Viếng Lăng Bác - Bài giảng
Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:03' 18-04-2024
Dung lượng: 897.2 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:03' 18-04-2024
Dung lượng: 897.2 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
PHỎNG VẤN TƯỚNG LĨNH VIỆT NAM
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
LỜI TỰA
01 - Thượng tướng HOÀNG CẦM
02 - Thượng tướng NGUYỄN MINH CHÂU
03 - Trung tướng ĐỒNG VĂN CỐNG
04 - Thiếu tướng TRẦN VĂN DANH
05 - Chuẩn đô đốc NGUYỄN DƯỠNG
06 - Trung tướng LÊ TỰ ĐỒNG
07 - Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP
08 - Thiếu tướng PHAN KHẮC HY
09 - Thiếu tướng TÔ KÝ
10 - Thiếu tướng DŨNG MÃ
11 - Thiếu tướng TRẦN ĐẠI NGHĨA
12 - Trung tướng ĐỒNG SĨ NGUYÊN
13 - Trung tướng DƯƠNG CỰ TẨM
14 - Thượng tướng TRẦN VĂN TRÀ
15 - Trung tướng LÊ VĂN TRI
16 - Thượng tướng TRẦN NAM TRUNG
17 - Thiếu tướng BÙI CÁT VŨ
18 - Trung tướng NGUYỄN HỮU XUYẾN
PHAN HOÀNG VỚI CẢM ĐỀ VỀ CÁC VỊ TƯỚNG
LỜI TỰA
Tôi đã đọc từng bài viết về các tướng lĩnh quân đội nhân dân Việt Nam của Phan Hoàng trên
từng số tạp chí Kiến thức ngày nay, với tôi vừa thú vị vừa bổ ích.
Nhìn lại tác phẩm văn học ta viết về hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nhân vật chính nổi
bật, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc là những chiến sĩ cầm súng, là các cô du
kích, là cán bộ hoạt động trong lòng địch, chúng ta rất ít gặp nhân vật là các vị tướng, nếu có thì
nhân vật ấy chỉ thoáng qua, rất mờ nhạt Trong lúc ấy, ở ngoài đời những danh tướng là những con
người đáng ghi trong lịch sử.
Chúng ta, ai cũng biết rằng: bất cứ cuộc chiến tranh nào, bất cứ ở đâu và từ xưa đến nay, chiến
tranh không thể thiếu các vị tướng. Chính họ là những người góp phần quan trọng, nếu không nói
là quyết định sự thành bại của các cuộc chiến.
Với tư cách là người đọc, nhiều lúc tôi khao khát muốn được biết về con người, con người
tướng, con người đời thường, con người ngoài trận mạc, con người trong gia đình và bổn phận
của người chồng, người cha..., rất muốn biết và chia sẻ tâm trạng của một vị tướng trước và sau
những trận đánh. Không có một trận đánh nào mà không có chiến sĩ hi sinh. Những vị tướng nghĩ
gì về sanh mạng của hàng ngàn chiến sĩ dưới sự chỉ huy của mình.
Văn học viết về chiến tranh, mảng này như còn bỏ trống nếu không nói là thiếu sót. Vì sao ? Tôi
nghĩ - chẳng biết có đúng hay không, đội ngũ nhà văn của ta, phần lớn xuất thân từ quân đội, nhà
văn không chỉ thông cảm hay chia sẻ mà nhà văn cùng một số phận với người chiến sĩ. Trong đời
sống hàng ngày, nhà văn và chiến sĩ là mối quan hệ tình đồng đội, tình bạn bè. Nhờ đó, nhà văn đã
có đủ chất liệu sống từ thực tế mà xây dựng nhân vật cho tác phẩm của mình.
Đối với các vị tướng thì nhà văn không có được mối quan hệ mật thiết như chiến sĩ và, các cấp
chỉ huy trực tiếp của nhà văn chưa phải là tướng. Hình như chưa có nhà văn nào là bạn của một vị
tướng, và cũng hình như chưa có vị tướng nào có một người bạn thân là nhà văn. Chính cái
khoảng cách này mà nhà văn không có đủ vốn sống để tạo thành nhân vật.
Để bù lại phần nào trong cái khoảng trống ấy, tạp chí Kiến thúc ngày nay đã có sáng kiến ghi
chép lại (một phần nào) về cuộc đời của các tướng lĩnh. Đây chưa phải là tác phẩm văn học,
nhưng những bài phỏng vấn do Phan Hoàng thực hiện đã thuyết phục tôi và bạn đọc vì sự trung
thực, xúc cảm của tôi không bị lừa dối, sự xúc cảm của tôi cũng chân thật như những tiếng nói
chân thật, giản dị và gần gũi của các vị tướng.
Những bài phỏng vấn của Phan Hoàng đăng rải rác trên chuyên mục "Mỗi kỳ một nhân vật "
của Kiến thức ngày nay được gom lại thành lập Phỏng vấn các tướng lĩnh Việt Nam, với tôi là một
quyển sách quí cần được phổ biến rộng rãi đến bạn đọc. Tôi cũng rất mong tác giả viết tiếp đề tài
sống động này, để tôi và bạn đọc được đọc thêm về cuộc đời và sự nghiệp đáng kính trọng của các
tướng lĩnh quân đội nhân dân Việt Nam chúng ta.
Ngày 20. 4. 1997
Nhà văn NGUYỄN QUANG SÁNG
01 - Thượng tướng HOÀNG CẦM
Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, lang thang rày đây mai đó, phải đi lính khố xanh cho Pháp để kiếm sống,
Hoàng Cầm được giác ngộ cách mạng, trở thành một tướng lĩnh nổi tiếng của quân đội, có mặt ở nhiều
"điểm nóng" quan trọng trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Những đội quân chủ lực
thiện chiến do tướng Hoàng Cầm chỉ huy luôn là nỗi kinh hoàng của quân thù. Cuộc đời binh nghiệp
gian khổ và kiên cường của ông trải từ chiến khu Việt Bắc ngút ngàn với chiến thắng Điện Biên lẫy
lừng đến những cánh rừng của miền Đông đất đỏ, từ đường phố Sài Gòn với Chiến dịch Hồ Chí Minh
lịch sử đến đường phố Phnôm Pênh giải phóng nước bạn khỏi nạn diệt chủng. Ông luôn được giao
nhiều trọng trách, cả thời chiến lẫn thời bình: sư đoàn trưởng Sư đoàn 312, sư đoàn trưởng Sư đoàn 9,
phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, tư lệnh kiêm chính ủy Quân
đoàn 4, phó tư lệnh Đoàn 719, tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu 4,... Trước khi trở thành “tướng về
hưu", ông giữ chức Tổng thanh tra quân đội hàm Thượng tướng, được Nhà nước tặng thưởng Huân
chương Hồ Chí Minh. Bản lĩnh và kinh nghiệm trận mạc của tướng Hoàng Cầm là tài sản quí giá của
Quân đội nhân dân Việt Nam.
Lịch sử quân đội trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc xuất hiện một sự trùng hợp ngẫu
nhiên thú vị: có ba người lính cùng mang tên Hoàng Cầm đều rất nổi tiếng. Một Hoàng Cầm nhà thơ,
tác giả Bên kia sôngĐuống, Mưa Thuận Thành, Lá diêu bông,... từng là trưởng Đoàn Văn công Tổng
cục Chính trị. Một Hoàng Cầm anh nuôi, sáng chế bếp Hoàng Cầm không khói huyền thoại từ thời
kháng chiến chống Pháp. Và một Hoàng Cầm danh tướng, thi thoảng cũng làm thơ... tình dành tặng vợ !
Tướng Hoàng Cầm thường được đồng đội gọi thân mật Năm Thạch, tên thật là Đỗ Văn Cầm, tuổi
Thân sinh ngày 30 tháng 4 năm 1920 ở xã Cao Sơn, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây. Theo phong trào
trong quân đội, sau Cách mạng tháng Tám nhiều người đã lấy họ Hoàng như Hoàng Văn Thái, Hoàng
Sâm, Hoàng Minh Thảo, Hoàng Mười, Hoàng Điền, Hoàng Kiện, Hoàng Tùng, Hoàng Đan, Hoàng
Phương,... và cái tên Hoàng Cầm cũng xuất hiện từ đó. Năm 1960, Hoàng Cầm được phong quân hàm
Đại tá. Năm 1974, ông được thăng Thiếu tướng khi đang chiến đấu tại chiến trường Nam Bộ. Năm
1982, trong lúc chỉ huy bộ đội tình nguyện ở Campuchia, Hoàng Cầm được thăng Trung tướng. Năm
1987, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quốc tế từ biên giới Lào - Thái trở về, ông được vinh thăng Thượng
tướng, trở thành Tổng thanh tra quân đội và thanh tra Bộ Quốc phòng. Ông còn được bầu làm Ủy
viênBan chấp hành Trung ương Đảng khóa V và khóa VI.
Hoàng Cầm là vị chỉ huy rất có duyên với những trận đánh lớn. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ,
ông là trung đoàn trưởng Trung đoàn Sông Lô trực tiếp bắt sống tướng De Castrie. Đến Chiến dịch Hồ
Chí Minh, Hoàng Cầm là tư lệnh Quân đoàn 4 đánh mở "cánh cửa thép" Xuân Lộc, tiêu điểm quan
trọng nhất, ác liệt nhất trên đường đại quân tiến vào giải phóng Sài Gòn; rồi chịu trách nhiệm tiếp quản
dinh Độc Lập cùng nội các Tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng hòa. Chiến tranh biên
giới Tây Nam xảy ra, Tư lệnh Hoàng Cầm là vị chỉ huy cao nhất có mặt đầu tiên ở thủ đô Phnôm Pênh
khi cùng Quân đoàn 4 tiến sang giải phóng nước bạn khỏi ách diệt chủng Pol Pot - Ieng Sary. Chưa hết.
Chỉ một thời gian ngắn sau, tướng Hoàng Cầm lại hành quân sang "điểm nóng" tranh chấp ở biên giới
Tây Nam Lào, toàn quyền chỉ huy bộ đội tình nguyện giữ yên bờ cõi cho nước bạn suốt năm năm liền.
Một trưa tháng Ba, tôi cùng đồng nghiệp Huỳnh Hiếu của báo Phú Yên đến thăm ông và xin "cái
hẹn" cho một cuộc phỏng vấn. Không ngờ, tướng Hoàng Cầm đề nghị làm việc ngay "để khỏi mất công
nhà báo" ! Tác phong đầy chất nhà binh của vị tướng già, gây cho chúng tôi sự cảm kích lớn lao.
- Thưa Thượng tướng, trước khi bước vào con đường binh nghiệp, thời niên thiếu của Thượng
tướng gắn bó nơi đâu?
- Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở Hà Tây. Mẹ mất năm tôi bốn tuổi, đến năm mười hai
tuổi thì cha mất. Nhà có bốn anh em, do hoàn cảnh như vậy, mỗi người phân tán lưu lạc một nơi. Tôi
đi ở đậu cho người ta tới năm năm, dưới hình thức con nuôi, nhưng cách đối xử và công việc chẳng
khác đứa ở. Khi làm mộ táng cho cha mẹ tôi, họ đưa ba đồng tiền Đông Dương, đến khi tôi bỏ đi thì
họ đòi lại. Tôi ở nhờ làm thuê hết nhà này sang nhà khác, cho đến năm hai mươi tuổi tôi bỏ làng ra đi,
lưu lạc từ Hà Đông đến Hà Nội với nhiều nghề lặt vặt kiếm sống.
Cuộc sống vô gia cư của một anh nhà quê không đồng dính túi buộc tôi phải đi lính khố xanh cho
Pháp. Hai năm trấn ải ở Lai Châu, chuyển về Hà Nội thì tôi bỏ lính. Nhật đảo chính Pháp, được cán
bộ Việt Minh tuyên truyền, tôi tham gia hoạt động cách mạng. Từ Cách mạng tháng Tám tôi vào Cứu
quốc quân, Vệ quốc đoàn, Giải phóng quân tham gia mặt trận Sơn La năm 1947. Lúc bấy giờ, tôi vẫn
nghĩ chỉ tham gia quân đội một thời gian rồi quay về quê kiếm vốn buôn bán làm ăn…
- Nhưng rồi cuối cùng Thượng tướng đã gắn bó cả đời mình với con đường binh nghiệp. Những
ngày đầu tiên gia nhập quân đội cách mạng để lại ấn tượng gì trong tâm khảm Thượng tướng?
-Lớp thanh niên chúng tôi là lớp thanh niên mất nước, được giác ngộ tinh thần dân tộc, đánh đổ thực
dân, cứu nước. Họ rất bình dị và trong sáng, sẵn sàng hi sinh đến giọt máu cuối cùng. Sau này, chúng
tôi mới được giác ngộ giai cấp, kết nạp vào Đảng. Từ Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm1945 cho đến
cuối năm 1947, chúng tôi đánh giặc chủ yếu từ vũ khí cướp được của giặc. Ăn uống thì dựa vào nhân
dân. Chỉ đến năm 1948 trở đi thì quân ta mới có chế độ về khí tài, lương thực thực phẩm, quân trang
quân dụng… Trong đội quân hỗn hợp ấy, chúng tôi đã lớn lên và trưởng thành. Tôi còn nhớ đôi câu
đối vui ghép đầy đủ tên chiến sĩ tiểu đội đầu tiên của tôi:
Thám Hữu Đào Lan Cầm Thượng Thuý
Thanh Liêm Miêu Miễn Thưởng Vân Sì.
Hiện nay chỉ còn lại tôi, anh Vân Sì và anh Thưởng, nhưng anh Thưởng thì lâu nay cũng bặt tin.
- Gần nửa thế kỉ chinh chiến, những nhiệm vụ chủ yếu nào Thượng tướng từng đảm trách?
- Từ năm 1946 đến 1949 tôi ở Trung đoàn 1 48 tham gia mặt trận Sơn La, đánh nhau với Quốc dân
đảng. Năm 1949 tôi về Trung đoàn Sông Lô (209) làm tiểu đoàn phó, rồi tiểu đoàn trưởng đánh Đông
Khê với quân Pháp. Ngày 12 tháng 9 năm 1950 , khi chuẩn bị cho trận đánh đầu tiên này trong Chiến
dịch Cao Bắc Lạng giải phóng biên giới, tôi là tiểu đoàn trưởng duy nhất được Tổng tư lệnh Võ
Nguyên Giáp cho triệu tập lên sở chỉ huy gặp Bác Hồ. Sau khi nghe tôi báo cáo tình hình chuẩn bị của
tiểu đoàn, Bác hỏi:
- Chú có tin trận này quân ta nhất định thắng không?
- Thưa Bác, cháu tin ạ!
Chiến dịch kết thúc thắng lợi, tôi được cử làm trung đoàn trưởng Trung đoàn Sông Lô, tiếp tục
chiến đấu trên chiến trường Bắc Bộ. Năm 1954 tham gia Chiến dịch Điện Biên
Phủ, trung đoàn tôi là đơn vị chủ lực, bắt sống tướng De Castrie. Sau chiến thắng Điện Biên, tôi về
làm Sư đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 312, khi anh Lê Trọng Tấn và anh Trần Độ chuyển
công tác, tôi lên làm Sư đoàn trưởng kiêm Bí thư Đảng uỷ vào cuối 1954.
Mười năm sau, cuối năm 1964 thì tôi được lệnh vào Nam chiến đấu. Tôi tham gia chỉ huy nhiều
chiến dịch như Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng-Dầu Tiếng, Đường 13, Lộc Ninh, Phước Long… và
cuối cùng là chỉ huy trận đánh Xuân Lộc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trước khi về làm tư
lệnh Quân đoàn 4, tôi được cử phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền
Nam.
Đến năm 1979 tôi đưa Quân đoàn 4 sang giải phóng Campuchia. Năm 1981 tôi lên làm Phó tư lệnh
đoàn 719 mà anh Lê Đức Anh là Tư lệnh, chỉ huy bộ đội làm nghĩa vụ quốc tế ở nước bạn.Tháng 5
năm 1982 tôi về nước nhận nhiệm vụ tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu 4, đưa cả Sư đoàn 341 theo. Bấy
giờ, tình hình Lào bất ổn, tôi được lệnh đưa quân sang đất nước Triệu Voi và ở đây năm năm .Sau đó,
tôi về Hà Nội làm Tổng thanh tra quân đội năm năm nữa rồi mới về nghỉ chờ hưu chữa bệnh. Cuộc đời
binh nghiệp của tôi có thể tạm tóm tắt như thế.
- Vâng, chỉ cần có thế các nhà văn cũng đã đủ tư liệu viết nên một pho sách quí giá; nhưng thưa
Thượng tướng, cuộc đời tướng Hoàng Cầm không chỉ nổi tiếng ở những trận đánh đi vào lịch sử
mà còn được biết đến với nhiều giai thoại kỳ thú. Chẳng hạn như chuyến bí mật vượt đại dương
lần đầu vào Nam chiến đấu cùng với tướng Trần Độ?
- (Cười lớn) Chuyến đi nhớ đời đấy. Một ngày cuối năm 1964, tôi và anh Trần Độ từ Hà Nội bay sang
Quảng Châu, Trung Quốc. Bấy giờ, Trung Quốc đang giúp Campuchia xây dựng tuyến đường sắt
Sihanoukville-Phnôm Pênh. Chúng tôi cải trang thành công nhân máy tàu trên một chuyến tàu biển chở
sắt đường ray sang Campuchia phục vụ công trình trên. Con tàu bắt đầu nhổ neo vào một buổi sáng dày
đặc sương mù, lần lượt vượt qua nhiều “điểm nóng” nguy hiểm, hết Hoàng Sa rồi tới Trường Sa do hải
quân Việt Nam Cộng hoà kiểm soát. Nhằm đánh lạc hướng tình báo địch, con tàu chạy xuống gần đảo
quốc Singapore rồi bẻ lái đột ngột hướng lên cảng Sihanoukville. Hải trình kết thúc an toàn sau một
tuần hồi hộp vượt đại dương.
- Sau đó, Thượng tướng sang chiến trường B2 bằng cách nào?
- Đến đây thì dễ rồi. Đại sứ Trung Quốc tại Campuchia đúng hẹn đi xe hơi xuống cảng. Trên xe có 4
người. Hai người xuống xe để tôi và anh Trần Độ thế vào, chạy về Phnôm Pênh. Tới vùng ngoại ô, cơ
sở của ta bố trí anh Ba Râu chờ đón sang xe chạy thẳng về nhà kho một thương gia Hoa kiều nằm ngay
trung tâm thủ đô. Ít hôm sau, tôi và anh Trần Độ giả Việt kiều đi chơi cuối tuần bằng xe dịch lịch rồi
chạy ù sang hướng biên giới nước ta. Anh Huỳnh Kháng Minh chờ sẵn đón chúng tôi. Ba anh em đèo
nhau bằng “ngựa sắt” theo đường mòn cắt rừng qua ngả Cà Tum về Cục R, đang đóng ở Tân Biên
thuộc Tây Ninh. Anh Huỳnh Khánh Minh về sau được cử làm Thứ trưởng Bộ thông tin tuyên truyền
Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam và đã hy sinh trên đường công tác.
- Được biết, sau đó Thượng tướng hai lần trở lại Hà Nội cũng qua đường Phnôm Phênh.
-Nhưng không phải bằng đường biển nữa mà bằng đường hàng không. Tôi lấy hộ chiếu giả Việt kiều,
mua vé Hãng Air France bay sang Quảng Châu rồi mới quay về Hà Nội. Bọn tình báo địch đâu có ngờ
các tướng “Việt Cộng” gây cho chúng mất ăn mất ngủ ở chiến trường B2, lại có thể ngang nhiên một
cách đàng hoàng, công khai trước mặt chúng như vậy.
- Nghe nói, khi mới đến Phnôm Pênh lần đầu, Thượng tướng còn muốn nghe cả đài miền Bắc…
- Sau này nghĩ lại mới giật mình. Mày mà lúc ấy anh chủ nhà là thương gia Hoa kiều cản kịp thời, bảo
với tôi và anh Trần Độ rằng ở tầng trên đang có địch !
- Thưa Thượng Tướng, là người trực tiếp thành lập và chỉ huy cao nhất của Quân đoàn 4, quân
đoàn chủ lực đầu tiên của Quân giải phóng miền Nam, xin Thượng tướng cho biết vài nét về quân
đoàn này?
- Sau một thời gian vào B2, tôi được lệnh xây dựng Sư đoàn 9 chủ lực đầu tiên của Quân giải phóng
miền Nam. Đây là sư đoàn đàn anh trong cuộc đối đầu với quân Mỹ, về sau được tuyên dương đơn vị
anh hùng. Tôi là Sư đoàn trưởng, còn anh Lê Văn Tưởng là Chính uỷ đầu tiên. Sau đó, tôi được cử làm
Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Miền. Bấy giờ anh Trần Văn Trà là Tư lệnh thay anh Hoàng Văn
Thái. Tôi nhận lệnh thành lập thành lập Quân đoàn 4 vào ngày 20 tháng 7 năm 1974, từ 2 sư đoàn chủ
lực là Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 cùng một số tiểu đoàn binh chủng độc lập. Tôi được phân công làm Tư
lệnh, anh Bùi Cát Vũ - Phó tư lệnh, anh Hoàng Khánh Nghĩa - Tham mưu trưởng, anh Ba Vinh - phụ
trách hậu cần. Đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, anh Hoàng Thế Thiện về làm Chính uỷ. Khi sang
Campuchia thì tôi kiêm luôn Chính uỷ.
- Vai trò Quân đoàn 4 được xác lập ra sao?
