việc tại Washington bên cạnh những nhà hoạch định chính sách tối
cao trong những năm 1964-1965, tôi đã chứng kiến họ bí mật đẩy đất nước này vào một
cuộc chiến tranh qui mô lớn mà không hề có lấy một khả năng thành công. Sự bi quan
của tôi trong những năm đó không thay đổi, và trong vòng khoảng một năm - từ mùa
Xuân năm 1965 tới mùa Xuân năm 1966 - tôi đã kỳ vọng và làm hết sức để trông chờ một
sự thắng lợi nào đó. Sự kỳ vọng đó đặt vào vị tổng thống, người mà bất chấp nhiều mối
nghi ngại, vẫn đẩy chúng ta lún sâu vào vũng lầy của cuộc chiến. Khi nước Mỹ đã dính líu
toàn diện vào cuộc chiến tranh, vào giữa năm 1965 tôi tình nguyện tới phục vụ ở Việt
Nam như một nhân viên của Bộ Ngoại giao. Công việc của tôi là đánh giá tình hình "bình
định" ở vùng nông thôn. Thời gian này, tôi đã sử dụng vốn kiến thức của một sĩ quan chỉ
huy pháo binh của lực lượng lính thuỷ đánh bộ, để quan sát cuộc chiến tranh một cách
toàn diện. Trước đây câu hỏi liệu chúng ta có một quyền gì đó, bất kể quyền gì cao hơn
người Pháp tới chúng ta, để theo đuổi cuộc chiến bằng lửa đạn và sắt thép ở Đông
Dương, những mục tiêu mà các nhà lãnh đạo của chúng ta đã lựa chọn, chưa bao giờ
khiến tôi phải bận tâm. Trong hai năm ở Việt Nam, ấn tượng về những người dân và
hoàn cảnh của họ đã trở nên chân thực với tôi hơn, chân thực như những binh lính Mỹ
mà tôi cùng hành quân, như chính đôi bàn tay của tôi, mà trong một khía cạnh nào đó, đã
khiến việc tiếp tục theo đuổi cuộc chiến vô vọng đó trở nên không thể tha thứ được.
Bị loại khỏi chiến trường vì bệnh viêm gan và quay trở lại Mỹ từ giữa năm 1967 tôi bắt
đầu làm tất cả những gì có thể để giúp đất nước tôi thoát khỏi cuộc chiến tranh. Trong
hai năm tôi làm việc này với danh nghĩa là người trong cuộc phỏng vấn trực tiếp các quan
chức cao cấp, cố vấn cho các ứng cử viên tổng thống và cuối cùng, vào đầu năm 1969, làm
trợ lý Cố vấn An ninh quốc gia của Tổng thống. Nhưng cùng trong năm đó, tôi nhận ra
mình đã phá vỡ kế hoạch đề ra ban đầu nên quyết định chấm dứt sự nghiệp công bộc cho
chính phủ.
Một trong những việc làm trên đe doạ xâm hại quyền tụ do của tôi. Năm 1969 và 1970,
với sự giúp đỡ của người bạn tên là Anthony Russo - một cựu thành viên của Công ty
Rand, tôi bí mật sao chụp toàn bộ 47 tập Hồ sơ Lầu Năm Góc, một văn kiện nghiên cứu
tối mật về các quyết định của Mỹ ở Việt Nam từ 1945 đến 1968, làm sở hữu riêng của
mình và trao chúng cho Thượng nghị sỹ William Fulbright, Chủ tịch Uỷ ban đối ngoại
Thượng viện. Năm 1971, tôi cũng đã trao những bản sao cho tờ Thời báo New York và tờ
Bưu điện Washington và cuối cùng, bất chấp tới bốn lệnh cấm của liên bang, một điều
chưa có tiền lệ, cho 17 tờ báo khác mà sau đó đã đem công bô nội dung tài liệu của tôi.
