Viếng Lăng Bác - Bài giảng
Tam Li Hoc Dam Dong - Gustave Le Bon

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 19h:33' 09-03-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 19h:33' 09-03-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
LỜI GIỚI THIỆU
LỜI NÓI ĐẦU
DẪN LUẬN
Quyển I. TÂM HỒN NHỮNG ĐÁM ĐÔNG
Chương I. ĐẶC ĐIỂM TỔNG QUÁT CỦA ĐÁM
ĐÔNG: QUY LUẬT TÂM LÍ VỀ SỰ THỐNG
NHẤT TINH THẦN CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương II. TÌNH CẢM VÀ ĐẠO ĐỨC CỦA ĐÁM
ĐÔNG
Chương III. TƯ TƯỞNG, SỰ SUY LUẬN VÀ TRÍ
TƯỞNG TƯỢNG CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương IV. MỌI NIỀM TIN CỦA ĐÁM ĐÔNG
ĐỀU MANG HÌNH THỨC TÔN GIÁO
Quyển II. Ý KIẾN VÀ NIỀM TIN CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương I. NHỮNG NHÂN TỐ XA ẢNH HƯỞNG
TỚI NIỀM TIN VÀ Ý KIẾN CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương II. NHỮNG NHÂN TỐ TRỰC TIẾP ẢNH
HƯỞNG TỚI Ý KIẾN CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương III. NGƯỜI CẦM ĐẦU ĐÁM ĐÔNG VÀ
CÁCH THUYẾT PHỤC CỦA HỌ
Chương IV. NHỮNG GIỚI HẠN VỀ TÍNH HAY
THAY ĐỔI CỦA NIỀM TIN VÀ Ý KIẾN ĐÁM
ĐÔNG
Quyển III. PHÂN LOẠI VÀ MÔ TẢ CÁC LOẠI ĐÁM
ĐÔNG KHÁC NHAU
Chương I. PHÂN LOẠI ĐÁM ĐÔNG
Chương II. ĐÁM ĐÔNG BỊ COI LÀ PHẠM TỘI
Chương III. HỘI THẨM TÒA ĐẠI HÌNH
Chương IV. ĐÁM ĐÔNG BẦU CỬ
Chương V. NGHỊ VIỆN
TÂM LÍ HỌC ĐÁM
ĐÔNG
GUSTAVE LE BON
Chia sẻ ebook : http://downloadsach.com/
Follow
us
on
Facebook
https://www.facebook.com/caphebuoitoi
:
LỜI GIỚI THIỆU
Gustave Le Bon (1841 - 1931) là nhà tâm lí
học xã hội nổi tiếng người Pháp với lí thuyết về
đám đông. Ông viết về nhiều lĩnh vực và có ảnh
hưởng rất lớn trong xã hội Pháp đương thời.
Những tác phẩm nền tảng nhất của Le Bon là Quy
luật tâm lí vì sự phát triển của các dân tộc (Les
Lois psychologiques de l'évolution des peuples,
1894), Cách mạng Pháp và tâm tí học về các
cuộc cách mạng (La Révolution francaise et la
psychologie des révolutions, 1912) và Tâm lí học
đám đông (La Psychologie des foules, 1895). Các
tác phẩm khác của Le Bon bao gồm: Tâm lí học
về chủ nghĩa xã hội (Psychologie du socialisme,
1898), Bài học tâm lí từ cuộc chiến tranh châu Âu
(Enseignements psychologies de la guerre
Européenne, 1915), Tâm lí học thời đại mới (La
psychologie des temps nouveaux, 1920) và Một
thế giới mất cân bằng (Le déséquilibre du monde,
1924)…
Le Bon tập trung nghiên cứu về tính cách và
tinh thần của các dân tộc, nhưng ưu thế và quá
trình phát triển của các chủng tộc. Ông đặt lên
hàng đầu khái niệm vô thức tập thể mà chính
Freud đã thừa nhận vai trò của nó đối với các
nghiên cứu về phân tâm học của mình. Le Bon
cho rằng con người được xác định bởi những nhân
tố sinh học và tâm lí học. Trong những quy luật
lớn thường xuyên chỉ đạo sự tiến triển chung của
mỗi nền văn minh, “những cái phổ biến nhất, khó
quy giản nhất sinh ra từ cấu tạo tinh thần của
những chủng tộc” (Quy luật tâm lí về sự phát
triển của các dân tộc). Thực ra, mỗi dân tộc “đều
có một cấu tạo tinh thần cố định như tính chất
giải phẫu học của nó” (sách đã dẫn), được biểu
hiện trong “tâm hồn” nó. Tất cả các thể chế,
niềm tin, mọi nghệ thuật của một dân tộc chỉ là
“mạng lưới hữu hình trong tâm hồn vô hình của
nó”. Chủng tộc cũng núp bóng trong mỗi cá nhân
cấu thành một dân tộc; nó chi phối mọi hành
động, mọi ham muốn, mọi xung năng của anh ta,
nó tạo nên vô thức tập thể của anh ta.