- Ngay từ khi thành lập, Quân đoàn 4 đã được giao hai nhiệm vụ chính. Thứ nhất, quân đoàn là đơn
vị chủ lực của B2 (từ Khu 6 trở vào), có nhiệm vụ giải phóng các đô thị lớn, nhất là Sài Gòn, hỗ trợ
du kích chiến tranh, xây dựng cơ sở. Thứ hai, đây là đơn vị cơ động của vùng Nam Đông Dương;
chính vì vậy mà năm 1979 Quân đoàn 4 mới đi tiên phong tiến vào giải phóng Phnôm Pênh.
Sau khi thành lập, vào ngày 12 tháng 12 năm 1974, Quân đoàn 4 tiến hành đánh chiếm và giải phóng
toàn bộ tỉnh Phước Long. Đây là trận đánh rất có ý nghĩa chiến lược, vì qua đó, ta biết được tình hình
mạnh yếu của địch, cũng như thấy được thời cơ đã đến mà Trung ương đề ra sách lược mới. Tiếp theo
đó, Quân đoàn 4 tiến đánh Bình Long qua bắc Tây Ninh, Dầu Tiếng, Chơn Thành; đánh từ Mỏ Vẹt đến
La Ngà qua Hoài Đức, Tánh Linh, Bà Rịa để hình thành bàn đạp bao vây Sài Gòn từ nhiều hướng. Sau
chiến thắng Dầu Tiếng tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 9 được lệnh tách khỏi Quân đoàn 4 chuyển về làm
lực lượng nòng cốt cho Đoàn 232 chiến đấu phía tây nam Sài Gòn. Bước vào Chiến dịch Hồ Chí
Minh, phiên chế Quân đoàn 4 có ba sư chủ lực là Sư đoàn 7, Sư đoàn 341 và Sư đoàn 6 được thành
lập từ hai trung đoàn chủ lực của Quân khu 7.
- Trận đánh Xuân Lộc nổi tiếng của Quân đoàn 4, theo Thượng tướng, có vai trò như thế nào
trong toàn bộ Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử?
- Trận Xuân Lộc kéo dài 10 ngày từ 09 tháng 4 đến 19 tháng 4 năm 1975 là trận đánh mở đầu cho
chiến dịch và là trận đánh lớn nhất, quyết liệt nhất, quan trọng nhất trong toàn bộ chiến dịch. Thứ nhất,
địch mất Quân khu 1 và Quân khu 2 nên dồn quân về đây. Thứ hai, Đại tướng Weyand, Tham mưu
trưởng Lục quân Mỹ và là cựu Tổng tư lệnh quân Mỹ ở Đông Dương, được lệnh Nhà Trắng bay sang
lập phòng tuyến cố thủ Sài Gòn, xem Xuân Lộc là “cánh cửa thép”, lá chắn cuối cùng để tìm một giải
pháp chính trị. Mất Xuân Lộc là mất tất cả. Do đó, sau khi Xuân Lộc bị quân ta chiếm thì tướng
Weyand liền lên máy bay chuồn về Mỹ, kéo theo tướng tá chế độ Sài Gòn bỏ chạy, Tổng tham mưu
trưởng chạy, Tổng thống chạy… Sau Xuân Lộc, Quân đoàn 4 tiếp tục đánh chiếm Trảng Bom, Hố Nai,
Biên Hoà, Sở chỉ huy Quân đoàn 3 của nguỵ, sân bay Biên Hoà; rồi tiến thẳng vào Sài Gòn đánh
chiếm Bộ Quốc phòng, dinh Gia Long, Bộ tư lệnh Hải quân, kho xăng Nhà Bè...
- Thượng tướng có mặt tại dinh Độc Lập vào lúc nào?
- 13 giờ 30' ngày 30 tháng 4 năm 1975. Trước đó, 12 giờ 30', Đại đội anh hùng của Sư đoàn 7 do
Chính trị viên Hoàng Cao Đại chỉ huy với bốn xe tăng dẫn đầu đã tiến vào dinh Độc Lập. Khi tôi vào,
được biết Dương Văn Minh cùng nội các của ông ta từ sáng sớm đến lúc ấy vẫn chưa ăn uống gì. Tất
nhiên, họ sợ hãi không dám ngỏ lời. Tôi liền bảo họ: Các ông có thể nhờ người nhà đưa cơm nước và
đồ cá nhân cần dùng tới, chứ đói sao chịu nổi… Và đêm ấy, tôi cùng anh em binh lính nằm ngay trên
hiên dinh Độc Lập nghỉ ngơi. Dù đang đói ngủ nhưng tôi không tài nào chợp mắt được. Đã nằm trong
dinh Độc Lập rồi mà tôi cứ ngỡ mình đang mơ !
- Thưa Thượng tướng, có ý kiến cho rằng việc đầu hàng vô điều kiện của Tổng thống Dương Văn
Minh là hành động có lợi cho đất nước cho cách mạng, Thượng tướng nghĩ sao?
- Việc Dương Văn Minh lên làm Tổng thống chế độ Sài Gòn là con bài cuối cùng của Mỹ nhằm cản
bước tiến quân ta, tìm một giải pháp chính trị có lợi cho chúng. Theo tôi, hành động đầu hàng của
Dương Văn Minh là việc phải làm, không thể khác được, khi quân ta đã tiến đến nơi.
- Trong chiến dịch này, Quân đoàn 4 của Thượng tướng bắt sống bao nhiêu tướng lĩnh của đối
phương?
- Khi ở Sóng Thần, anh em bắt sống Chuẩn tướng Lê Minh Đảo - Sư trưởng 18, còn khi vào Sài Gòn
thì bắt sống Trung tướng Lâm Văn Phát - Tư lệnh Biệt khu thủ đô.
- Là Phó chủ tịch Uỷ ban Quân quản Sài Gòn sau khi thành phố được giải phóng, xin Thượng
tướng cho biết vài nét về nhiệm vụ lúc đó?
- Sau khi Sài Gòn được giải phóng, Uỷ ban Quân quản được thành lập do anh Trần Văn Trà làm Chủ
tịch, tôi làm Phó chủ tịch thường trực, anh Võ Văn Kiệt, anh Mai Chí Thọ, anh Cao Đăng Chiếm, anh
Trần Văn Danh… làm Phó chủ tịch. Nhiệm vụ chủ yếu lúc bấy giờ là phục hồi trật tự, ổn định đời sống
nhân dân, cho cải tạo lâu dài và tại chỗ hàng triệu tướng tá, quân lính, viên chức của chế độ cũ…
- Theo Thượng tướng, điều gì tạo nên sức mạnh quyết định để quân ta chiến thắng?
- Đó là đường lối chính trị đúng đắn. Ngoài ra, ta còn hơn đối phương về nghệ thuật chiến tranh.
- Thưa Thượng tướng, trong đời làm quân rồi làm tướng của mình, những tướng lĩnh nào của Việt
Nam đem lại cho Thượng tướng sự quí mến nhất?
- Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Hai ông này là bậc thầy của tôi. Đại
tướng Võ Nguyên Giáp bồi dưỡng cho tôi từ khi tôi còn là Tiểu đoàn trưởng. Sau khi chiến thắng Đông
Khê, lần đầu tiên tôi được gặp Bác Hồ, cũng là lần đầu tôi gặp Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên
Giáp. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người mà tôi có dịp gần gũi nhiều khi vào Nam. Anh ấy là một
tướng tài, là một Uỷ viên Bộ chính trị trẻ và là người nâng đỡ rất nhiều đối với thế hệ chúng tôi những người lính xuất thân từ tầng lớp nông dân nghèo, không có trình độ học vấn, nhưng có bản lĩnh
và kinh nghiệm qua thực tế chiến trường, dám xả thân vì cách mạng.
- Còn những người bạn chiến đấu thân thiết nhất của Thượng tướng?
- Anh Lê Thám, anh Vân Sì của tiểu đội đầu tiên. Sau này về Sư đoàn 312 thì có anh Lê Trọng Tấn,
Trần Độ, Nam Long, Trần Quân Lập, Thăng Bình… Khi tôi vào Nam thì có anh Nguyễn Chí Thanh,
Trần Văn Trà. Ngoài ra, thời gian ở Sư đoàn 9 tôi cũng rất thân với anh Lê Văn Tưởng (Hai Trân). Ôi,
còn bạn chiến đấu thì nhiều lắm.
- Thượng tướng có thể kể đôi nét về tướng Lê Trọng Tấn được không?
-Anh Tấn vừa là bạn rất thân vừa là cấp trên của tôi. Anh ấy thông minh, quả cảm, rất được bộ đội yêu
mến. Tài chỉ huy chiến dịch của anh khó ai sánh bằng. Tôi rất bất ngờ và đau buồn khi nghe tin anh đột
ngột từ trần lúc đang là Đại tướng Tổng tham mưu trưởng quân đội ta.
- Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tướng Hoàng Thế Thiện là Chính uỷ Quân đoàn 4 do Thượng
tướng làm Tư lệnh…
- Vâng. Anh Hoàng Thế Thiện vốn được giác ngộ cách mạng trước tôi. Thời tôi còn là Đại đội trưởng
ở Quân khu 10 trong kháng chiến chống Pháp thì anh Thiện đã là Chính uỷ đầu tiên Trung đoàn Sông
Lô, kiêm Trưởng phòng chính trị Quân khu 10. Sau này anh ấy trở thành Chính uỷ Sư đoàn 304, rồi
Chính uỷ Bộ tư lệnh phòng không - Không quân mà anh Phùng Thế Tài là Tư lệnh.
Anh Thiện là một người hoạt bát, có vóc dáng đẹp, là một chính uỷ giỏi lại có khả năng về quản lý
kinh tế. Vì vậy, hoà bình lập lại, sau thời gian sang Campuchia làm chuyên gia, anh Thiện được điều
về nước làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục kinh tế. Trước khi nghỉ hưu, anh
ấy được biệt phái sang làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ lao động - Thương binh và xã hội. Tôi nhớ hoài kỷ
niệm đêm 30 tháng 4 năm 1975, tôi - Tư lệnh và anh Thiện - Chính uỷ Quân đoàn 4 cùng nằm trò
chuyện và ngủ ngay ngoài hiên dinh Độc Lập. Không mùng mền chiếu gối. Sáng dậy, muỗi đốt đỏ cả
người. Chúng tôi đùa, muỗi Sài Gòn kinh quá ! Sau này, mỗi lần gặp nhau, anh Thiện cũng hay nhắc lại
kỷ niệm ấy. Cả hai cười vang.
- Theo Thượng tướng, hạnh phúc lớn nhất của người lính là gì?
- Là hoàn thành nhiệm vụ được giao
- Còn nỗi đau lớn nhất?
-Là không hoàn thành nhiệm vụ. Làm người lính chẳng có gì khổ tâm hơn điều đó.