Tôi đã không sai khi nhận định về những mối nguy hiểm đối với cá nhân tôi. Ngay sau
đó, tôi bị buộc phải ra trước toà án liên bang, tiếp theo là Russo. Tổng cộng, tôi bị quy tới
12 tội và có thể phải chịu tới 115 năm tù với một vài lần hầu toà nữa. Nhưng tôi cũng
không sai khi hy vọng rằng vạch trần những bí mật và những điều dối trá của 5 vị tổng
thống có thể làm lợi cho nền dân chủ của chúng ta và đó là cái giá xứng đáng cho sự mạo
hiểm của mình. Sự thật được tiết lộ sẽ là động lực để thúc đẩy việc đưa ra công luận hàng
loạt vấn đề, bao gồm cả những việc làm xấu xa của Nhà Trắng hòng làm mất uy tín của tôi
cũng như bắt tôi phải im miệng. Đương nhiên là nếu tôi khuất phục thì họ sẽ bãi bỏ
những cáo buộc chống lại tôi và bạn bè của tôi. Nhưng điều quan trọng hơn nhiều là
chính những tội ác của Phòng Bầu Dục đã góp phần lật đổ Tổng thống, một bước hết sức
cần thiết trước khi đi đến kết thúc chiến tranh.
Đây là câu chuyện về sự thay đổi lớn nhất trong đời tôi, nó bắt đầu kể từ khi tôi từ Việt
Nam trở về. Sự tan vỡ của nhũng niềm hy vọng mỏng manh mà tôi có. Ở Việt Nam, sự
hoài nghi về cuộc chiến tranh đã theo tôi về Mỹ từ giữa năm 1967 không còn xa lạ gì với
tôi nữa. Trái lại, nó khiến tôi bi quan trở lại như trong chuyện đi đầu tiên tới Việt Nam
năm 1961 và nó lại được nhân lên trong năm đầu tiên tôi làm cho Lầu Năm Góc từ giữa
năm 1964. Năm 1967, tâm lý hoài nghi này lan rộng trong chính phủ. Dư luận bên ngoài
thậm chí có lẽ còn hoài nghi hơn nữa. Đây chính là thời điểm mà mong muốn chứng kiến
cuộc chiến tranh kết thúc của tôi cũng không khác với hầu hết các đồng nghiệp trong
chính phủ hoặc trong các cơ sở nghiên cứu do chính phủ tài trơ, dù họ đã hoặc chưa tùng
phục vụ ở Việt Nam. Cả một thế hệ sinh ra trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam cũng đều
trở nên vỡ mộng như tôi về một cuộc chiến tranh mà họ thấy ở đó sự vô vọng và vô tận.
Tôi cũng từng có chung quan niệm như họ về những giá trị và đặc tính của nước Mỹ,
tham gia tích cực vào Chiến tranh lạnh, vào việc chống chủ nghĩa cộng sản, vào việc giữ
bí mật, và vào việc ủng hộ chiếc ghế tổng thống. Đến năm 1968, nếu không nói là sớm
hơn, tất cả họ, cũng như tôi đều muốn thấy nước Mỹ cần phải thoát ra khỏi cuộc chiến
tranh này. Mong muốn này thúc đẩy tôi tìm hiểu câu hỏi. Tại sao chiến tranh lại có thể xảy
ra trong những hoàn cảnh như vậy, nhất là sau sự ám ảnh ghê gớm của cuộc Tổng tiến
công Tết Mậu Thân hồi đầu năm 1968 mà cuộc chiến vẫn có thể kéo dài tới bảy năm nữa?
Nội dung chính của cuốn hồi ký này kể một câu chuyện với phần mở đầu là sự chỉ
trích của những nhân vật trong chính phủ về chính chính sách của chúng ta, đến chỗ cuối
cùng tôi đã vượt lên trên cả những nỗ lực chấm dứt chiến tranh từ vị trí trong ngành
hành pháp, sẵn sàng từ bỏ những đặc quyền và mối quan hệ chính trị, cơ hội phục vụ các
tổng thống tương lai, toàn bộ sự nghiệp của tôi để thay bằng việc chấp nhận viễn cảnh
của một cuộc sống ở chốn lao tù. Cuốn sách tập trung vào những điều mà kinh nghiệm
cuộc sống đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện công việc của mình suốt từ năm 1969 đến
năm 1972, nhũng điều tôi đang mong muốn tôi (hoặc nhũng người khác) đã làm trong
năm 1964 hoặc 1965 đó là: đưa những tài liệu này ra Quốc hội và báo chí để nói ra sự thật.
