BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Viếng Lăng Bác - Bài giảng

    Những gì tôi thấy ở Việt Nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 16h:57' 18-04-2024
    Dung lượng: 919.5 KB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    Table of Contents
    NHỮNG GÌ TÔI THẤY Ở VIỆT NAM
    LỜI GIỚI THIỆU
    PHẦN MỘT MỤC TIÊU SÀI GÒN
    CHƯƠNG I. HIỆP ĐỊNH PARIS: 13 NĂM ĐẤU TRANH
    CHƯƠNG II. CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH
    PHẦN HAI QUẢ BONG BÓNG MỸ
    CHƯƠNG I. MIỀN NAM, MỘT VIỆT NAM KHÁC
    CHƯƠNG II. CHỨNG HOẠI THƯ CỦA MỸ
    PHẦN BA SÀI GÒN GIẢI PHÓNG
    CHƯƠNG I. HÒA HỢP DÂN TỘC
    CHƯƠNG II. CHẲNG CÓ NGƯỜI THẮNG KẺ THUA
    CHƯƠNG III. NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ CÁCH MẠNG
    CHƯƠNG IV. MỘT XÃ HỘI PHẢI GIẢI ĐỘC
    CHƯƠNG V. TỪ CHIẾN ĐẤU Ở BƯNG BIỀN SANG QUẢN LÝ XÃ HỘI
    CHƯƠNG VI. NHANH CHÓNG THỐNG NHẤT
    CHƯƠNG VII. TRÍ THỨC SÀI GÒN VÀ NHỮNG NGƯỜI CÁCH MẠNG
    PHẦN BỐN MIỀN BẮC, HẬU PHƯƠNG LỚN
    CHƯƠNG I. CHIẾN TRANH Ở MIỀN BẮC
    CHƯƠNG II. CHIẾN TRANH ĐƯỢC CHẾ NGỰ
    CHƯƠNG III. NHỮNG NĂM TỚI...
    Chú Thích:

    NHỮNG GÌ TÔI THẤY Ở VIỆT NAM
    Tác giả: Alain Wasmes
    Nguyên tác: La Peau Du Pachyderme
    Người dịch: Nguyễn Huy Cầu
    Nhà xuất bản Công an Nhân dân
    Nguồn: Vn.militaryhistory
    Đánh máy: ptlinh, chuongxedap
    Biên tập: Nhóm VC
    Tạo bìa & Ebook: inno14
    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    Nay tuy châu chấu đá voi
    Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra
    Hồ Chí Minh

    LỜI GIỚI THIỆU
    Ngày 30-4-1975, trên tư thế của người chiến thắng, quân đội nhân dân Việt Nam đã tiến vào
    giải phóng Sài Gòn. Đế quốc Mỹ đã trực tiếp bị đánh bại trên chiến trường Việt Nam.
    Alain Wasmes, với tư cách là phóng viên đặc biệt của báo Nhân đạo Đảng Cộng sản Pháp đã có
    mặt ở Việt Nam trong những năm cuối của cuộc chiến tranh. Tác giả đã chú ý, quan sát, tiếp
    xúc với nhiều đối tượng người Việt (từ lãnh đạo cao nhất của Đảng đến những người dân bình
    thường), để viết cuốn sách này. Ông thuật lại những điều mắt thấy tai nghe về những ngày giải
    phóng Sài Gòn và nỗ lực của miền Bắc để giải phóng miền Nam. Có thể nói cuốn sách đã phác
    lên một bức tranh toàn cảnh về cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam, thể hiện tâm huyết
    và sự trân trọng của tác giả đối với đất nước và con người ở đây. Ông đã trả lời những câu hỏi
    chủ yếu: Ai đã vi phạm và vi phạm như thế nào hiệp định Paris! Tại sao chế độ Sài Gòn lại sụp
    đổ một cách nhanh chóng như vậy.
    Cuốn sách được dịch từ nguyên bản tiếng Pháp La peau du Pachyderme - (Việt Nam tấm da
    voi) của Nhà xuất bản Edt Socialis, Paris, 1976. Nhưng để tiện cho bạn đọc Việt Nam và cũng
    phù hợp với nội dung cuốn sách, chúng tôi xin mạn phép được đổi thành Những gì tôi thấy ở
    Việt Nam.
    Nhân dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng Miền Nam (30-4-1975 - 30-4-2005) Nhà xuất bản Công
    an xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
    Nhà xuất bản Công an Nhân dân

    PHẦN MỘT
    MỤC TIÊU SÀI GÒN
    CHƯƠNG I. HIỆP ĐỊNH PARIS: 13 NĂM ĐẤU TRANH
    “Thắng rồi!”
    Từ Bộ Nội vụ, đối diện với khách sạn Thống Nhất, nơi ở của một số phóng viên Châu âu thường
    trú ở Hà Nội, một bóng người bất thình lình xuất hiện và lao ra ngoài phố...
    “Thắng rồi! Thắng rồi! Quân ta toàn thắng rồi!”, anh ta hét lên, tay vung vẩy một tràng pháo
    đang nổ vang.
    Lúc đó là khoảng 11 giờ, ngày thứ tư, 30 tháng Tư năm 1975.