Trong khi đó, thời đại của Le Bon đã chứng
kiến bản chất di truyền của chủng tộc bị lung lay
với sự lớn mạnh của đám đông và những bất ổn
Ô
về chính trị, xã hội. Ông đã trải nghiệm qua Công
xã Paris năm 1871 và nghiên cứu rất kỹ về cuộc
Cách mạng Pháp năm 1789 và 1848. Những trải
nghiệm ấy mang lại kinh nghiệm thực tiễn cho
việc hình thành tư tưởng về đám đông của ông.
Tư tưởng ấy được thể hiện rõ rệt nhất trong tác
phẩm Tâm lí học đám đông.
Theo Le Bon, những đám đông luôn bị vô thức
tác động, họ xử sự như người nguyên thuỷ, người
dã man, không có khả năng suy nghĩ, suy luận,
mà chỉ cảm nhận bằng hình ảnh, bằng sự liên kết
các ý tưởng; họ không kiên định, thất thường, và
đi từ trạng thái nhiệt tình cuồng loạn nhất đến
ngây dại ngớ ngẩn nhất. Vả lại, do thể tạng của
mình, những đám đông ấy cần có một thủ lĩnh,
một người cầm đầu, kẻ có thể dẫn dắt họ và cho
bản năng của họ một ý nghĩa. “Những người cầm
đầu hiện nay càng có khuynh hướng thay thế
quyền lực công thì quyền lực công càng bị chất
vấn và suy yếu đi. Sự bạo ngược của những ông
chủ mới này làm đám đông ngoan ngoãn vâng lời
họ hơn cả khi họ đã từng vâng lời chính quyền”
(Tâm lí học đám đông, tr.179). Vậy nên, thời hiện
đại được định tính bằng sự lên ngôi của những
đám đông được người cầm đầu dẫn dắt. Và trong
thời đại hỗn loạn và lo âu ấy, bằng việc đánh mất
lí tưởng của mình, chủng tộc đã đánh mất tâm
hồn mình và lại trở thành đám đông. “Nền văn
minh chẳng có sự cố định nào, bị phó mặc cho
mọi ngẫu nhiên. Bọn tiện nhân thành bà hoàng
và những kẻ dã man tiến lên” (Tâm lí học đám
đông, tr.303).
Ngày nay, lí thuyết của Le Bon vẫn chịu một số
chỉ trích. Ông được coi là người đặt nền móng cho
chủ nghĩa quốc gia hiện đại. Nhưng dù thế nào đi
nữa thì Le Bon cũng chỉ là “con đẻ” của thời đại
ông. Nỗi lo sợ về nạn bạo lực, sự hoành hành,
chứng khủng bố của những đám đông thể hiện
rất rõ trong lí thuyết của ông. Ông dường như đã
quá phóng đại về nguy cơ bạo lực và sự vô lí của
đám đông. Tuy vậy, cuốn sách này thực sự là tác
phẩm quan trọng và có ảnh hưởng lớn tới tư
tưởng thời đại của Le Bon nói chung cũng như
tâm lí học hiện đại nói riêng. Dù tán thành hay
phản đối, dù đôi chỗ Le Bon có phần cực đoan, và
những quan điểm, luận thuyết của ông còn phải
tranh luận, nhưng NXB Tri Thức cũng xin mạnh
ẩ
dạn giới thiệu tác phẩm của Le Bon với độc giả
Việt Nam như một cái nhìn tham khảo. Hơn nữa,
việc xem xét, tìm hiểu nhiều học thuyết trên thế
giới, thậm chí trái ngược, mâu thuẫn với nhau
thiết nghĩ là điều rất hữu ích cho các sinh hoạt tri
thức của Việt Nam, làm đa dạng hoá và phong
phú thêm tri thức của người Việt Nam. Trên tinh
thần đó, chúng tôi sẽ tiếp tục cho ra mắt bản dịch
cuốn Trí tuệ đám đông (The Wisdom of Crowds),
một trong những cuốn sách bán chạy nhất năm
2005, mang một cái nhìn khác với cái nhìn của Le
Bon về đám đông, để độc giả có thêm thông tin
khách quan về chủ đề này.