Thật dễ để nói rằng ý tưởng phanh phui sự thật đơn giản đã không đến với tôi và cũng
như bất kỳ ai vào thời điểm đó. Vấn đề còn lại là tại sao điều đó lại không xảy ra? Cũng
giống như nhiều người, tôi hoàn toàn tin tưởng vào vị tổng thống của mình (và đối với
nghề nghiệp của tôi, những dữ liệu thông tin nội bộ và ảnh hưởng của nó, dù sao chăng
nữa, tôi cũng đã lý tưởng hoá mục đích của mình) trên tất cả mọi thứ khác, trên lòng
trung thành với Hiến pháp, trách nhiệm với sự thật, với những người bạn Mỹ và với
những cuộc sống của những người khác. Đây là một câu chuyện đối diện với sự thật, mà
vì nó, tôi luôn biết ơn, của những thanh niên Mỹ đã lựa chọn thà vào tù còn hơn là tham
gia vào một cuộc chiến mà họ biết là sai lầm, đã thức tỉnh tôi trước những sự trung thành
cao cả này.
Tôi hy vọng, thông qua cuốn hồi ký, đưa ra những bài học cho các quan chức tương lai
trong những hoàn cảnh tương tự và cho tất cả mọi người dân, những người sẽ theo dõi
trách nhiệm của chính phủ trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Tôi sẽ nêu một bài học thú
vị hơn (như mô tả trong Phần IV)l vào thời điểm chuẩn bị kết thúc phiên toà và sau đó, là
việc nói ra sự thật, vạch trần những bí mật sai trái được che đậy, có thể đem lại một sức
mạnh bất ngờ chưa từng thấy, nó giúp chấm dứt một sai lầm và cứu được những mạng
sống.
Chú thích:
[I] Rand là công ty nghiên cứu chiến lược thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ, viết tắt của cụm từ
tiếng Anh "Research and Development", nghĩa là "Nghiên cứu và Phát triển" - ND
Giai đoạn mở đầu
Việt Nam 1961:
Mùa thu năm 1961, không phải mất nhiều thời gian để khám phá ra rằng chúng ta
hầu như không thể giành được thắng lợi ở Việt Nam. Tôi chỉ mất gần một tuần trong
chuyện thăm đầu tiên để hiểu ra điều đó. Với việc tiếp cận đúng nguồn thông tin, nói
chuyện với đúng đối tượng dân chúng, bạn có thể nhanh chóng có được một cái nhìn xác
thực. Bạn không phải nói tiếng Việt Nam, cũng không cần phải biết lịch sử, triết học hay
văn hoá châu Á mới có thể biết được rằng mọi việc chúng ta đang cố gắng làm đều chẳng
đem lại kết quả tốt đẹp gì hơn. Tôi đã đọc đâu đó rằng bạn không cần phải là một nhà
ngư học mới biết được khi nào thì một con cá bị chết thối.
Tôi là thành viên cấp cao của một lực lượng đặc nhiệm thuộc Lầu Năm Góc, tới thăm
Đoàn Cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) ở Việt Nam với một giấy phép có thể "đi bất
cứ đâu, xem bất cứ cái gì". Trưởng đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ, tướng Lionel McGan,
đã yêu cầu các thành viên tham mưu của ông ta giúp chúng tôi bằng mọi cách để chúng
tôi có thể nói một cách thẳng thắn. Đặc biệt, có một viên đại tá, người mà tôi đã nói
chuyện vào thời gian gần cuối nhiệm kỳ của ông ta ở Việt Nam, đã có ý định chuyển giao
lại những gì ông ta thu thập được ở đất nước này cho một người nào đó mà người đó có
thể nói được với công chúng ở Washington. Ông đã cho tôi xem các hồ sơ của Đoàn cố
vấn viện trợ quân sự Mỹ và kéo ra hàng đống những cặp tài liệu, và tôi đã thức trắng mấy
đêm để đọc, phân loại các kế hoạch, báo cáo và các bản phân tích những chương trình
của chúng ta và triển vọng của nó ở Việt Nam.
Mùi mốc của tài liệu rách nát hiện hữu ở mọi chỗ, và ông bạn đại tá của tôi cũng chẳng
có một cố gắng nào để làm thay đổi tình trạng này.