    Anh ta vừa nghe đài phát thanh Sài Gòn loan tin: Tướng Dương Văn Minh, tổng thống Việt Nam
    Cộng hòa mới lên nắm quyền được bốn tám tiếng, đã kêu gọi quân đội của ông ta làm một việc
    - một việc mà từ nay người ta không thể gọi gì khác hơn là một sự đầu hàng vô điều kiện: “Để
    tránh đổ máu vô ích, tôi yêu cầu binh sĩ Việt Nam Cộng hòa hãy hạ vũ khí, chấm dứt xung đột
    và ở yên tại chỗ...”
    Từ khi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu sụp đổ ngày 21 tháng Tư, ở Hà Nội có một khoảng thời
    gian mà các cơ quan, trường học đều rất vắng người... Đài Sài Gòn gần như được nghe tập thể.
    Mỗi nơi một tý, người ta túm tụm lại nghe đài, rồi tranh cãi, rồi bình luận... Tuy còn chưa biết
    rõ những gì xảy ra ở trong ấy, ở Sài Gòn, nhưng từ nhiều ngày nay người ta đã sẵn sàng chờ
    đón sự kiện: trong những phòng biên tập ở Hà Nội, những nhà báo Việt Nam đang trau chuốt
    các bài của họ về Sài Gòn, về lịch sử thành phố; cũng như thế, người ta đã đặt sáng tác một bài
    hát về việc giải phóng Sài Gòn, thành phố mang tên Hồ Chí Minh. Các cơ sở in ấn của nhà nước
    cũng chuẩn bị sẵn những tấm bản đồ về miền Nam và sẽ tung ra bán khi có thông báo chính
    thức thành phố được giải phóng.
    Dư luận công chúng ở Hà Nội muốn rằng khi thông báo tin chiến thắng ấy, nhà nước sẽ dùng
    chiếc còi ủ của thành phố - chiếc còi đã rú lên những hồi ghê rợn khi B.52 đánh phá Hà Nội
    những ngày tháng Chạp năm 1972 - để loan tin.
    Mãi 17 giờ ngày 30 tháng Tư, sự kiện Sài gòn giải phóng mới được nhà nước chính thức thông
    báo. Song cái “đài truyền miệng” phát đi tin tức về những sự kiện lớn lại làm việc một cách
    tuyệt vời, nó còn nhanh hơn cả đài nhà nước. Và thế là từ buổi trưa, đám đông - đám đông của
    những ngày hội lớn - đã đổ tất cả xuống đường. Đầu giờ chiều, những tấm panô khổng lồ vẽ
    thành phố Sài Gòn đã được dựng lên ở trung tâm thành phố, gần hồ Hoàn Kiếm... Trong các cửa
    hiệu nhỏ ở phố Hàng Mã, nơi thường làm những chiếc đèn lồng ngày tết, các người thợ đang
    hối hả sản xuất cờ, làm đến đâu người ta tranh nhau mua đến đấy và chỉ một lát sau, phố xá đã
    rực đỏ màu cờ: trên xe đạp, trên cửa sổ, trong tay đám đông đang hoan hỉ tràn ngập đường
    phố... Ngày hội hình thành ngay tại chỗ, tự động, bộc phát và dân giã. Theo cách của cụ, một bà
    cụ người nhỏ nhắn bình luận sự kiện: “Có lẽ một lần nữa, người ta lại phải thắt lưng buộc bụng,
    nhưng đó sẽ là lần cuối cùng...”. Rồi bà tóm tắt cảm nghĩ chung của mọi người như sau: Biết
    bao năm chấp nhận hy sinh nhưng rồi cuối cùng những hy sinh ấy cũng đột ngột được đền đáp
    và biện minh một cách trọn vẹn…

    Giữa lúc người ta không thực sự chờ đợi thì lịch sử đã tiến lên với những bước đi của đôi hài
    bảy dặm. Trong riêng tư với nhau, một số người có trách nhiệm của Việt Nam đã thổ lộ rằng,
    đôi khi họ cũng không hy vọng thấy được đâu là thời hạn cuối cùng kết thúc cuộc đời cách
    mạng của họ. Họ đã già đi trong nỗi niềm hy vọng đó và họ đã sửa soạn để chuyển giao gánh
    nặng của sự nghiệp ấy cho “thế hệ tiếp theo”... Sau Hiệp định Paris, một người trong số họ đã
    phỏng đoán: “Có lẽ sẽ phải một thập kỷ nữa”... Con người sát thép ấy, trong một dáng dấp
    mảnh khảnh, chưa bao giờ cảm thấy xúc động như trong ngày hôm nay:
    “Tôi chợt nhớ lại những ngày ở bên hồ Léman[1] ... chúng tôi không bao giờ nghĩ là sẽ có một
    ngày tiếng súng lại im. Hôm nay cũng thế, chúng tôi cũng không thể nhận ra rằng từ nay người
    ta có thể tự do đi vào Sài gòn...”.
    Trong những phố xung quanh hồ Hoàn Kiếm phố Hàng Đào và những phố nhỏ của khu người
    Hoa cũ, đó là sự mừng vui đến tột độ.... Sài gòn giải phóng cũng có nghĩa là miền Bắc giải
    phóng.