Trong khi đọc cuốn sách này, xin độc giả lưu ý
rằng cụm từ chủ nghĩa xã hội (socialisme) mà Le
Bon nhắc đến ở đây có hàm ý là chủ nghĩa xã
hội không tưởng đã tồn tại từ thế kỉ XVI đến
thế kỉ XIX ở Tây Âu, chứ không đồng nghĩa với
khái niệm chủ nghĩa xã hội khoa học của Marx
và Engels mà Lenin đã vận dụng để xây dựng nên
Liên bang Xô viết và trở thành nền tảng tư tưởng
của phe xã hội chủ nghĩa được hình thành sau
Chiến tranh thế giới thứ hai.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
Tháng 6/2006
NXB TRI THỨC
LỜI NÓI ĐẦU
Trong cuốn sách trước[1], tôi đã dành để mô tả
tâm hồn của chủng tộc. Bây giờ, tôi sẽ nghiên
cứu tâm hồn những đám đông.
Toàn thể những tính cách chung mà sự di
truyền áp đặt cho mọi cá nhân của một chủng
tộc, tạo thành tâm hồn của chủng tộc đó. Nhưng
khi một số cá nhân này họp nhau lại thành đám
đông để hành động, thì những quan sát chứng
minh rằng chính sự sáp lại gần nhau của các cá
nhân sẽ sinh ra một số tính cách tâm lí mới,
chúng chồng lên những tính cách của chủng tộc,
và đôi khi chúng khác biệt sâu sắc so với tính
cách chủng tộc.
Những đám đông được tổ chức luôn có một vai
trò đáng kể trong đời sống các dân tộc, nhưng vai
trò ấy chưa bao giờ quan trọng như ngày hôm
nay. Hành động vô thức của những đám đông
thay thế cho hoạt động có ý thức của các cá nhân
là một trong những đặc điểm chính của thời hiện
tại.
Tôi thử tiếp cận vấn đề khó khăn về đám đông
theo các phương cách thuần tuý khoa học, nghĩa
là cố gắng có một phương pháp và gạt sang bên
những ý kiến, những lí thuyết và những chủ
nghĩa. Tôi nghĩ, đó là cách duy nhất để đi tới phát
hiện ra được vài mảng nhỏ chân lí, nhất là như ở
đây, khi đó là một vấn đề dễ kích động những ý
kiến dị biệt. Nhà bác học tìm cách nhận biết một
hiện tượng, không cần bận tâm tới các lợi ích mà
những ghi nhận của mình có thể đụng chạm.
Trong một bài viết mới đây, một nhà tư tưởng nổi
tiếng, ông Goblet d'Alviela, nhận xét rằng tôi
không thuộc về một trường phái hiện đại nào, đôi
khi tôi còn đứng ở phía đối nghịch với một số kết
luận của tất cả các trường phái này. Tôi hi vọng
rằng công trình mới này sẽ tiếp tục xứng đáng với
nhận xét ấy. Thuộc về một trường phái có nghĩa
là nhất thiết gắn bó với những thành kiến và
những thiên kiến của trường phái ấy.
Tuy nhiên, tôi cần phải giải thích cho độc giả
biết tại sao từ các nghiên cứu, tôi lại rút ra những
kết luận khác với những kết luận mà thoạt đầu
người ta có thể tưởng chúng hàm chứa; chẳng
g
g
g
;
g
hạn nhận thấy một não trạng cực kì thấp kém
của những đám đông, kể cả các hội đồng toàn
người ưu tú, và tuy vậy lại tuyên bố rằng, mặc dù
sự thấp kém ấy, cũng sẽ nguy hiểm nếu động
chạm tới tổ chức của chúng.