- Nếu Tổ quốc gặp phải cơn nguy biến, Thượng tướng có tin rằng thế hệ trẻ hiện nay đủ khả năng
bảo bệ vững chắc thành quả thế hệ trước để lại?
-Tôi tin. Bởi người Việt Nam ở thế hệ nào cũng có lòng yêu nước, tự hào dân tộc. Thế hệ trẻ bây giờ
lớn lên trong thời bình, có điều kiện hơn chúng tôi rất nhiều. Bạn trẻ bây giờ cần ước mơ. Và bất cứ
người lính nào cũng đều cần có mơ ước trở thành một vị tướng. Để thực hiện được điều đó, không có
con đường nào khác hơn là hãy lăn xả vào cuộc sống, trường đời. Thời thế sẽ tạo anh hùng! Nhưng từ
đây đến năm 2000 thì đất nước chưa có chiến tranh đâu.
- Nếu như được trở lại từ đầu, thì Thượng tướng…
- Tôi sẽ vẫn chọn con đường binh nghiệp. Tại một cuộc họp mặt nhân kỷ niệm ngày thành lập Trung
đoàn Sông Lô, tôi cũng đã nói rằng: Tôi, một người lính - người lính từ khi còn chưa biết tình yêu là
cái gì, đến nay đã trở thành một cụ già, chưa có lúc nào tôi cảm thấy ân hận vì sự lựa chọn đường đã
đi của mình. Quân đội là trường học lớn - phải nói là trường đại học tổng hợp. Nếu có phép mầu cho
tôi trở lại tuổi hai mươi, tôi vẫn dứt khoát chọn: Cuộc đời binh nghiệp!
(Đôi mắt ông bỗng trở nên rực sáng hơn cùng nụ cười vang ngân).
- Thế Thượng tướng biết đến “tình yêu là cái gì” từ khi nào?
- Khi về thủ đô Hà Nội, rồi trở ra Chiến khu Việt Bắc. Lúc ấy, tôi có quen một cô gái Hà Nội bán hàng
tạp hóa. Gái Hà thành thì anh biết rồi, khá xinh (cười)! Chúng tôi dự định tổ chức đám cưới với nhau,
nhưng vì quân Pháp bao vây ráo riết, cô ấy đành ở lại Hà Nội. Không biết cuộc chiến đấu bao giờ mới
kết thúc, sợ cô ấy khổ, nên cuối cùng tôi quyết định cắt đứt quan hệ. Tình yêu lứa đôi thời chiến là như
thế. Luôn phải sẵn sàng chịu đựng sự hy sinh !
Mãi sau này khi tôi đã ba mươi bốn tuổi, qua anh Kim Ngọc - cha đẻ của khoán hộ gia đình trong nông
nghiệp, nguyên là Bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Phú, tôi mới quen cô Thành Kiều Vượng, là vợ tôi bây giờ. Lúc
ấy, vợ tôi là cán bộ ngành thuế, còn bố vợ làm bên công an ở Vĩnh Phú. Biết nhau nhưng ít có thời gian
gặp nhau. Chúng tôi cưới năm 1955. Cưới xong là tôi lên đường đi công tác ngay. Trải qua mấy mươi
năm chung sống bên nhau trên mọi miền đất nước, bây giờ chúng tôi đã nghỉ hưu, sống với con cháu.
Chúng tôi có 5 con, tất cả đều phục vụ trong quân đội. Nghĩa là cả gia đình đều là lính. Bà nhà tôi
cũng là Đại uý về hưu. Năm 1992, nhân sinh nhật lần thứ 60 của bà nhà, tôi có làm tặng bà bài thơ vui:
Đời em là một giấc mơ
Mơ chồng thắng trận, mơ cờ đảng viên
Chiến tranh mấy mươi năm liền
Mà em vẫn giữ bình yên như người
Đến nay tuổi đã sáu mươi
Năm con bảy cháu mừng vui bên bà
Tuổi em là tuổi con gà
Tuổi anh con khỉ nhưng mà đẹp đôi
Tuy rằng tóc bạc da mồi
Chúng ta vẫn giữ lứa đôi vẹn tròn
Còn trời con nước còn non
Có dân có đảng ta còn sống lâu
Anh thấy tướng mà làm thơ như vậy có hay không ! (Cười vang).
- Mối tình của ông bà có công lớn của “ông mai” Kim Ngọc. Thượng tướng có nghĩ việc phục
hồi và phong Anh hùng Lao động cho Kim Ngọc khi ông không còn nữa, là quá muộn?
- Muộn còn hơn không. Tôi thực sự xúc động và vui mừng khi nghe tin Kim Ngọc được phục hồi
công trạng. Anh ấy nguyên là Thượng tá chuyển từ Quân khu Việt Bắc về Vĩnh Phú làm công tác chính
quyền. Một con người có dáng vóc tầm thước, tính cách nhã nhặn, được đồng đội và nhân dân tin yêu,
cả khi phải chịu kỷ luật oan ức. Tôi có gặp lại Kim Ngọc một lần trước lúc anh mất. Anh vẫn hết sức
lạc quan tin vào sự đúng đắn của phương pháp khoán hộ nông nghiệp do anh đề xướng!
- Thưa, cuộc sống hiện nay của Thượng tướng thế nào?
-Bình thường như mọi người. Lương Thượng tướng một triệu đồng. Lương hưu bà nhà hơn ba trăm
ngàn đồng. Cả hai cộng lại cũng đủ trả tiền điện nước, nhà thuê cùng cơm rau qua ngày. Khối người
lương còn thấp hơn mình nhiều mà. So với thời kháng chiến thì bây giờ tươm tất hơn nhiều.
- Trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình, thời gian nào Thượng tướng cảm thấy mình đối mặt
với khó khăn nhất?
- Thời làm Tổng thanh tra quân đội.
- Vì sao?
-Luôn luôn phải xử lý, giải quyết hàng vạn đơn thư khiếu tố, khiếu nại. Mà điều quan trọng là làm sao
cho thật dân chủ, công bằng, có tình có lý thì không phải dễ. Khó khăn lắm anh ạ!
- Thượng tướng suy nghĩ gì về tình trạng tham nhũng đang hoành hành hiện nay.
- Có nhiều nguyên do, nhưng theo tôi, nguyên do chủ yếu vẫn là sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ
sở thiếu chặt chẽ, triệt để. Vì vậy, một số cán bộ đảng viên thoái hóa đã lợi dụng sơ hở mà tham ô,
tham nhũng, tác oai tác quái.
- Hiện nay sức khỏe của Thượng tướng thế nào?
- Trong chiến tranh tôi bị thương đến 5 lần, nên sức khỏe không được tốt lắm. Tôi là người đi nhiều,
làm việc không biết mệt, ăn uống chẳng kiêng cữ gì nhiều. Hiện nay, sáng sớm tôi cũng thức dậy tập
dưỡng sinh cho khí huyết lưu thông. Tôi vẫn thường xuyên đọc, nghiên cứu sách báo. Tôi cũng vừa
hoàn thành tập hồi ký Chặng đường mười ngàn ngày cho xuất bản.
- Thượng tướng có tiên đoán mình sống được mấy mươi năm nữa?
- Tôi cố gắng sống ngoài tám mươi là tốt rồi. Thời đánh nhau tôi nhiều lần bị thương nặng, có một lần
đã chết nửa tiếng đồng hồ, anh em khiêng chạy về, nhưng vẫn không chết (cười).
*
Quên xem đồng hồ, nên theo dòng chảy câu chuyện, cả Thượng tướng Hoàng Cầm lẫn chúng tôi
không nghĩ rằng đã quá 12 giờ 30. Bất giác tôi nhìn lên vách, thấy tấm ảnh Chủ tịch Tôn Đức Thắng cỡ
lớn uy nghi giữa bàn thờ do tỉnh Tây Ninh tặng Thượng tướng. Dường như hiểu được sự phân vân của
tôi, Thượng tướng bảo: "Ảnh không gian ba chiều đấy. Anh đứng giữa sẽ thấy chân dung Bác Hồ, đứng
bên trái ảnh sẽ thấy chân dung Bác Tôn, còn đứng bên phải sẽ thấy ảnh cố Tổng bí thư Lê Duẩn". Rồi
ông trỏ tay sang hướng khác, nở nụ cười hồn nhiên: "Đây là Huân chương Hồ Chí Minh, tôi được tặng
hồi năm 1993; huân chương mà trước đây chỉ khi nào vào quan tài rồi mới có được!". Âm giọng vị
tướng càng trở nên ấm áp hơn khi ông bắt tay, tiễn chúng tôi ra đến cổng. Trong đôi mắt chân tình và
bàn tay cứng rắn, khô ráp của Thượng tướng Hoàng Cầm, như vẫn hừng hực khí thế của một trái tim
người lính sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc.
Vị tướng còn khoe rằng vừa làm được một bài thơ mới hẹn dịp đọc cho nhau nghe. Là vị tuớng trận
mạc mà lại rất mê thi ca. Thật đáng quý. Sự lãng mạn ở tướng Hoàng Cầm làm tôi nhớ đến những vị
tướng "nghệ sĩ” như Nguyễn Bình, Nguyễn Sơn, Hoàng Văn Thái, Trần Văn Trà, Huỳnh Văn Nghệ,
Đinh Đức Thiện, Lê Hai,... và vi tướng đồng hương của ông là Nguyễn Đan Thành - người từng là bạn
thợ may với tướng Lê Trọng Tấn và Trần Đăng Ninh thời trai trẻ. Nếu như Hoàng Cầm là tướng trận
lẫy lừng thì Nguyễn Đan Thành là tướng nuôi quân nổi tiếng từ Điện Biên Phủ đến dinh Độc Lập.
Tướng Đan Thành sinh năm 1916 tại Hà Đông, trước khi qua đời ở tuổi bát tuần, ông đã làm hơn tám
trăm bài thơ và in thành ba tập. Thơ tướng Nguyễn Đan Thành có nhiều bài rất độc đáo chẳng hạn như
bài khen bạn lính già một cách hóm hỉnh :
Tính ông không rượu khôngtrà
Chắc giờ cái khoản đàn bà cũng không....
Rõ ràng, không những biết cầm súng chiến đấu vì độc lập tự do hạnh phúc cho Tổ quốc, mà mỗi vị
tướng mỗi người lính Việt Nam còn mang trong trái tim mình dòng máu nghệ sĩ !
Tân Bình, tháng 3 năm 1995
02 - Thượng tướng NGUYỄN MINH CHÂU
Từ một tiểu đội trưởng hoạt động độc lập, Nguyễn Minh Châu trở thành một "ông lớn” từng là "nỗi
ám ảnh kinh hoàng" đối với kẻ thù ở chiến trường Nam Trung Bộ và Tây Nguyên suốt hai cuộc kháng
chiến. Tướng Nguyễn Minh Châu là vị chỉ huy trận đánh chiếm đồn Phú Hài ở lầu Ông Hoàng bằng
chiến thuật kỳ tập mở ra cục diện mới trên chiến trường Bình Thuận lẫn Quân khu 6, rồi chỉ huy trận
phục kích Dăkp...