    Ở Sài Gòn, hồi cuối của cuộc chiến diễn ra vào buổi trưa. Tại dinh Độc lập, tòa nhà khủng khiếp
    nằm giữa thành phố được lấy làm dinh tổng thống, tướng Minh báo ông đang đợi đại diện của
    chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam ở đấy để “thảo luận về nghi lễ chuyển giao
    chính quyền...”. Thay mặt cho các cơ cấu của chính quyền bù nhìn, tất cả các thành viên của
    chính phủ đều đã có mặt. Chính quyền của họ đã không sống nổi được ba ngày... Ngồi trong
    khoảng bốn chục chiếc phô tơi mạ vàng, họ chờ đợi khi cánh cửa phòng được mở... Về thực đơn
    bữa chiều, ở dinh người ta dự định: gan bê xào với nhân sâm, miến cua bể, cá ngừ nấu với mầm
    đậu nành... Nhưng bữa tiệc ấy sẽ không có. Chiều nay, tướng Minh và các thành viên của chính
    phủ chết yểu của ông sẽ đành bằng lòng với các món đồ hộp ăn với cơm, bữa ăn thông thường
    của các lực lượng giải phóng... Trong phòng im ắng một cách nặng nề. Từ ngoài đường, bên kia
    khu vườn của dinh, vẳng đến một mớ hỗn độn những âm thanh của sắt thép mỗi lúc một ồn lên
    và lọt vào những căn phòng được che rèm của dinh: tiếng loảng xoảng xích sắt xe tăng của
    Quân đội nhân dân, của Quân giải phóng miền Nam. Cổng dinh được đóng kín. Minh và chính
    phủ của ông hy vọng những chiếc tăng ấy sẽ dùng lại trước cái biểu tượng mỏng manh đó, và
    một phái đoàn đại diện cho Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam sẽ tới, với thái
    độ trân trọng, tiếp nhận việc chuyển giao chính quyền một cách đúng thể thức và hợp hiến. Đó
    là cố gắng cuối cùng để giữ lấy một mảnh đất quyền lực của chế độ cũ để đối mặt với những
    người cách mạng.
    Suốt cả một tuần sau khi Thiệu sụp đổ, đoàn ngoại giao Pháp đã ngỡ rằng giờ của họ đã đến, và
    được Washington ủng hộ, họ đã nuôi một hy vọng: cứu lấy cho khỏi đắm một hòn đảo nhỏ
    quyền lực mà hai mươi năm trước đây khi chủ nghĩa thực dân Pháp thất bại, họ đã xây dựng
    lên có lợi cho nước Mỹ. Từ đó bất chấp Hiệp định Genève, ba triệu lính Mỹ đã kế tiếp nhau đổ
    vào Nam Việt Nam; trong số họ 55000 người đã tìm thấy cái chết; 150 tỷ đô la, tức là gấp năm
    mươi lần ngân sách của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ba lần ngân sách của nước Pháp đã
    được chi tiêu từ năm 1965 để giữ và áp đặt bằng sức mạnh cái chế độ ấy cho nhân dân Việt
    Nam. Thế mà từ vài giờ nay viên “thái thú” Mỹ, đại sứ Graham Martin đã lên trực thăng bỏ
    chạy. Và giữa những người đang tụ họp trong căn phòng trang trọng này của dinh “Độc lập”,
    nơi mà dưới chân họ là một tấm thảm lộng lẫy có thêm chữ “Thọ”, và những người chiến thắng
    đang tiến vào một thành phố lạ lùng bỡ ngỡ, giờ chẳng còn có cái gì khác là chiếc cổng sắt này...
    Trên chiếc xe dẫn đầu, trung đội trưởng tăng Bùi Đức Mai của Quân đội nhân dân Việt Nam,
    với một tấm bản đồ du lịch sơ lược trong tay, đang vừa tiến vừa đếm các ngã tư, ngã ba. Người
    ta mách anh rằng theo con đường ngắn nhất, từ Biên Hòa trở đi, anh phải đếm được bảy ngã tư
    thì mới tới trước dinh Độc lập. Đơn vị và xe đã mệt mỏi. Trong vài ngày, xe đã bị đẩy đến tột
    cùng khả năng của nó, chạy những chặng dài tới 180 kilômét trong một ngày đêm, với những
    trận đánh lẻ tẻ dọc đường, nhưng đôi khi rất ác liệt. Chiếc xe đã phải ba lần thay xích, mắt xích
    để thay đã phải cõng bằng sức người để vượt đèo lội suối vào đây. Hôm nay, họ đã ở trong Sài
    gòn. Họ vẫn ngỡ ngàng chưa thể nhận thức được là họ đã đi tới đoạn chót của cuộc hành trình,

    cuộc hành trình trải dài qua những gian khổ hy sinh. Nhưng một niềm phấn khích đã tràn ngập
    trong họ và xóa đi tất cả. Họ lao lên hết tốc độ, đi sâu vào những đại lộ trống rỗng, đối với họ
    nó có vẻ rộng mênh mang và khiến họ bối rối... Những ngày tiếp theo, khi giao thông trở lại
    nhịp độ bình thường, thì việc hoàn toàn mù tịt của họ về những con đường ngược chiều đã gây
    nên những vụ ùn tắc mà từ trước đến giờ Sài Gòn chưa từng thấy... Trên hè phố, đã có những
    đám người ùa ra vẫy chào họ... Đứng trong tháp xe, thượng sĩ Bùi Đức Mai cố gắng chăm chú để
    không nghĩ đến chuyện gì khác ngoài việc đếm các ngã tư. Đến ngã thừ bảy, tòa nhà mang tên
    dinh Độc lập đúng là ở đấy thật, cuộn mình trong khu vườn chật hẹp... Cánh cổng vẫn đóng im
    ỉm. Lệnh cho Bùi Đức Mai đã rõ ràng. Anh lao vào cổng sắt... Theo sau anh, một, hai rồi mười
    chiếc tăng tiến sâu vào khu vườn, nòng pháo chĩa thẳng vào dinh. Một số chiến sĩ nhảy xuống,
    tiểu liên lăm lăm trong tay. Họ nhảy lên các bậc thềm, bao vây các gian phòng, kiểm soát các
    hành lang...