Ông ta nói với tôi rằng dưới sự trị vì của Tổng thống Ngô Đình Diệm, một nhà lãnh
đạo độc tài mà chúng ta đã lựa chọn cho miền Nam Việt Nam trước bảy năm, thì cuối
cùng trong vòng một hoặc hai năm, Cộng sản gần như chắc chắn sẽ lên nắm quyền.
Nếu Diệm, người đã rất thành công trong năm trước đó bị phế truất trong một cuộc
đảo chính, thì Cộng sản thậm chí còn giành thắng lợi nhanh hơn.
Hầu hết các sĩ quan của Đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ đều đồng ý với ông ta và với
nhiều quan chức người Việt Nam rằng điều duy nhất có thể làm thay đổi triển vọng này
trong thời gian ngắn là các lực lượng chiến đấu người Mỹ với qui mô lớn. (Hiệp định
Geneva năm 1954 chỉ cho phép 350 cố vấn quân sự của Mỹ có mặt tại Việt Nam, cho dù
bằng nhiều mưu mẹo khác nhau Mỹ đã cho tới hơn 700 cố vấn). Vị đại tá này còn tin rằng
kể cả các sự đoàn của Mỹ vào cũng sẽ chỉ làm chậm lại hậu quả tương tự. Cộng sản sẽ
nắm quyền ngay sau khi lực lượng của chúng ta rút ra bất kể khi nào.
Đây không phải là tin tốt lành với tôi. Tôi là một chiến binh mùa đông tận tâm và thực
tế là một chiến binh nhà nghề. Tôi đã là thành viên chống Xô viết từ cuộc đảo chính của
người Séc và trận phong toả Berlin năm 1948, khi tôi đang học năm cuối của trường trung
học và cuộc chiến tranh Triều Tiên khi tôi là sinh viên trường Harvard vài năm sau đó.
Trong thời gian phục vụ quân ngũ, tôi đã chọn Quân đoàn Lính thuỷ đánh bộ và có 3 năm
làm sĩ quan bộ binh. Từ vai trò người lính thuỷ đánh bộ, tôi quay trở về Harvard để thi
tốt nghiệp, sau đó vào Công ty Rand, một tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận với vấn đề
trọng tâm là các khía cạnh quân sự của cuộc Chiến tranh lạnh. Công việc của tôi tới năm
1961 chủ yếu là ngăn cản một cuộc tấn công hạt nhân bất ngờ từ Liên bang Xô viết. Tôi
không thích gì hơn khi được biết miền Nam Việt Nam, nơi mà Xô viết ủng hộ phe Cộng
sản, sẽ bị đánh bại với sự trợ giúp của chúng tôi. Nhưng những cuộc tranh luận với viên
đại tá đã làm tôi tin rằng miền Nam Việt Nam không phải là nơi đó.
Khi tôi trở lại Công ty Rand một tháng sau, thông điệp của tôi tới các cấp trên là, tốt
nhất nên tránh xa Việt Nam, tránh xa các nghiên cứu chống bạo loạn, ít ra là về Việt Nam.
Tôi nói, chúng ta đang bị lúng túng ở đó và tình hình sẽ không khá khấm hơn, người ta
sẽ cản trở và bôi nhọ mọi thứ liên quan tới Việt Nam vì đó sẽ là một thất bại. Họ sẽ phải
hứng chịu một số phận như những người dính líu vào vụ Vịnh Con Lợn, trước đó chỉ vài
tháng. Bản thân tôi cũng quyết định không làm gì liên quan tới Việt Nam.
Một thời gian ngắn sau đó, Chính quyền Kennedy đã thể hiện một thái độ hoàn toàn
khác. Vài tuần sau khi tôi từ Việt Nam trở về, một đoàn cố vấn của Nhà Trắng dưới sự chỉ
huy của hai cố vấn cao cấp của Tổng thống là tướng Maxwell Taylor và W. Rostow đã tới
Sài Gòn để nắm bắt tình hình. Họ phải đi đến quyết định cử các lực lượng đổ bộ Mỹ sang
Việt Nam. Ngay sau khi họ trở về một tháng, Nhà Trắng tuyên bố tăng cường sự can
thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Giữa tháng mười một, Tổng thống Kennedy thực hiện một
đợt tăng cường nhân viên quân sự Mỹ tại Việt Nam, phá vỡ điều khoản đã được đặt ra
trong Hiệp định Geneva năm 1954. Ông ta tăng gấp đôi số cố vấn quân sự trong hai tháng
cuối của năm 1961 và cùng với các đơn vị hỗ trợ cho các lực lượng vũ trang miền Nam
Việt Nam: các đại đội trực thăng các chuyên gia thông tin, vận tải, hậu cần và tình báo.