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
LỜI TỰA
01 - Thượng tướng HOÀNG CẦM
02 - Thượng tướng NGUYỄN MINH CHÂU
03 - Trung tướng ĐỒNG VĂN CỐNG
04 - Thiếu tướng TRẦN VĂN DANH
05 - Chuẩn đô đốc NGUYỄN DƯỠNG
06 - Trung tướng LÊ TỰ ĐỒNG
07 - Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP
08 - Thiếu tướng PHAN KHẮC HY
09 - Thiếu tướng TÔ KÝ
10 - Thiếu tướng DŨNG MÃ
11 - Thiếu tướng TRẦN ĐẠI NGHĨA
12 - Trung tướng ĐỒNG SĨ NGUYÊN
13 - Trung tướng DƯƠNG CỰ TẨM
14 - Thượng tướng TRẦN VĂN TRÀ
15 - Trung tướng LÊ VĂN TRI
16 - Thượng tướng TRẦN NAM TRUNG
17 - Thiếu tướng BÙI CÁT VŨ
18 - Trung tướng NGUYỄN HỮU XUYẾN
PHAN HOÀNG VỚI CẢM ĐỀ VỀ CÁC VỊ TƯỚNG
LỜI TỰA
Tôi đã đọc từng bài viết về các tướng lĩnh quân đội nhân dân Việt Nam của Phan Hoàng trên
từng số tạp chí Kiến thức ngày nay, với tôi vừa thú vị vừa bổ ích.
Nhìn lại tác phẩm văn học ta viết về hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nhân vật chính nổi
bật, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc là những chiến sĩ cầm súng, là các cô du
kích, là cán bộ hoạt động trong lòng địch, chúng ta rất ít gặp nhân vật là các vị tướng, nếu có thì
nhân vật ấy chỉ thoáng qua, rất mờ nhạt Trong lúc ấy, ở ngoài đời những danh tướng là những con
người đáng ghi trong lịch sử.
Chúng ta, ai cũng biết rằng: bất cứ cuộc chiến tranh nào, bất cứ ở đâu và từ xưa đến nay, chiến
tranh không thể thiếu các vị tướng. Chính họ là những người góp phần quan trọng, nếu không nói
là quyết định sự thành bại của các cuộc chiến.
Với tư cách là người đọc, nhiều lúc tôi khao khát muốn được biết về con người, con người
tướng, con người đời thường, con người ngoài trận mạc, con người trong gia đình và bổn phận
của người chồng, người cha..., rất muốn biết và chia sẻ tâm trạng của một vị tướng trước và sau
những trận đánh. Không có một trận đánh nào mà không có chiến sĩ hi sinh. Những vị tướng nghĩ
gì về sanh mạng của hàng ngàn chiến sĩ dưới sự chỉ huy của mình.
Văn học viết về chiến tranh, mảng này như còn bỏ trống nếu không nói là thiếu sót. Vì sao ? Tôi
nghĩ - chẳng biết có đúng hay không, đội ngũ nhà văn của ta, phần lớn xuất thân từ quân đội, nhà
văn không chỉ thông cảm hay chia sẻ mà nhà văn cùng một số phận với người chiến sĩ. Trong đời
sống hàng ngày, nhà văn và chiến sĩ là mối quan hệ tình đồng đội, tình bạn bè. Nhờ đó, nhà văn đã
có đủ chất liệu sống từ thực tế mà xây dựng nhân vật cho tác phẩm của mình.
Đối với các vị tướng thì nhà văn không có được mối quan hệ mật thiết như chiến sĩ và, các cấp
chỉ huy trực tiếp của nhà văn chưa phải là tướng. Hình như chưa có nhà văn nào là bạn của một vị
tướng, và cũng hình như chưa có vị tướng nào có một người bạn thân là nhà văn. Chính cái
khoảng cách này mà nhà văn không có đủ vốn sống để tạo thành nhân vật.
Để bù lại phần nào trong cái khoảng trống ấy, tạp chí Kiến thúc ngày nay đã có sáng kiến ghi
chép lại (một phần nào) về cuộc đời của các tướng lĩnh. Đây chưa phải là tác phẩm văn học,
nhưng những bài phỏng vấn do Phan Hoàng thực hiện đã thuyết phục tôi và bạn đọc vì sự trung
thực, xúc cảm của tôi không bị lừa dối, sự xúc cảm của tôi cũng chân thật như những tiếng nói
chân thật, giản dị và gần gũi của các vị tướng.
Những bài phỏng vấn của Phan Hoàng đăng rải rác trên chuyên mục "Mỗi kỳ một nhân vật "
của Kiến thức ngày nay được gom lại thành lập Phỏng vấn các tướng lĩnh Việt Nam, với tôi là một
quyển sách quí cần được phổ biến rộng rãi đến bạn đọc. Tôi cũng rất mong tác giả viết tiếp đề tài
sống động này, để tôi và bạn đọc được đọc thêm về cuộc đời và sự nghiệp đáng kính trọng của các
tướng lĩnh quân đội nhân dân Việt Nam chúng ta.
Ngày 20. 4. 1997
Nhà văn NGUYỄN QUANG SÁNG
01 - Thượng tướng HOÀNG CẦM
Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, lang thang rày đây mai đó, phải đi lính khố xanh cho Pháp để kiếm sống,
Hoàng Cầm được giác ngộ cách mạng, trở thành một tướng lĩnh nổi tiếng của quân đội, có mặt ở nhiều
"điểm nóng" quan trọng trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Những đội quân chủ lực
thiện chiến do tướng Hoàng Cầm chỉ huy luôn là nỗi kinh hoàng của quân thù. Cuộc đời binh nghiệp
gian khổ và kiên cường của ông trải từ chiến khu Việt Bắc ngút ngàn với chiến thắng Điện Biên lẫy
lừng đến những cánh rừng của miền Đông đất đỏ, từ đường phố Sài Gòn với Chiến dịch Hồ Chí Minh
lịch sử đến đường phố Phnôm Pênh giải phóng nước bạn khỏi nạn diệt chủng. Ông luôn được giao
nhiều trọng trách, cả thời chiến lẫn thời bình: sư đoàn trưởng Sư đoàn 312, sư đoàn trưởng Sư đoàn 9,
phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, tư lệnh kiêm chính ủy Quân
đoàn 4, phó tư lệnh Đoàn 719, tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu 4,... Trước khi trở thành “tướng về
hưu", ông giữ chức Tổng thanh tra quân đội hàm Thượng tướng, được Nhà nước tặng thưởng Huân
chương Hồ Chí Minh. Bản lĩnh và kinh nghiệm trận mạc của tướng Hoàng Cầm là tài sản quí giá của
Quân đội nhân dân Việt Nam.
Lịch sử quân đội trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc xuất hiện một sự trùng hợp ngẫu
nhiên thú vị: có ba người lính cùng mang tên Hoàng Cầm đều rất nổi tiếng. Một Hoàng Cầm nhà thơ,
tác giả Bên kia sôngĐuống, Mưa Thuận Thành, Lá diêu bông,... từng là trưởng Đoàn Văn công Tổng
cục Chính trị. Một Hoàng Cầm anh nuôi, sáng chế bếp Hoàng Cầm không khói huyền thoại từ thời
kháng chiến chống Pháp. Và một Hoàng Cầm danh tướng, thi thoảng cũng làm thơ... tình dành tặng vợ !
Tướng Hoàng Cầm thường được đồng đội gọi thân mật Năm Thạch, tên thật là Đỗ Văn Cầm, tuổi
Thân sinh ngày 30 tháng 4 năm 1920 ở xã Cao Sơn, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây. Theo phong trào
trong quân đội, sau Cách mạng tháng Tám nhiều người đã lấy họ Hoàng như Hoàng Văn Thái, Hoàng
Sâm, Hoàng Minh Thảo, Hoàng Mười, Hoàng Điền, Hoàng Kiện, Hoàng Tùng, Hoàng Đan, Hoàng
Phương,... và cái tên Hoàng Cầm cũng xuất hiện từ đó. Năm 1960, Hoàng Cầm được phong quân hàm
Đại tá. Năm 1974, ông được thăng Thiếu tướng khi đang chiến đấu tại chiến trường Nam Bộ. Năm
1982, trong lúc chỉ huy bộ đội tình nguyện ở Campuchia, Hoàng Cầm được thăng Trung tướng. Năm
1987, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quốc tế từ biên giới Lào - Thái trở về, ông được vinh thăng Thượng
tướng, trở thành Tổng thanh tra quân đội và thanh tra Bộ Quốc phòng. Ông còn được bầu làm Ủy
viênBan chấp hành Trung ương Đảng khóa V và khóa VI.
Hoàng Cầm là vị chỉ huy rất có duyên với những trận đánh lớn. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ,
ông là trung đoàn trưởng Trung đoàn Sông Lô trực tiếp bắt sống tướng De Castrie. Đến Chiến dịch Hồ
Chí Minh, Hoàng Cầm là tư lệnh Quân đoàn 4 đánh mở "cánh cửa thép" Xuân Lộc, tiêu điểm quan
trọng nhất, ác liệt nhất trên đường đại quân tiến vào giải phóng Sài Gòn; rồi chịu trách nhiệm tiếp quản
dinh Độc Lập cùng nội các Tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng hòa. Chiến tranh biên
giới Tây Nam xảy ra, Tư lệnh Hoàng Cầm là vị chỉ huy cao nhất có mặt đầu tiên ở thủ đô Phnôm Pênh
khi cùng Quân đoàn 4 tiến sang giải phóng nước bạn khỏi ách diệt chủng Pol Pot - Ieng Sary. Chưa hết.
Chỉ một thời gian ngắn sau, tướng Hoàng Cầm lại hành quân sang "điểm nóng" tranh chấp ở biên giới
Tây Nam Lào, toàn quyền chỉ huy bộ đội tình nguyện giữ yên bờ cõi cho nước bạn suốt năm năm liền.
Một trưa tháng Ba, tôi cùng đồng nghiệp Huỳnh Hiếu của báo Phú Yên đến thăm ông và xin "cái
hẹn" cho một cuộc phỏng vấn. Không ngờ, tướng Hoàng Cầm đề nghị làm việc ngay "để khỏi mất công
nhà báo" ! Tác phong đầy chất nhà binh của vị tướng già, gây cho chúng tôi sự cảm kích lớn lao.
- Thưa Thượng tướng, trước khi bước vào con đường binh nghiệp, thời niên thiếu của Thượng
tướng gắn bó nơi đâu?
- Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở Hà Tây. Mẹ mất năm tôi bốn tuổi, đến năm mười hai
tuổi thì cha mất. Nhà có bốn anh em, do hoàn cảnh như vậy, mỗi người phân tán lưu lạc một nơi. Tôi
đi ở đậu cho người ta tới năm năm, dưới hình thức con nuôi, nhưng cách đối xử và công việc chẳng
khác đứa ở. Khi làm mộ táng cho cha mẹ tôi, họ đưa ba đồng tiền Đông Dương, đến khi tôi bỏ đi thì
họ đòi lại. Tôi ở nhờ làm thuê hết nhà này sang nhà khác, cho đến năm hai mươi tuổi tôi bỏ làng ra đi,
lưu lạc từ Hà Đông đến Hà Nội với nhiều nghề lặt vặt kiếm sống.
Cuộc sống vô gia cư của một anh nhà quê không đồng dính túi buộc tôi phải đi lính khố xanh cho
Pháp. Hai năm trấn ải ở Lai Châu, chuyển về Hà Nội thì tôi bỏ lính. Nhật đảo chính Pháp, được cán
bộ Việt Minh tuyên truyền, tôi tham gia hoạt động cách mạng. Từ Cách mạng tháng Tám tôi vào Cứu
quốc quân, Vệ quốc đoàn, Giải phóng quân tham gia mặt trận Sơn La năm 1947. Lúc bấy giờ, tôi vẫn
nghĩ chỉ tham gia quân đội một thời gian rồi quay về quê kiếm vốn buôn bán làm ăn…
- Nhưng rồi cuối cùng Thượng tướng đã gắn bó cả đời mình với con đường binh nghiệp. Những
ngày đầu tiên gia nhập quân đội cách mạng để lại ấn tượng gì trong tâm khảm Thượng tướng?
-Lớp thanh niên chúng tôi là lớp thanh niên mất nước, được giác ngộ tinh thần dân tộc, đánh đổ thực
dân, cứu nước. Họ rất bình dị và trong sáng, sẵn sàng hi sinh đến giọt máu cuối cùng. Sau này, chúng
tôi mới được giác ngộ giai cấp, kết nạp vào Đảng. Từ Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm1945 cho đến
cuối năm 1947, chúng tôi đánh giặc chủ yếu từ vũ khí cướp được của giặc. Ăn uống thì dựa vào nhân
dân. Chỉ đến năm 1948 trở đi thì quân ta mới có chế độ về khí tài, lương thực thực phẩm, quân trang
quân dụng… Trong đội quân hỗn hợp ấy, chúng tôi đã lớn lên và trưởng thành. Tôi còn nhớ đôi câu
đối vui ghép đầy đủ tên chiến sĩ tiểu đội đầu tiên của tôi:
Thám Hữu Đào Lan Cầm Thượng Thuý
Thanh Liêm Miêu Miễn Thưởng Vân Sì.
Hiện nay chỉ còn lại tôi, anh Vân Sì và anh Thưởng, nhưng anh Thưởng thì lâu nay cũng bặt tin.
- Gần nửa thế kỉ chinh chiến, những nhiệm vụ chủ yếu nào Thượng tướng từng đảm trách?
- Từ năm 1946 đến 1949 tôi ở Trung đoàn 1 48 tham gia mặt trận Sơn La, đánh nhau với Quốc dân
đảng. Năm 1949 tôi về Trung đoàn Sông Lô (209) làm tiểu đoàn phó, rồi tiểu đoàn trưởng đánh Đông
Khê với quân Pháp. Ngày 12 tháng 9 năm 1950 , khi chuẩn bị cho trận đánh đầu tiên này trong Chiến
dịch Cao Bắc Lạng giải phóng biên giới, tôi là tiểu đoàn trưởng duy nhất được Tổng tư lệnh Võ
Nguyên Giáp cho triệu tập lên sở chỉ huy gặp Bác Hồ. Sau khi nghe tôi báo cáo tình hình chuẩn bị của
tiểu đoàn, Bác hỏi:
- Chú có tin trận này quân ta nhất định thắng không?
- Thưa Bác, cháu tin ạ!
Chiến dịch kết thúc thắng lợi, tôi được cử làm trung đoàn trưởng Trung đoàn Sông Lô, tiếp tục
chiến đấu trên chiến trường Bắc Bộ. Năm 1954 tham gia Chiến dịch Điện Biên
Phủ, trung đoàn tôi là đơn vị chủ lực, bắt sống tướng De Castrie. Sau chiến thắng Điện Biên, tôi về
làm Sư đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 312, khi anh Lê Trọng Tấn và anh Trần Độ chuyển
công tác, tôi lên làm Sư đoàn trưởng kiêm Bí thư Đảng uỷ vào cuối 1954.
Mười năm sau, cuối năm 1964 thì tôi được lệnh vào Nam chiến đấu. Tôi tham gia chỉ huy nhiều
chiến dịch như Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng-Dầu Tiếng, Đường 13, Lộc Ninh, Phước Long… và
cuối cùng là chỉ huy trận đánh Xuân Lộc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trước khi về làm tư
lệnh Quân đoàn 4, tôi được cử phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền
Nam.
Đến năm 1979 tôi đưa Quân đoàn 4 sang giải phóng Campuchia. Năm 1981 tôi lên làm Phó tư lệnh
đoàn 719 mà anh Lê Đức Anh là Tư lệnh, chỉ huy bộ đội làm nghĩa vụ quốc tế ở nước bạn.Tháng 5
năm 1982 tôi về nước nhận nhiệm vụ tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu 4, đưa cả Sư đoàn 341 theo. Bấy
giờ, tình hình Lào bất ổn, tôi được lệnh đưa quân sang đất nước Triệu Voi và ở đây năm năm .Sau đó,
tôi về Hà Nội làm Tổng thanh tra quân đội năm năm nữa rồi mới về nghỉ chờ hưu chữa bệnh. Cuộc đời
binh nghiệp của tôi có thể tạm tóm tắt như thế.
- Vâng, chỉ cần có thế các nhà văn cũng đã đủ tư liệu viết nên một pho sách quí giá; nhưng thưa
Thượng tướng, cuộc đời tướng Hoàng Cầm không chỉ nổi tiếng ở những trận đánh đi vào lịch sử
mà còn được biết đến với nhiều giai thoại kỳ thú. Chẳng hạn như chuyến bí mật vượt đại dương
lần đầu vào Nam chiến đấu cùng với tướng Trần Độ?
- (Cười lớn) Chuyến đi nhớ đời đấy. Một ngày cuối năm 1964, tôi và anh Trần Độ từ Hà Nội bay sang
Quảng Châu, Trung Quốc. Bấy giờ, Trung Quốc đang giúp Campuchia xây dựng tuyến đường sắt
Sihanoukville-Phnôm Pênh. Chúng tôi cải trang thành công nhân máy tàu trên một chuyến tàu biển chở
sắt đường ray sang Campuchia phục vụ công trình trên. Con tàu bắt đầu nhổ neo vào một buổi sáng dày
đặc sương mù, lần lượt vượt qua nhiều “điểm nóng” nguy hiểm, hết Hoàng Sa rồi tới Trường Sa do hải
quân Việt Nam Cộng hoà kiểm soát. Nhằm đánh lạc hướng tình báo địch, con tàu chạy xuống gần đảo
quốc Singapore rồi bẻ lái đột ngột hướng lên cảng Sihanoukville. Hải trình kết thúc an toàn sau một
tuần hồi hộp vượt đại dương.
- Sau đó, Thượng tướng sang chiến trường B2 bằng cách nào?
- Đến đây thì dễ rồi. Đại sứ Trung Quốc tại Campuchia đúng hẹn đi xe hơi xuống cảng. Trên xe có 4
người. Hai người xuống xe để tôi và anh Trần Độ thế vào, chạy về Phnôm Pênh. Tới vùng ngoại ô, cơ
sở của ta bố trí anh Ba Râu chờ đón sang xe chạy thẳng về nhà kho một thương gia Hoa kiều nằm ngay
trung tâm thủ đô. Ít hôm sau, tôi và anh Trần Độ giả Việt kiều đi chơi cuối tuần bằng xe dịch lịch rồi
chạy ù sang hướng biên giới nước ta. Anh Huỳnh Kháng Minh chờ sẵn đón chúng tôi. Ba anh em đèo
nhau bằng “ngựa sắt” theo đường mòn cắt rừng qua ngả Cà Tum về Cục R, đang đóng ở Tân Biên
thuộc Tây Ninh. Anh Huỳnh Khánh Minh về sau được cử làm Thứ trưởng Bộ thông tin tuyên truyền
Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam và đã hy sinh trên đường công tác.
- Được biết, sau đó Thượng tướng hai lần trở lại Hà Nội cũng qua đường Phnôm Phênh.
-Nhưng không phải bằng đường biển nữa mà bằng đường hàng không. Tôi lấy hộ chiếu giả Việt kiều,
mua vé Hãng Air France bay sang Quảng Châu rồi mới quay về Hà Nội. Bọn tình báo địch đâu có ngờ
các tướng “Việt Cộng” gây cho chúng mất ăn mất ngủ ở chiến trường B2, lại có thể ngang nhiên một
cách đàng hoàng, công khai trước mặt chúng như vậy.
- Nghe nói, khi mới đến Phnôm Pênh lần đầu, Thượng tướng còn muốn nghe cả đài miền Bắc…
- Sau này nghĩ lại mới giật mình. Mày mà lúc ấy anh chủ nhà là thương gia Hoa kiều cản kịp thời, bảo
với tôi và anh Trần Độ rằng ở tầng trên đang có địch !
- Thưa Thượng Tướng, là người trực tiếp thành lập và chỉ huy cao nhất của Quân đoàn 4, quân
đoàn chủ lực đầu tiên của Quân giải phóng miền Nam, xin Thượng tướng cho biết vài nét về quân
đoàn này?
- Sau một thời gian vào B2, tôi được lệnh xây dựng Sư đoàn 9 chủ lực đầu tiên của Quân giải phóng
miền Nam. Đây là sư đoàn đàn anh trong cuộc đối đầu với quân Mỹ, về sau được tuyên dương đơn vị
anh hùng. Tôi là Sư đoàn trưởng, còn anh Lê Văn Tưởng là Chính uỷ đầu tiên. Sau đó, tôi được cử làm
Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Miền. Bấy giờ anh Trần Văn Trà là Tư lệnh thay anh Hoàng Văn
Thái. Tôi nhận lệnh thành lập thành lập Quân đoàn 4 vào ngày 20 tháng 7 năm 1974, từ 2 sư đoàn chủ
lực là Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 cùng một số tiểu đoàn binh chủng độc lập. Tôi được phân công làm Tư
lệnh, anh Bùi Cát Vũ - Phó tư lệnh, anh Hoàng Khánh Nghĩa - Tham mưu trưởng, anh Ba Vinh - phụ
trách hậu cần. Đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, anh Hoàng Thế Thiện về làm Chính uỷ. Khi sang
Campuchia thì tôi kiêm luôn Chính uỷ.
- Vai trò Quân đoàn 4 được xác lập ra sao?