    Trong gian đại sảnh, tướng Minh đứng dậy khi tốp sĩ quan bước vào. Ông muốn chơi trò “bàn
    giao chính quyền...”.
    “Ông không thể bàn giao cho chúng tôi những quyền hành mà ông không có: chế độ cũ của các
    ông đã sụp đổ. Chính quyền đã hoàn toàn vào tay cách mạng. Các ông chỉ có việc đầu hàng
    thôi”, một cách lịch sự nhưng dứt khoát, một sĩ quan cách mạng đã ngắt lời ông. Viên sĩ quan
    này thuộc Cục chính trị Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và nhiệm vụ của anh là
    tiếp nhận sự đầu hàng của một kẻ bại trận. Trong dịp này, anh cũng như các đồng đội đi cùng,
    đã diện một bộ quân phục mới, một sự làm đỏm làm dáng trước lịch sử... Họ biết rằng lúc này ở
    Sài Gòn đang có mặt hàng trăm phóng viên phương Tây, và họ muốn rằng ống kính của những
    người này sẽ ghi lại cái giờ khắc mà không ai ngờ nó lại diễn ra như thế: nó kết thúc ba mươi
    năm chiến tranh, ba mươi năm chiến đấu để giành tự do của một dân tộc. Cùng lúc này, trên
    nóc của tòa lâu đài, một lá cờ lớn hai màu xanh, đỏ với ngôi sao vàng được kéo lên, lá cờ từ
    1960 đến nay tượng trưng cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam. Có lẽ để có
    được tư liệu kỳ lạ này, tư liệu được dành cho các đài truyền hình khắp năm châu, là nhờ vào sự
    ứng tác của một nhà thơ, từ Sở chỉ huy tiền phương của chiến dịch từ nay mang tên trong lịch
    sử là “chiến dịch Hồ Chí Minh”. Ông đã cố tìm ra được chút thời gian để viết mấy câu thơ gửi về
    cho “các đồng chí mình ở Bộ chính trị và Ban chấp hành Trung ương Đảng”:
    Tôi biết lắm: đêm qua anh không ngủ
    Trận cuối cùng, súng nổ sáng hôm nay.
    Anh trông chờ từng phút từng giây
    Theo nhịp bước của miền Nam đang xốc tới...[2]
    Bài thơ đề ngày mồng 1 tháng Năm năm 1975, được viết tại Tân Sơn Nhất, sân bay quân sự và
    dân sự lớn nhất ở Sài Gòn.
    Tác giả của nó là một người nổi tiếng. Lịch sử đã gắn liền tên ông với một cuộc đàm phán, cuộc
    đàm phán lẽ ra đã có thể dẫn chiến tranh đến một kết thúc khác, nếu không có sù mù quáng
    của người Mỹ.
    Đúng vậy, ông là Lê Đức Thọ, người đã đối mặt với Henry Kissinger, người đã đảm nhiệm vai
    trò chính về phía Việt Nam trong cuộc đàm phán để ký kết Hiệp định Paris vào ngày 27 tháng
    Giêng năm 1973...
    Hà Nội, tháng Chạp năm 1975.
    “Trong cuộc đấu tranh dài ba mươi năm này chúng tôi đã nhiều lần cố gắng tìm cách kết thúc
    nó bằng một giải pháp hòa bình, nhưng chưa bao giờ chúng tôi có thể đạt tới...”. Sài gòn đã
    được giải phóng từ tám tháng nay. Cuộc tiến quân vào thủ đô miền Nam của đoàn xe tăng

    Quân đội nhân dân Việt Nam đã phơi bày một cách tàn nhẫn sự phát triển của cuộc chiến tranh
    này, một cuộc chiến tranh mà sự can thiệp ồ ạt, khổng lồ của người Mỹ cùng với sức mạnh
    công nghệ của họ đã làm thay đổi tất cả các dữ liệu về cuộc đấu tranh dân tộc của nhân dân
    Việt Nam, đã làm đảo lộn toàn bộ xã hội miền Nam Việt Nam.Tuy nhiên không một ai lại có thể
    hình dung cuộc chiến tranh sẽ kết thúc dưới một hình thức như thế. Nó thật sự bất ngờ, ngay
    cả với các nhà lãnh đạo Việt Nam. Đó là điều mà người đối thoại với tôi, một nhân vật có trọng
    trách cao, đã giải thích như thế... Ông tiếp tục nói và đó là một thuyết trình bậc thầy về chiến
    lược của một cuộc cách mạng: “Năm 1946, chúng tôi đã cố tìm một giải pháp với người Pháp.
    Cuộc tìm kiếm đã thất bại. Năm 1954, cũng vậy. Chúng tôi nghĩ rằng đã có thể tìm được một
    giải pháp với chính phủ Pháp trong thời kỳ ấy. Nhưng người Mỹ đã nhập cuộc... và chúng tôi đã
    mất bốn năm do dự. Phải đến năm 1959, chúng tôi mới quyết định là chỉ còn có một con
    đường, đó là phải đấu tranh vũ trang, phải đấu tranh bằng bạo lực quân sự...”.