Tôi thực sự không ngạc nhiên về việc này. Tôi rất vui vì trái ngược với sự dự đoán của
báo chí những tuần trước, tổng thống đã không gửi thêm các đơn vị chiến đấu của Mỹ.
Dù sao, tôi vẫn cho rằng sự can thiệp gia tăng của Mỹ đã đi sai hướng. (Sự có mặt của cố
vấn Mỹ đã tăng tới 12.000 người vào lúc Tổng thống Kennedy chết năm 1963 và một số
hàng viện trợ của Mỹ đang được bí mật chuyển tới nhưng vẫn chưa có các đơn vị bộ
binh).
Đó là những gì tôi lo sợ sẽ xảy ra; và cũng là lý do tại sao tôi có quyết định quan trọng
tách mình ra khỏi tiến trình này. Tôi đã giữ chính kiến của mình trong ba năm tiếp theo.
Chương 1
Vịnh Bắc bộ - Tháng 8-1964
Sáng thứ Tư, ngày 4-8-1964, ngày đầu tiên của tôi với công việc mới ở Lầu Năm Góc,
một người đưa thư tới văn phòng đem theo một bức điện khẩn cho cấp trên của tôi. Ông
ấy đã đi vắng. Các thư ký nói với anh ta là trợ lý Bộ trưởng John McNaughton đã ra ngoài
cùng với Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara. Họ chỉ anh ta tới tôi, người trợ lý
chuyện trách mới. Người đưa thư trao cho tôi bức điện và đi.
Bức điện đến từ Hạm trưởng John J. Herrick, Phó chuẩn đô đốc Đội tàu khu trục ở
Vịnh Bắc Bộ, ngoài khơi miền Bắc Việt Nam tại Biển Đông. Theo bản báo cáo, tàu của ông
ta bị các tàu tuần tra của Bắc Việt tấn công khi đang đi trong vùng hải phận quốc tế, trên
60 dặm ngoài khơi Bắc Việt và đã ra lệnh bắn trả.
Một ngư lôi đã va phải trạm thuỷ âm của tàu chỉ huy Maddox, một ngư lôi khác sượt
qua tàu khu trục Turner Joy.
Ngay khi đưa cho tôi bức điện, người đưa thư quay trở lại trung tâm điện tín ở Viện
An ninh quốc tế Lầu Năm Góc, Văn phòng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Trong 10 phút anh
ta quay lại chỗ tôi với một bức điện khác trong cùng một seri: "Tôi bị ngư lôi tấn công
liên tiếp"[1]
Một vài phút sau, Herrick báo cáo một ngư lôi khác đã bị ông ta bắn trả, hai ngư lôi
khác đã lao xuống nước. Hai tàu khu trục của ông ta bị tấn công và có thể một trong hai
chiếc đã bị hư hại. Hai tàu đang bắn trả bằng hệ thống vũ khí điều khiển bằng radar.
Cuộc đụng độ diễn ra vào một đêm tối, không trăng không sao, trong nhiều giờ tới gần
nửa đêm.
Đây là một sự kiện không bình thường. Chính xác đây là đợt tấn công thứ hai vào tàu
Hải quân của Mỹ kể từ Đại chiến thế giới II. Còn đợt đầu chỉ cách trước đó không đầy 3
ngày, ngày chủ nhật, mồng 2 tháng tám, cũng là tàu Maddox của Herrick đang đi tuần
trên Vịnh Bắc Bộ. Vào giữa trưa, cách bờ biển 28 dặm, 3 thuyền ngư lôi của Bắc Việt đã
tấn công và phóng ngư lôi vào tàu Maddox. Tất cả các quả ngư lôi đều trượt và không làm
thiệt hại tới tàu khu trục, ngoại trừ một viên đạn 14,5 ly trúng vào một ống khói. Các
thuyền của Bắc Việt đã bị hoả lực từ tàu Maddox, từ các máy bay hải quân trên tàu sân
bay gần đó bắn phá huỷ.