- Ngay từ khi thành lập, Quân đoàn 4 đã được giao hai nhiệm vụ chính. Thứ nhất, quân đoàn là đơn
vị chủ lực của B2 (từ Khu 6 trở vào), có nhiệm vụ giải phóng các đô thị lớn, nhất là Sài Gòn, hỗ trợ
du kích chiến tranh, xây dựng cơ sở. Thứ hai, đây là đơn vị cơ động của vùng Nam Đông Dương;
chính vì vậy mà năm 1979 Quân đoàn 4 mới đi tiên phong tiến vào giải phóng Phnôm Pênh.
Sau khi thành lập, vào ngày 12 tháng 12 năm 1974, Quân đoàn 4 tiến hành đánh chiếm và giải phóng
toàn bộ tỉnh Phước Long. Đây là trận đánh rất có ý nghĩa chiến lược, vì qua đó, ta biết được tình hình
mạnh yếu của địch, cũng như thấy được thời cơ đã đến mà Trung ương đề ra sách lược mới. Tiếp theo
đó, Quân đoàn 4 tiến đánh Bình Long qua bắc Tây Ninh, Dầu Tiếng, Chơn Thành; đánh từ Mỏ Vẹt đến
La Ngà qua Hoài Đức, Tánh Linh, Bà Rịa để hình thành bàn đạp bao vây Sài Gòn từ nhiều hướng. Sau
chiến thắng Dầu Tiếng tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 9 được lệnh tách khỏi Quân đoàn 4 chuyển về làm
lực lượng nòng cốt cho Đoàn 232 chiến đấu phía tây nam Sài Gòn. Bước vào Chiến dịch Hồ Chí
Minh, phiên chế Quân đoàn 4 có ba sư chủ lực là Sư đoàn 7, Sư đoàn 341 và Sư đoàn 6 được thành
lập từ hai trung đoàn chủ lực của Quân khu 7.
- Trận đánh Xuân Lộc nổi tiếng của Quân đoàn 4, theo Thượng tướng, có vai trò như thế nào
trong toàn bộ Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử?
- Trận Xuân Lộc kéo dài 10 ngày từ 09 tháng 4 đến 19 tháng 4 năm 1975 là trận đánh mở đầu cho
chiến dịch và là trận đánh lớn nhất, quyết liệt nhất, quan trọng nhất trong toàn bộ chiến dịch. Thứ nhất,
địch mất Quân khu 1 và Quân khu 2 nên dồn quân về đây. Thứ hai, Đại tướng Weyand, Tham mưu
trưởng Lục quân Mỹ và là cựu Tổng tư lệnh quân Mỹ ở Đông Dương, được lệnh Nhà Trắng bay sang
lập phòng tuyến cố thủ Sài Gòn, xem Xuân Lộc là “cánh cửa thép”, lá chắn cuối cùng để tìm một giải
pháp chính trị. Mất Xuân Lộc là mất tất cả. Do đó, sau khi Xuân Lộc bị quân ta chiếm thì tướng
Weyand liền lên máy bay chuồn về Mỹ, kéo theo tướng tá chế độ Sài Gòn bỏ chạy, Tổng tham mưu
trưởng chạy, Tổng thống chạy… Sau Xuân Lộc, Quân đoàn 4 tiếp tục đánh chiếm Trảng Bom, Hố Nai,
Biên Hoà, Sở chỉ huy Quân đoàn 3 của nguỵ, sân bay Biên Hoà; rồi tiến thẳng vào Sài Gòn đánh
chiếm Bộ Quốc phòng, dinh Gia Long, Bộ tư lệnh Hải quân, kho xăng Nhà Bè...
- Thượng tướng có mặt tại dinh Độc Lập vào lúc nào?
- 13 giờ 30' ngày 30 tháng 4 năm 1975. Trước đó, 12 giờ 30', Đại đội anh hùng của Sư đoàn 7 do
Chính trị viên Hoàng Cao Đại chỉ huy với bốn xe tăng dẫn đầu đã tiến vào dinh Độc Lập. Khi tôi vào,
được biết Dương Văn Minh cùng nội các của ông ta từ sáng sớm đến lúc ấy vẫn chưa ăn uống gì. Tất
nhiên, họ sợ hãi không dám ngỏ lời. Tôi liền bảo họ: Các ông có thể nhờ người nhà đưa cơm nước và
đồ cá nhân cần dùng tới, chứ đói sao chịu nổi… Và đêm ấy, tôi cùng anh em binh lính nằm ngay trên
hiên dinh Độc Lập nghỉ ngơi. Dù đang đói ngủ nhưng tôi không tài nào chợp mắt được. Đã nằm trong
dinh Độc Lập rồi mà tôi cứ ngỡ mình đang mơ !
- Thưa Thượng tướng, có ý kiến cho rằng việc đầu hàng vô điều kiện của Tổng thống Dương Văn
Minh là hành động có lợi cho đất nước cho cách mạng, Thượng tướng nghĩ sao?
- Việc Dương Văn Minh lên làm Tổng thống chế độ Sài Gòn là con bài cuối cùng của Mỹ nhằm cản
bước tiến quân ta, tìm một giải pháp chính trị có lợi cho chúng. Theo tôi, hành động đầu hàng của
Dương Văn Minh là việc phải làm, không thể khác được, khi quân ta đã tiến đến nơi.
- Trong chiến dịch này, Quân đoàn 4 của Thượng tướng bắt sống bao nhiêu tướng lĩnh của đối
phương?
- Khi ở Sóng Thần, anh em bắt sống Chuẩn tướng Lê Minh Đảo - Sư trưởng 18, còn khi vào Sài Gòn
thì bắt sống Trung tướng Lâm Văn Phát - Tư lệnh Biệt khu thủ đô.
- Là Phó chủ tịch Uỷ ban Quân quản Sài Gòn sau khi thành phố được giải phóng, xin Thượng
tướng cho biết vài nét về nhiệm vụ lúc đó?
- Sau khi Sài Gòn được giải phóng, Uỷ ban Quân quản được thành lập do anh Trần Văn Trà làm Chủ
tịch, tôi làm Phó chủ tịch thường trực, anh Võ Văn Kiệt, anh Mai Chí Thọ, anh Cao Đăng Chiếm, anh
Trần Văn Danh… làm Phó chủ tịch. Nhiệm vụ chủ yếu lúc bấy giờ là phục hồi trật tự, ổn định đời sống
nhân dân, cho cải tạo lâu dài và tại chỗ hàng triệu tướng tá, quân lính, viên chức của chế độ cũ…
- Theo Thượng tướng, điều gì tạo nên sức mạnh quyết định để quân ta chiến thắng?
- Đó là đường lối chính trị đúng đắn. Ngoài ra, ta còn hơn đối phương về nghệ thuật chiến tranh.
- Thưa Thượng tướng, trong đời làm quân rồi làm tướng của mình, những tướng lĩnh nào của Việt
Nam đem lại cho Thượng tướng sự quí mến nhất?
- Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Hai ông này là bậc thầy của tôi. Đại
tướng Võ Nguyên Giáp bồi dưỡng cho tôi từ khi tôi còn là Tiểu đoàn trưởng. Sau khi chiến thắng Đông
Khê, lần đầu tiên tôi được gặp Bác Hồ, cũng là lần đầu tôi gặp Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên
Giáp. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người mà tôi có dịp gần gũi nhiều khi vào Nam. Anh ấy là một
tướng tài, là một Uỷ viên Bộ chính trị trẻ và là người nâng đỡ rất nhiều đối với thế hệ chúng tôi những người lính xuất thân từ tầng lớp nông dân nghèo, không có trình độ học vấn, nhưng có bản lĩnh
và kinh nghiệm qua thực tế chiến trường, dám xả thân vì cách mạng.
- Còn những người bạn chiến đấu thân thiết nhất của Thượng tướng?
- Anh Lê Thám, anh Vân Sì của tiểu đội đầu tiên. Sau này về Sư đoàn 312 thì có anh Lê Trọng Tấn,
Trần Độ, Nam Long, Trần Quân Lập, Thăng Bình… Khi tôi vào Nam thì có anh Nguyễn Chí Thanh,
Trần Văn Trà. Ngoài ra, thời gian ở Sư đoàn 9 tôi cũng rất thân với anh Lê Văn Tưởng (Hai Trân). Ôi,
còn bạn chiến đấu thì nhiều lắm.
- Thượng tướng có thể kể đôi nét về tướng Lê Trọng Tấn được không?
-Anh Tấn vừa là bạn rất thân vừa là cấp trên của tôi. Anh ấy thông minh, quả cảm, rất được bộ đội yêu
mến. Tài chỉ huy chiến dịch của anh khó ai sánh bằng. Tôi rất bất ngờ và đau buồn khi nghe tin anh đột
ngột từ trần lúc đang là Đại tướng Tổng tham mưu trưởng quân đội ta.
- Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tướng Hoàng Thế Thiện là Chính uỷ Quân đoàn 4 do Thượng
tướng làm Tư lệnh…
- Vâng. Anh Hoàng Thế Thiện vốn được giác ngộ cách mạng trước tôi. Thời tôi còn là Đại đội trưởng
ở Quân khu 10 trong kháng chiến chống Pháp thì anh Thiện đã là Chính uỷ đầu tiên Trung đoàn Sông
Lô, kiêm Trưởng phòng chính trị Quân khu 10. Sau này anh ấy trở thành Chính uỷ Sư đoàn 304, rồi
Chính uỷ Bộ tư lệnh phòng không - Không quân mà anh Phùng Thế Tài là Tư lệnh.
Anh Thiện là một người hoạt bát, có vóc dáng đẹp, là một chính uỷ giỏi lại có khả năng về quản lý
kinh tế. Vì vậy, hoà bình lập lại, sau thời gian sang Campuchia làm chuyên gia, anh Thiện được điều
về nước làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục kinh tế. Trước khi nghỉ hưu, anh
ấy được biệt phái sang làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ lao động - Thương binh và xã hội. Tôi nhớ hoài kỷ
niệm đêm 30 tháng 4 năm 1975, tôi - Tư lệnh và anh Thiện - Chính uỷ Quân đoàn 4 cùng nằm trò
chuyện và ngủ ngay ngoài hiên dinh Độc Lập. Không mùng mền chiếu gối. Sáng dậy, muỗi đốt đỏ cả
người. Chúng tôi đùa, muỗi Sài Gòn kinh quá ! Sau này, mỗi lần gặp nhau, anh Thiện cũng hay nhắc lại
kỷ niệm ấy. Cả hai cười vang.
- Theo Thượng tướng, hạnh phúc lớn nhất của người lính là gì?
- Là hoàn thành nhiệm vụ được giao
- Còn nỗi đau lớn nhất?
-Là không hoàn thành nhiệm vụ. Làm người lính chẳng có gì khổ tâm hơn điều đó.
- Nếu Tổ quốc gặp phải cơn nguy biến, Thượng tướng có tin rằng thế hệ trẻ hiện nay đủ khả năng
bảo bệ vững chắc thành quả thế hệ trước để lại?