    Năm đó, trong một cuộc họp Ban chấp hành Trung ương vào tháng Năm năm 1959, Lê Duẩn,
    lúc đó là người chịu trách nhiệm về cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam, bằng một bài biện
    luận sôi nổi đầy thuyết phục đã khiến Hội nghị chấp nhận đường lối đấu tranh bằng bạo lực vũ
    trang nói trên, bởi “nếu không thì chỉ sáu tháng nữa chúng ta sẽ chẳng còn gì hết...”. Thực vậy,
    từ 1956, những cuộc đàn áp của Diệm đã gây ra nhiều tổn thất về lực lượng cán bộ “nằm vùng”
    ở miền Nam sau Hiệp định Genève, những cán bộ chỉ được chỉ đạo duy nhất về đường lối đấu
    tranh chính trị để tiến tới tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt
    Nam[3] cũng cho rằng, tình thế gay go của cuộc đấu tranh ở miền Nam còn đe dọa của miền
    Bắc lúc ấy đang tiến hành xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa. Bởi 10 sư đoàn quân đội Sài
    Gòn đã tuyên bố quyết tâm của chúng là không chỉ dừng lại ở Bến Hải thuộc vĩ tuyến 17. Tiếp
    tục chờ thời cơ sẽ có nghĩa là chấp nhận một cách bị động các lực lượng cách mạng miền Nam
    Việt Nam bị thủ tiêu...
    “... Nhưng bởi chúng tôi phải đương đầu với đế quốc Mỹ, cho nên chúng tôi cần phải tìm ra một
    con đường có thể chiến thắng họ mà lại không lôi kéo thế giới vào thảm họa của một cuộc
    chiến tranh toàn cầu. Chúng tôi cần phải có một đường lối chính trị mềm dẻo và một phương
    pháp cách mạng thích hợp để người Mỹ không thể có cớ quốc tế hóa chiến tranh”.
    Người ta không thể xem xét lịch sử cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam một cách đứt đoạn,
    cả về thời gian và không gian, mà phải xem xét nó trong cả một quá trình đấu tranh liên tục.
    Đặc biệt là bắt đầu từ ngày ấy, ngày 3 tháng Hai năm 1930, trong một sân vận động ở Hồng
    Kông, theo sáng kiến của Hồ Chí Minh lúc ấy là phái viên quốc tế cộng sản, Đảng Cộng sản Việt
    Nam đã được bí mật thành lập. Chính đảng ấy từ đó đã lãnh sứ mệnh chỉ đạo cách mạng Việt
    Nam, dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, thắng lợi năm
    1945, rồi thắng lợi năm 1954... Đầu những năm 1960, khả năng mở rộng phong trào khởi nghĩa
    chống chế độ tay sai do Mỹ dựng lên ở Nam Việt Nam đã xuất hiện. Đảng, mà những tổ chức
    của mình vẫn luôn luôn hoạt động bí mật ở miền Nam, cho rằng điều cấp bách lúc này là phải
    thành lập một Mặt trận rộng rãi tập họp được tất cả các tầng lớp xã hội và các thành phần
    chính trị yêu nước và dân chủ ở miền Nam.
    Thắng lợi của phong trào Đồng Khởi đến năm 1965 cho phép nghĩ rằng trong thời gian đầu,
    trên cơ sở của liên minh ấy, một giải pháp “tự trị” sẽ có thể có tác động tốt tới tình hình miền
    Nam. Vậy là Đảng bộ miền Nam của Đảng rút vào bí mật vì lợi ích của Mặt trận dân tộc giải
    phóng. Năm 1962, Đảng Nhân dân Cách mạng được thành lập, thống nhất các tổ chức cộng sản
    ở miền Nam. Ban lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ 1930 đến nay giờ tách làm đôi để thích ứng
    với tình hình do sự vi phạm Hiệp định Genève của Mỹ - Diệm tạo nên. Nhưng Đảng vẫn giữ sự
    thống nhất hữu cơ về mặt tư tưởng: những quyết định chủ yếu vẫn thuộc quyền chỉ đạo của
    Ban chấp hành Trung ương và Bộ chính trị của Đảng. Trong Mặt trận dân tộc giải phóng, Đảng
    Nhân dân Cách mạng là người đại diện cho Đảng và đặc biệt nắm trọng trách xây dựng và phát
    triển lực lượng vũ trang. Như vậy Đảng Nhân dân Cách mạng đóng một vai trò rất quan trọng
    trong Mặt trận dân tộc giải phóng, nhưng Mặt trận có một cơ sở quần chúng hết sức rộng rãi
    cho nên việc thành lập một chính phủ liên hiệp là có khả năng hiện thực.