Từ đó không có một thương vong hay thiệt hại nào của phía Mỹ, Tổng thống Johnson
quyết định không thực hiện thêm hành động nào, trừ việc đưa thêm tàu khu trục Turner
Joy vào hoạt động. Hai tàu khu trục được lệnh tiếp tục hoạt động như một đội tuần tra để
khẳng định quyền qua lại tự do của Mỹ trong hải phận quốc tế. Tổng thống còn tuyên bố
rằng trong trường hợp bị tấn công thêm, các tàu tấn công sẽ bị không chỉ đánh lui mà là
tiêu diệt. Ông ta đã gửi một kháng nghị tới Hà Nội, cảnh báo "bất cứ một hành động
quân sự nào chống lại các lực lượng của Mỹ mà không phải do khiêu khích đều sẽ mang
lại những hậu quả nghiêm trọng khó tránh nổi"[2]. Tất cả những điều này, trừ những công
bố mới nhất, tôi đều đã đọc trên các tờ báo sáng thứ Hai. Trưa hôm đó, đọc những thống
kê được giải mật của giai đoạn này, tôi đã học thêm được nhiều điều.
Giờ đây, mỗi khi có bức điện mới tới, tôi thường nhìn vào điểm thời gian ở góc trái của
các bức điện. Hai số đầu tiên chỉ ngày trong tháng; 4 số tiếp theo, thời gian quân sự (24
giờ là nửa đêm), thời gian chính xác khi bức điện được chuyển đi. Bức điện đầu tiên được
chuyển từ tàu chỉ huy của Herrick lúc 10h42 sáng, giờ Washington (9h42 ở Vịnh Bắc Bộ).
Tôi đối chiếu thời gian chuyển với đồng hồ trên tường trong văn phòng của tôi ở Lầu
Năm Góc, lúc đó khoảng một tiếng rưỡi sau khi bức điện được chuyển, một khoảng thời
gian quá ngắn để một bức điện có thể tới được chỗ tôi. Sự thật tương tự như thế với bức
điện thứ hai, được gửi lúc 10h52 sáng giờ Washington và tới tay tôi lúc 11h20 , và với các
bức điện khác chỉ mất ít phút. Herrick cho họ quyền cao nhất để chuyện các bức điện
bằng tay, vì thế họ có toàn quyền để chuyển và phân phát các bức điện. Nhưng 20 phút
hay 30 phút đều là một thời gian dài với một hành động như vậy. Toàn bộ việc trao đổi
vào ngày chủ nhật, trên bộ và trên không, đã kéo dài 37 phút. Việc này đã có thể kết thúc
ở đầu bên kia của trái đất, vào đúng lúc tôi đọc bức điện đầu tiên hoặc bức điện cuối
cùng. Một tàu khu trục bị đâm có thể đã chìm trong khi chúng ta đang xem những buổi
diễn tập của nó hoặc sự thành công của nó khi tiêu diệt một kẻ tấn công. Nhưng không
có cách nào cho những người ở Washington biết về điều này khi họ đọc nó.
Tiếp đó, CNN cũng không theo dõi được hoạt động trực tiếp của nửa trái đất bên kia,
thậm chí còn chẳng có liên lạc trực tiếp giữa Washington và các tàu khu trục ở Thái Bình
Dương. Sự liên lạc thường xuyên nhất là đài phát thanh và điện thoại với Đô đốc S.G.
Sharp, Tổng Tư lệnh Thái Bình Dương, tại sở chỉ huy của ông ta ở Hawaii. Các bức điện
của CINCPAC giờ đang chất đống trên mặt bàn của tôi, nhưng chúng không tới thường
xuyên và nhanh chóng như các bức điện từ tàu khu trục. Theo một loạt các điện báo của
Hạm trưởng Herrick, chúng tôi thực sự đã không theo dõi được các hoạt động vào đúng
thời điểm diễn ra.