-Tôi tin. Bởi người Việt Nam ở thế hệ nào cũng có lòng yêu nước, tự hào dân tộc. Thế hệ trẻ bây giờ
lớn lên trong thời bình, có điều kiện hơn chúng tôi rất nhiều. Bạn trẻ bây giờ cần ước mơ. Và bất cứ
người lính nào cũng đều cần có mơ ước trở thành một vị tướng. Để thực hiện được điều đó, không có
con đường nào khác hơn là hãy lăn xả vào cuộc sống, trường đời. Thời thế sẽ tạo anh hùng! Nhưng từ
đây đến năm 2000 thì đất nước chưa có chiến tranh đâu.
- Nếu như được trở lại từ đầu, thì Thượng tướng…
- Tôi sẽ vẫn chọn con đường binh nghiệp. Tại một cuộc họp mặt nhân kỷ niệm ngày thành lập Trung
đoàn Sông Lô, tôi cũng đã nói rằng: Tôi, một người lính - người lính từ khi còn chưa biết tình yêu là
cái gì, đến nay đã trở thành một cụ già, chưa có lúc nào tôi cảm thấy ân hận vì sự lựa chọn đường đã
đi của mình. Quân đội là trường học lớn - phải nói là trường đại học tổng hợp. Nếu có phép mầu cho
tôi trở lại tuổi hai mươi, tôi vẫn dứt khoát chọn: Cuộc đời binh nghiệp!
(Đôi mắt ông bỗng trở nên rực sáng hơn cùng nụ cười vang ngân).
- Thế Thượng tướng biết đến “tình yêu là cái gì” từ khi nào?
- Khi về thủ đô Hà Nội, rồi trở ra Chiến khu Việt Bắc. Lúc ấy, tôi có quen một cô gái Hà Nội bán hàng
tạp hóa. Gái Hà thành thì anh biết rồi, khá xinh (cười)! Chúng tôi dự định tổ chức đám cưới với nhau,
nhưng vì quân Pháp bao vây ráo riết, cô ấy đành ở lại Hà Nội. Không biết cuộc chiến đấu bao giờ mới
kết thúc, sợ cô ấy khổ, nên cuối cùng tôi quyết định cắt đứt quan hệ. Tình yêu lứa đôi thời chiến là như
thế. Luôn phải sẵn sàng chịu đựng sự hy sinh !
Mãi sau này khi tôi đã ba mươi bốn tuổi, qua anh Kim Ngọc - cha đẻ của khoán hộ gia đình trong nông
nghiệp, nguyên là Bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Phú, tôi mới quen cô Thành Kiều Vượng, là vợ tôi bây giờ. Lúc
ấy, vợ tôi là cán bộ ngành thuế, còn bố vợ làm bên công an ở Vĩnh Phú. Biết nhau nhưng ít có thời gian
gặp nhau. Chúng tôi cưới năm 1955. Cưới xong là tôi lên đường đi công tác ngay. Trải qua mấy mươi
năm chung sống bên nhau trên mọi miền đất nước, bây giờ chúng tôi đã nghỉ hưu, sống với con cháu.
Chúng tôi có 5 con, tất cả đều phục vụ trong quân đội. Nghĩa là cả gia đình đều là lính. Bà nhà tôi
cũng là Đại uý về hưu. Năm 1992, nhân sinh nhật lần thứ 60 của bà nhà, tôi có làm tặng bà bài thơ vui:
Đời em là một giấc mơ
Mơ chồng thắng trận, mơ cờ đảng viên
Chiến tranh mấy mươi năm liền
Mà em vẫn giữ bình yên như người
Đến nay tuổi đã sáu mươi
Năm con bảy cháu mừng vui bên bà
Tuổi em là tuổi con gà
Tuổi anh con khỉ nhưng mà đẹp đôi
Tuy rằng tóc bạc da mồi
Chúng ta vẫn giữ lứa đôi vẹn tròn
Còn trời con nước còn non
Có dân có đảng ta còn sống lâu
Anh thấy tướng mà làm thơ như vậy có hay không ! (Cười vang).
- Mối tình của ông bà có công lớn của “ông mai” Kim Ngọc. Thượng tướng có nghĩ việc phục
hồi và phong Anh hùng Lao động cho Kim Ngọc khi ông không còn nữa, là quá muộn?
- Muộn còn hơn không. Tôi thực sự xúc động và vui mừng khi nghe tin Kim Ngọc được phục hồi
công trạng. Anh ấy nguyên là Thượng tá chuyển từ Quân khu Việt Bắc về Vĩnh Phú làm công tác chính
quyền. Một con người có dáng vóc tầm thước, tính cách nhã nhặn, được đồng đội và nhân dân tin yêu,
cả khi phải chịu kỷ luật oan ức. Tôi có gặp lại Kim Ngọc một lần trước lúc anh mất. Anh vẫn hết sức
lạc quan tin vào sự đúng đắn của phương pháp khoán hộ nông nghiệp do anh đề xướng!
- Thưa, cuộc sống hiện nay của Thượng tướng thế nào?
-Bình thường như mọi người. Lương Thượng tướng một triệu đồng. Lương hưu bà nhà hơn ba trăm
ngàn đồng. Cả hai cộng lại cũng đủ trả tiền điện nước, nhà thuê cùng cơm rau qua ngày. Khối người
lương còn thấp hơn mình nhiều mà. So với thời kháng chiến thì bây giờ tươm tất hơn nhiều.
- Trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình, thời gian nào Thượng tướng cảm thấy mình đối mặt
với khó khăn nhất?
- Thời làm Tổng thanh tra quân đội.
- Vì sao?
-Luôn luôn phải xử lý, giải quyết hàng vạn đơn thư khiếu tố, khiếu nại. Mà điều quan trọng là làm sao
cho thật dân chủ, công bằng, có tình có lý thì không phải dễ. Khó khăn lắm anh ạ!
- Thượng tướng suy nghĩ gì về tình trạng tham nhũng đang hoành hành hiện nay.
- Có nhiều nguyên do, nhưng theo tôi, nguyên do chủ yếu vẫn là sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ
sở thiếu chặt chẽ, triệt để. Vì vậy, một số cán bộ đảng viên thoái hóa đã lợi dụng sơ hở mà tham ô,
tham nhũng, tác oai tác quái.
- Hiện nay sức khỏe của Thượng tướng thế nào?
- Trong chiến tranh tôi bị thương đến 5 lần, nên sức khỏe không được tốt lắm. Tôi là người đi nhiều,
làm việc không biết mệt, ăn uống chẳng kiêng cữ gì nhiều. Hiện nay, sáng sớm tôi cũng thức dậy tập
dưỡng sinh cho khí huyết lưu thông. Tôi vẫn thường xuyên đọc, nghiên cứu sách báo. Tôi cũng vừa
hoàn thành tập hồi ký Chặng đường mười ngàn ngày cho xuất bản.
- Thượng tướng có tiên đoán mình sống được mấy mươi năm nữa?
- Tôi cố gắng sống ngoài tám mươi là tốt rồi. Thời đánh nhau tôi nhiều lần bị thương nặng, có một lần
đã chết nửa tiếng đồng hồ, anh em khiêng chạy về, nhưng vẫn không chết (cười).
*
Quên xem đồng hồ, nên theo dòng chảy câu chuyện, cả Thượng tướng Hoàng Cầm lẫn chúng tôi
không nghĩ rằng đã quá 12 giờ 30. Bất giác tôi nhìn lên vách, thấy tấm ảnh Chủ tịch Tôn Đức Thắng cỡ
lớn uy nghi giữa bàn thờ do tỉnh Tây Ninh tặng Thượng tướng. Dường như hiểu được sự phân vân của
tôi, Thượng tướng bảo: "Ảnh không gian ba chiều đấy. Anh đứng giữa sẽ thấy chân dung Bác Hồ, đứng
bên trái ảnh sẽ thấy chân dung Bác Tôn, còn đứng bên phải sẽ thấy ảnh cố Tổng bí thư Lê Duẩn". Rồi
ông trỏ tay sang hướng khác, nở nụ cười hồn nhiên: "Đây là Huân chương Hồ Chí Minh, tôi được tặng
hồi năm 1993; huân chương mà trước đây chỉ khi nào vào quan tài rồi mới có được!". Âm giọng vị
tướng càng trở nên ấm áp hơn khi ông bắt tay, tiễn chúng tôi ra đến cổng. Trong đôi mắt chân tình và
bàn tay cứng rắn, khô ráp của Thượng tướng Hoàng Cầm, như vẫn hừng hực khí thế của một trái tim
người lính sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc.
Vị tướng còn khoe rằng vừa làm được một bài thơ mới hẹn dịp đọc cho nhau nghe. Là vị tuớng trận
mạc mà lại rất mê thi ca. Thật đáng quý. Sự lãng mạn ở tướng Hoàng Cầm làm tôi nhớ đến những vị
tướng "nghệ sĩ” như Nguyễn Bình, Nguyễn Sơn, Hoàng Văn Thái, Trần Văn Trà, Huỳnh Văn Nghệ,
Đinh Đức Thiện, Lê Hai,... và vi tướng đồng hương của ông là Nguyễn Đan Thành - người từng là bạn
thợ may với tướng Lê Trọng Tấn và Trần Đăng Ninh thời trai trẻ. Nếu như Hoàng Cầm là tướng trận
lẫy lừng thì Nguyễn Đan Thành là tướng nuôi quân nổi tiếng từ Điện Biên Phủ đến dinh Độc Lập.
Tướng Đan Thành sinh năm 1916 tại Hà Đông, trước khi qua đời ở tuổi bát tuần, ông đã làm hơn tám
trăm bài thơ và in thành ba tập. Thơ tướng Nguyễn Đan Thành có nhiều bài rất độc đáo chẳng hạn như
bài khen bạn lính già một cách hóm hỉnh :
Tính ông không rượu khôngtrà
Chắc giờ cái khoản đàn bà cũng không....
Rõ ràng, không những biết cầm súng chiến đấu vì độc lập tự do hạnh phúc cho Tổ quốc, mà mỗi vị
tướng mỗi người lính Việt Nam còn mang trong trái tim mình dòng máu nghệ sĩ !
Tân Bình, tháng 3 năm 1995
02 - Thượng tướng NGUYỄN MINH CHÂU
Từ một tiểu đội trưởng hoạt động độc lập, Nguyễn Minh Châu trở thành một "ông lớn” từng là "nỗi
ám ảnh kinh hoàng" đối với kẻ thù ở chiến trường Nam Trung Bộ và Tây Nguyên suốt hai cuộc kháng
chiến. Tướng Nguyễn Minh Châu là vị chỉ huy trận đánh chiếm đồn Phú Hài ở lầu Ông Hoàng bằng
chiến thuật kỳ tập mở ra cục diện mới trên chiến trường Bình Thuận lẫn Quân khu 6, rồi chỉ huy trận
phục kích Dăkp...
 