    Cuộc chiến tranh của Mỹ rồi đây tác động như một lực ly tâm vào liên minh ấy: nó sẽ làm đảo
    lộn xã hội, nghiền nát những tổ chức của Mặt trận dân tộc giải phóng, nhưng đồng thời nó sẽ
    làm cho Mặt trận càng đoàn kết chặt chẽ hơn xung quanh hạt nhân của nó - đó là Đảng Cộng
    sản, một đảng kiên cường và giàu kinh nghiệm nhất, một đảng mà vai trò của nó ngày càng trở
    nên quyết định trong lãnh đạo công cuộc kháng chiến ở miền Nam. Trong khi đó thì “hậu
    phương lớn” miền Bắc, từ năm 1960, đã ngày càng trực tiếp chi viện mạnh mẽ cho miền Nam,
    bởi không ai khác, chỉ miền Bắc mới có thể giúp cho miền Nam đương đầu được với đòn đánh
    của chiến tranh xâm lược Mỹ. Mặc dù vậy, những người cách mạng Việt Nam vẫn cố gắng đi tới
    một giải pháp liên minh, thành lập chính phủ liên hiệp. Trong 15 năm, giải pháp ấy vẫn là “cái
    trục” những nỗ lực của họ. Tuy nhiên những nỗ lực ấy đã không đi đến đâu do sự ngoan cố của
    những người Mỹ, những người cứ khăng khăng nghĩ tới cùng là họ sẽ có thể áp đặt được ý
    muốn của mình.
    Chúng ta hãy trở lại năm 1960, năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng... “Sáng kiến ấy tạo
    nên một điểm chiến lược rất quan trọng. Về mặt chiến lược, chúng tôi muốn đẩy tới cùng cuộc
    cách mạng dân tộc dân chủ mà theo đường lối của chúng tôi thì cuộc cách mạng này tất yếu sẽ
    dẫn tới cách mạng xã hội chủ nghĩa.
    Nhưng vì chủ nghĩa đế quốc Mỹ rất mạnh nên Đảng chúng tôi dự kiến sẽ phải đẩy lùi họ từng
    bước, đánh đổ họ từng phần.”
    Những nhà cách mạng Việt Nam phân tích mục đích của đế quốc Mỹ ở miền Nam như sau: Xây
    dựng miền Nam thành một bàn đạp để tiến công miền Bắc xã hội chủ nghĩa; bao vây ngăn chặn
    phong trào giải phóng dân tộc; lập một thành lũy để chống chủ nghĩa xã hội. Những nhà lãnh
    đạo Việt Nam quyết định có sự thỏa hiệp về mục đích thứ ba của Mỹ và chấp nhận cái hàng rào
    chống chủ nghĩa xã hội ở miền Nam Việt Nam:
    “Với chương trình của Mặt trận dân tộc giải phóng, chúng tôi đề nghị xây dựng một miền Nam
    Việt Nam hòa bình và trung lập một con đường dân chủ nửa tư sản, nửa vô sản. Đảng rút vào bí
    mật vì lợi ích của Mặt trận mà mục tiêu của Mặt trận là: đánh đuổi Mỹ. Tiếp đó, trong bối cảnh
    của một miền Nam Việt Nam hòa bình và trung lập, cuộc đấu tranh sẽ tiếp tục bằng những
    phương pháp hòa bình...”
    Vậy là cần phải đặt mình vào một triển vọng lịch sử để đánh giá vai trò của Mặt trận dân tộc
    giải phóng: về thực tế, nó đánh dấu sự bắt đầu của một cuộc đấu tranh ngoại giao. Đặc biệt
    chương trình của Mặt trận dựa trên cơ sở tương quan lực lượng được thiết lập trong Chính phủ
    liên minh, đã đưa ra một mảnh đất cho sự thỏa hiệp. Nó nhằm cung cấp cho các nhà cách mạng
    Việt Nam những phương tiện để tiếp xúc với người Mỹ để rồi sau đó bắt đầu tiến trình đẩy
    người Mỹ ra ngoài. Đó là mầm móng của cái sau này là chính phủ cách mạng lâm thời... Vậy là
    cuộc tiến công ngoại giao bắt đầu từ lúc đó và từ đấy một giải pháp chính trị là khả thi.
    Nhưng bị lôi kéo bởi chứng sợ “cộng sản” và muốn chặn lại sự phát triển có lợi cho phong trào
    cách mạng thế giới, đặc biệt là sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc, những nhà lãnh
    đạo Mỹ muốn dạy cho Việt Nam một “bài học” để làm gương.
    Thế là trong một bị vong lục ngày 22 tháng Một năm 1964 của tướng Maxwell D.Taylor, lúc ấy
    là chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, gửi cho bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mac
    Namara, người ta thấy tóm tắt những quan tâm của các nhà lãnh đạo Mỹ liên quan đến Việt
    Nam như sau:
    “… Rộng lớn hơn, thất bại của các chương trình của chúng ta ở Nam Việt Nam sẽ có những tác
    động nặng nề đối với dư luận của Miến Điện, Inđônêxia, Malayxia, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn
    Quốc, Philipines, cả về sự bền vững lẫn quyết tâm và sự trung thành của Hoa Kỳ. Cuối cùng, bởi
    đây là thử nghiệm đầu tiên của chúng ta về quyết tâm đánh bại những người cộng sản trong
    công thức chiến tranh giải phóng dân tộc của họ, nên không phải là phi lý khi bất luận những
    thất bại sẽ đưa đến những hậu quả tai hại đối với hình ảnh của chúng ta ở châu Phi và Mỹ

    Latinh”[4]
    Vậy là chính quyền Kennedy ngày càng hướng về một sự can thiệp không ngừng tăng lên ở Việt
    Nam.