Các bức điện báo rất gấp gáp. Herrick chắc chắn đã phải nửa chỉ thị nửa ra lệnh vì hai
tàu khu trục đã đột ngột đổi hướng để tránh các quả ngư lôi mà hệ thống định vị âm
thanh dưới nước của tàu Maddox đã phát hiện và trong đêm tối đã bắn vào các mục tiêu
được vạch ra bằng radar của tàu Turner Joy: "Các quả ngư lôi trượt ra ngoài. Một quả
khác đã bắn vào chúng tôi. 4 quả đang dưới nước. 5 quả đang dưới nước… Đã may mắn
tránh được ít nhất 6 quả".[3]
9 quả ngư lôi đã bắn vào hai con tàu của Herrick, 14, 26. Nhiều tàu phóng ngư lôi bị
trúng hoả lực và ít nhất một chiếc bị chìm. Hoạt động này kéo dài từ 40 phút tới một
tiếng đồng hồ. Biển gầm lên dữ dội vì những đợt hoả lực và những chiếc máy bay phóng
rocket vào các vị trí do radar của tàu Turner Joy vạch ra.
Một giờ sau đó, bỗng nhiên mọi hoạt động im bặt. Một bức điện tới thông báo không
phải toàn bộ sự việc nhưng cũng đủ để nêu vấn đề. Sau một giờ tương đối yên tĩnh,
người đưa tin tới với một loạt các bức điện từ CINCPAC, Hạm đội 7 và các bản phân tích
từ Bộ Quốc phòng, Cục tình báo Trung ương (CIA) và các bộ phận khác của Lầu Năm
Góc. Tôi đang ngồi trong phòng, hồi tưởng lại, cố gắng lắp ghép các thông tin theo thứ tự
cho McNaughton, thì người đưa tin ấn vào tay tôi một bức điện khẩn từ Herrick: "Hành
động lặp lại đã tạo ra nhiều cuộc đụng độ như đã báo cáo và các quả ngư lôi được phóng
ra rất đáng nghi ngờ. Thời tiết bất thường ảnh hưởng tới radar và những người điều
khiển hệ thống định vị âm thanh dưới nước quá sốt sắng có thể là lý do giải thích cho
việc có nhiều báo cáo. Không có những hình ảnh thực của tàu Maddox. Hãy cho những
đánh giá cụ thể trước khi diễn ra bất cứ một hành động nào tiếp theo"[4].
Lúc đó là hơn 2h chiều. Bức điện được gửi đi lúc 1h27 chiều, giờ Washington. Nửa giờ
sau một bức điện khác từ Herrick, đánh giá tóm tắt hành động tích cực và tiêu cực đối
với một cuộc tấn công, kết luận: "Toàn bộ hành động đã đem lại nhiều sự nghi ngờ, ngoại trừ
trận phục kích có chủ định ngay từ ban đầu. Hãy cho máy bay trinh sát kỹ vào ban ngày"[5].
Hàng ngày, cứ cách khoảng 3-4 tiếng máy bay lại trinh sát trên vùng vịnh để tìm ra các vết
dầu loang và các mảnh tàu bị vỡ có thể do trúng hoả lực, những dấu hiệu của một cuộc
tấn công chứ không chỉ là một cuộc va chạm với các mục tiêu mà radar đã vạch ra.
Trong đầu tôi, những bức điện này đã xoá đi hình ảnh một vở kịch được truyền "trực
tiếp" trong 2 giờ mà chúng tôi đang dõi theo. Thông tin mới này là một gáo nước lạnh.
Tới khoảng 3h, để đáp lại những yêu cầu gấp gáp cần được chứng thực, Herrick đánh
điện: "Các hoạt động chi tiết thể hiện một bức tranh lộn xộn cho dù chắc chắn trận phục
kích ban đầu là có thật". Nhưng làm sao anh ta có thể chắc chắn về điều đó, hoặc tại sao,
trước đó 1 giờ, khi anh ta dường như đã đủ tự tin, thì không còn ai có những báo cáo tiếp
theo chuyện về cho tới tận giờ?