    Người đối thoại với tôi nói tiếp: “Năm 1965, chúng tôi đã ở ngày hôm trước của việc giải
    phóng hoàn toàn miền Nam, ngoại trừ vài thành phố. Trong những vùng giải phóng, ở nông
    thôn, người ta đã có thể thành lập chính quyền cách mạng; nhưng việc đổ quân ào ạt của đạo
    quân viễn chinh Mỹ đã làm đảo lộn mọi căn cứ của công cuộc giải phóng và đã làm nó thay đổi
    hoàn toàn. Tuy nhiên, chiến lược của chúng tôi vẫn có giá trị: trước hết vẫn phải là đuổi được
    Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam. Với cuộc tiến công Tết 1968, chúng tôi muốn lập ở miền Nam
    một chính phủ cách mạng có thể tiến hành thương lượng với Mỹ. Cuộc tiến công nhằm đánh đổ
    Thiệu, lập một Liên minh giữa những lực lượng trung lập với những người của chính phủ Thiệu
    mà không có Thiệu, tức là lập một chính phủ liên hiệp...”. Ông bổ sung thêm: “Nhưng đó là một
    mục tiêu tối đa mà muốn đạt được nó thì đòi hỏi phải có rất nhiều cơ may...”. Rồi ông nói tiếp:
    “Kết quả chủ yếu của cuộc tiến công Tết Mậu Thân, đó là người Mỹ đã nhận ra rằng họ không
    bao giờ có thể đạt được tới những mục tiêu quân sự của họ và điều đó đã dẫn họ tới phải chấp
    nhận mở cuộc đàm phán với chúng tôi ở Paris”. Trên chiến trường, sau tiến công 1968, các lực
    lượng cách mạng đã có một thời kỳ rất khó khăn. Họ mất đất, mất cán bộ... “Chúng tôi vẫn giữ
    một mục tiêu sách lược là lập một chính phủ Liên hiệp và chúng tôi đã thành lập Chính phủ
    cách mạng lâm thời với các thành phần chính trị khác nhau ở miền Nam Việt Nam...” Chính
    phủ cách mạng lâm thời sẽ có một tác động chính trị rất quan trọng đối với cả trong nội bộ
    miền Nam Việt Nam cũng như ngoài quốc tế. Với việc thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời,
    ngày 6 tháng Sáu năm 1960, các lực lượng cách mạng miền Nam đã có được một chính phủ đại
    diện cho mình cũng như chính quyền Sài Gòn đại diện cho Việt Nam Cộng hòa, bởi vì người Mỹ
    đã phải thương lượng với họ ở Paris. Điều chủ yếu là phải làm thế nào để chính phủ các nước
    lúc này đang tăng về số lượng - công nhận họ. Thế là một mặt trận khác, mặt trận ngoại giao,
    được thực sự mở ra, nhưng điều quyết định nhất vẫn là tình hình trên chiến trường. Tháng
    Giêng năm 1967, Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã xác
    định mối quan hệ giữa đấu tranh ngoại giao với các mặt đấu tranh khác như sau:
    “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị là yếu tố quyết định để giành thắng lợi trên chiến
    trường và là cơ sở cho thắng lợi của đấu tranh ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được
    thắng lợi trên bàn đàm phán những gì mà chúng ta giành được trên chiến trường. Tuy nhiên,
    đấu tranh ngoại giao không đơn thuần chỉ là phản ánh của tình hình chiến trường, mà trong
    bối cảnh quốc tế hiện nay và do tính chất của cuộc chiến tranh, đấu tranh ngoại giao còn đóng
    một vai trò quan trọng, tích cực và đầy sáng tạo.”
    Vậy là với chính phủ Cách mạng lâm thời, những người cách mạng đã tạo ra được nền tảng cho
    một giải pháp chính trị.
    “Chúng tôi đã đưa ra một loạt những đề nghị, tám rồi mười điểm, đề nghị mở rộng Chính phủ
    cách mạng lâm thời phù hợp với chương trình của Mặt trận dân tộc giải phóng. Nếu lúc ấy
    người Mỹ chấp nhận rút quân và đề nghị lập một chính phủ dân tộc liên hiệp thì điều đó cũng
    có thể chấp nhận được với chúng tôi. Thậm chí nếu bộ đội chủ lực của chúng tôi có phải có sự
    rút quân nào đấy ở miền Nam. Nhưng vấn đề là phải đạt tới một giải pháp chính trị thực sự
    chứ không phải là một sự đầu hàng của chúng tôi. Song khi Mỹ đòi chúng tôi phải rút quân
    song phương thì thực tế là họ đã bắt chúng tôi phải đầu hàng.” Thế là một cơ hội đã bị bỏ lỡ.
    Với Hiệp định Paris, chúng tôi vẫn muốn tìm ra một giải pháp chính trị, trên cơ sở Mỹ phải rút
    quân đơn phương. Bộ đội chính quy của chúng tôi vẫn ở lại miền Nam. Và mong muốn của
    chúng tôi vẫn là một giải pháp chính trị, tiếp tục cuộc đấu tranh bằng con đường chính trị,
    mạnh mẽ nếu cần thiết, nhưng ngoại trừ chiến tranh”. Nhưng những nhà lãnh đạo Mỹ vẫn nghĩ
    rằng với sự viện trợ ồ ạt của họ, quân đội và chính quyền ngụy vẫn đủ mạnh để đẩy lùi những
    người cách mạng đến thất bại... Chiến tranh lại tái diễn ở miền Nam.

    Tháng Sáu năm 1973, Lê Đúc Thọ lại gặp Kissinger:
    “Một lần nữa, chúng tôi đã cố gắng đi tới một giải pháp chính trị và một lần nữa những nhà
    cầm quyền Mỹ lại gạt bỏ những đề nghị của chúng tôi…” Một cuộc chiến tranh mới phát triển ở
    miền Nam, đối đầu giữa quân đội cách mạng và quân đội Sài Gòn tiếp diễn với mức độ quyết
    liệt như hồi 1972 và cũng với những tổn thất về người như thế… Cho đến thời điểm cuối cùng,
    những người cách mạng Việt Nam vẫn cố gắng để đạt tới một giải pháp chính trị.”
    “Ngày 8 tháng Mười năm 1974 rồi ngày 21 tháng Ba năm 1975, chúng tôi đã yêu cầu Mỹ chấm
    dứt sự cam kết của họ với chính quyền Sài Gòn và thay Thiệu... Nhưng chỉ đến khi người Mỹ
    nhận ra được mức độ rộng lớn của thảm họa tháng Tư sau khi chúng tôi đã tiêu diệt được quân
    đoàn một và quân đoàn hai ngụy thì họ mới chấp nhận tất cả những điều kiện mà trước đây
    chúng tôi đã đưa ra: một chính phủ ba thành phần và thay Thiệu bằng Minh. Chả là họ biết rằng
    trước đây chúng tôi muốn bàn bạc với Minh...”
    Tháng Ba năm 1975.
    Từ khi Thiệu đổ, Sài Gòn chỉ còn là một sân khấu mà người ta diễn trò “múa rối”. Ngoài tiền
    cảnh là Hương, một ông già ốm yếu, cố bám lấy cái “vỏ bề ngoài” của một tổng thống. Mãi đến
    tới 27 tháng Tư, quốc hội Sài Gòn mới biểu quyết trao toàn bộ quyền hành cho tướng Minh,
    một người mà từ lâu người của cách mạng đã có những tiếp xúc.
    Ở Hà Nội, khi nhận được tin này, chúng tôi cùng với phóng viên của AFP đã gọi điện cho Tổng
    biên tập báo Nhân dân, cơ quan ngôn luận Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam:
    - Các ông sẽ bàn bạc với Minh?
    - Ngài thân mến, ông tổng biên tập đáp, lúc này thì đã quá muộn...
    Từ 17 giờ hôm trước, đợt cuối cùng của chiến dịch Hồ Chí Minh đã được bắt đầu: các binh
    đoàn bộ binh và xe tăng đã lên đường bước vào chặng cuối cùng của cuộc hành quân nhằm
    mục tiêu: Sài Gòn.
    Ngày 28 tháng Giêng 1973, ngay sau ngày “Hiệp định Paris về việc chấm dứt chiến tranh và lập
    lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết, Hà Nội đã đưa ra một tuyên bố trang trọng nêu bật tầm
    quan trọng của sự kiện và xác định đường lối mà các nhà lãnh đạo Việt Nam sẽ theo đuổi. Bản
    tuyên bố này được đưa ra với một hình thức đặc biệt ít thấy từ trước đến nay, đó là nó được
    Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, tức Đảng Cộng sản Việt Nam, và chính
    phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cùng ký: “Đó là một thắng lợi vĩ đại nhất và anh hùng nhất
    trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta”, bản tuyên bố nêu. Đối với những người cách
    mạng Việt Nam, riêng chương một Hiệp định đã chứa đựng một điều trở thành mục tiêu cơ
    bản của cuộc kháng chiến của họ từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh lập nên nước Việt Nam dân chủ
    cộng hòa năm 1945. Đó là: “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và tất cả các nước tôn trọng độc lập, chủ
    quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam theo như Hiệp định Genève về Việt
    Nam năm 1954 đã công nhận”.
    Ở Genève, Mỹ đã không công nhận Hiệp định ký hồi ấy mà chỉ cam kết, theo như từ ngữ của bộ
    trưởng Ngoại giao Foster Dulles đưa ra là “tôn trọng” nó.
    Sự “tôn trọng” của Mỹ sau đó đã dần dần có nghĩa là: từ chối tổng tuyển cử tự do được dự kiến
    tiến hành vào năm 1956, bởi: “... những nhân vật am hiểu vấn đề Đông Dương đã dự kiến khả
    năng 80% dân chúng Việt Nam sẽ bầu cho nhà cộng sản Hồ Chí Minh”[5] “như tổng thống Mỹ
    Eisenhower lúc đó đã thú nhận trong cuốn “hồi ký” của ông.
    Trong khi ném bom Hà Nội tháng Chạp năm 1972, lần cuối cùng, các nhà lãnh đạo Mỹ đã thử
    trở lại những quy định cơ bản ấy. Vậy là chương một của hiệp định Paris riêng nó đã là một sự

    thừa nhận thất bại của Mỹ về những việc họ đã cố công tốn sức làm ở Việt Nam. Còn đối với
    những người cách mạng thì nó đã thể hiện được tinh thần cơ bản nhất của hiệp định.
    Hơn nữa Hiệp định còn dự kiến Mỹ phải cam kết chấm dứt sự can thiệp của họ ở Việt Nam,
    phải...
     
    Gửi ý kiến

    “Nếu bạn muốn đạt được bất cứ điều gì trong cuộc sống, bạn phải đọc rất nhiều sách.” – Roald Dahl

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TRUNG HỌC THỰC HÀNH SÀI GÒN !