Herrick tiếp tục khẳng định, lúc 6 giờ Washington (5h sáng giờ vùng vịnh), chiếc
thuyền đầu tiên áp sát tàu Maddox có thể đã bắn một quả ngư lôi vào tàu Maddox (theo
âm thanh nghe thấy chứ không phải nhìn thấy). Tất cả các báo cáo về quả ngư lôi bắn vào
tàu Maddox đều bị nghi ngờ vì người ta đoán rằng do người điều khiển hệ thống định vị
âm thanh dưới nước đã bị nhầm khi nghe thấy tiếng đập chân vịt của tàu. Vì thế sự thừa
nhận của anh ta về những báo cáo đã gửi đi đều không đáng tin cậy. Đống bằng chứng
tới trong vài ngày dường như đã không có cuộc tấn công nào xảy ra vào ngày 4-8; Năm
1967, các tài liệu dường như đều khẳng định không có cuộc tấn công thứ hai, và năm
1971 tôi buộc phải tin vào sự ngờ vực này. Năm 1966, một bằng chứng đáng tin cậy của
các sĩ quan Bắc Việt bị bắt từng tham gia vào cuộc tấn công ngày 2 tháng tám đã bác bỏ
bất cứ cuộc tấn công nào vào ngày 4-8. Cuối năm 1970, nhà báo Anthony Austin phát
hiện và đưa cho tôi bằng chứng khẳng định, cuộc tấn công ngày 4-8 có lẽ có liên quan tới
cuộc tấn công ngày 2 tháng tám. Năm 1981, với những bằng chứng mới trong cuốn nhật
ký của mình, nhà báo Robert Scheer đã khẳng định với Herrick rằng báo cáo về quả ngư
lôi đầu tiên không được tìm thấy. Dẫu sao, ngày 4-8, từ những báo cáo được bảo đảm
chuyện tới cho Herrick, tôi kết luận rằng có thể đã có một cuộc tấn công dưới dạng nào
đó. Đúng lúc đó, rõ ràng đã có một cơ hội tốt mà lại không xảy ra. Chính thế mà lời đề
nghị tạm ngừng để điều tra trước khi thực hiện hành động của Herrick dường như rất rõ
ràng, ông ta nói ngắn gọn: "Quay tàu lại, chấm dứt ẩu đả!". Nhưng đó không phải là
những gì được chuyển tải về Washington trưa ngày thứ tư hôm đó.
Các bức điện mới của Herrick đã không làm chậm tiến trình chuẩn bị cho một cuộc
không kích trả đũa nhanh chóng ở Washington và ở Thái Bình Dương, cụ thể hơn là Vịnh
Bắc Bộ.
Những gì họ đã làm để khuyến khích cho công việc này là một loạt các cuộc điều tra
gây xôn xao để tìm bằng chứng, nhân chứng ủng hộ cho những hành động ban đầu của
cuộc tấn công hay ít ra để khẳng định một thực tế là đã có một cuộc diễn ra.
Vì những việc này đã tới Washington nên Tổng thống đã triệu tập một cuộc họp với
Hội đồng An ninh quốc gia (NSC) cơ bản là để thông báo những hành động đã dự tính.
Tiếp đó, ông thông báo với các nhà lãnh đạo quốc hội. Các tàu sân bay đã vào vị trí để
thực hiện các chuyến bay càng sớm càng tốt vào sáng hôm đó. Giờ Washington có thể vào
khoảng từ 6h tối đến gần nửa đêm. Còn Tổng thống thì quyết định nói với công chúng
Mỹ về các cuộc tấn công của Mỹ ít nhiều như chúng đang diễn ra.
Ông ta không muốn họ biết về những cuộc không kích trên các bản tin buổi sáng của
ngày hôm sau, mà phải san nhiều giờ khi chúng diễn ra ở phía bên kia của thế giới vào
khoảng thời gian sớm hơn.
Hải quân thấy quan ngại, vì không có cảnh báo của Tổng thống với các tay súng phòng
không của Việt Nam rằng một cuộc tấn công sẽ xảy ra, trước khi các máy bay rơi vào tần
số quét radar của Bắc Việt. Tổng thống nhất quyết không làm như thế. Ông ta yêu cầu giờ
bay lúc 7h tối, sau đổi sang 8h rồi đến 9h vì tàu sân bay Constellation vẫn chưa tới được
vị trí và chưa thông báo hết cho các phi công. Tổng thống quyết định diễn thuyết trước
11h30 tối. Từ McNamara tới CINCPAC, (đô đốc Sharp ở Hawaii đều đang chú ý xem, liệu
Tổng thống có thể phát biểu trước khi các máy bay tập trung ném bom các mục tiêu,
hoặc kh...
 