Đó là vì sự quan sát thật chăm chú các sự kiện
lịch sử luôn chỉ cho tôi thấy rằng những tổ chức
xã hội cũng phức tạp như tổ chức của mọi sinh
vật chúng ta không có khả năng làm chúng đột
nhiên phải chịu những biến đổi sâu sắc. Tự nhiên
đôi khi cũng cần đến những biện pháp triệt để,
nhưng không bao giờ theo ý của chúng ta; và
điều ấy giải thích tại sao không có gì nguy hại
cho một dân tộc bằng sự say cuồng những cải
cách vĩ đại, dù rằng những cải cách ấy có vẻ
tuyệt vời về mặt lí thuyết. Chúng chỉ có ích nếu
như ta có thể thay đổi ngay tức thời tâm hồn
những quốc gia. Thế mà, chỉ duy nhất thời gian
mới có khả năng như vậy. Cái ngự trị con người
chính là tư tưởng, tình cảm và tập tục, những
điều nằm trong bản thân chúng ta. Còn các thể
chế và luật Pháp lại là sự biểu hiện của tâm hồn
chúng ta, là sự biểu hiện những nhu cầu của nó.
Thoát thai từ tâm hồn, những thể chế và luật
pháp ắt sẽ không thể thay đổi tâm hồn ấy được.
Nghiên cứu những hiện tượng xã hội không thể
tách khỏi việc nghiên cứu các dân tộc, nơi sản
sinh ra chúng. Về mặt triết học, những hiện
tượng này có thể có một giá trị tuyệt đối, nhưng
về mặt thực hành, chúng chỉ có giá trị tương đối
mà thôi.
Vậy, khi nghiên cứu một hiện tượng xã hội, cần
phải xem xét nó lần lượt dưới hai mặt rất khác
nhau. Lúc đó, ta thấy rằng những bài học của lí
trí thuần tuý thường rất trái ngược với bài học
của lí trí thực tiễn. Hiếm có một dữ kiện nào, kể
cả dữ kiện vật lí, mà sự phân biệt này không áp
dụng vào được. Đứng ở góc độ chân lí tuyệt đối
một hình lập phương, một hình tròn là những
hình hình học bất biến, được xác định chặt chẽ
bằng một số công thức. Song, đứng ở góc độ mắt
thường, những hình hình học này có thể mang
các hình dáng rất khác nhau. Phép phối cảnh có
thể biến một hình lập phương thành hình tháp
hay hình vuông, có thể biến hình tròn thành hình
elip hay đường thẳng; và việc xem xét những
hình thức ảo này lại quan trọng hơn rất nhiều so
với những hình thức thực, bởi vì chúng là những
hình thức duy nhất được mắt ta nhìn thấy và môn
nhiếp ảnh lẫn hội hoạ có thể tái tạo được. Cái phi
thực, trong một số trường hợp, lại thật hơn là cái
thực. Hình dung các đối tượng bằng những hình
dáng hình học chính xác của chúng lại làm biến
dạng tự nhiên và khiến nó trở nên không thể
nhận ra được. Nếu chúng ta giả định một thế giới
mà cư dân của nó chỉ có thể sao chép hoặc chụp
ảnh sự vật mà không có khả năng sờ mó vào các
sự vật ấy thì họ sẽ rất khó có được một ý niệm
chính xác về hình dáng của chúng. Sự nhận thức
về hình thức này chỉ một số ít các nhà bác học là
có thể đạt được, vả chăng nó chỉ cho thấy một lợi
ích rất ít ỏi mà thôi.
Nhà triết học nghiên cứu những hiện tượng xã
hội phải luôn nhớ rằng bên cạnh giá trị lí thuyết,
những hiện tượng này còn có một giá trị thực
tiễn, và đứng về phương diện tiến hoá của các
nền văn minh, thì chỉ riêng giá trị thực tiễn là có
tầm quan trọng nào đó. Một ghi nhận như thế
khiến nhà triết học phải rất thận trọng trong
những kết luận mà ban đầu, quy luật hình như đã
áp đặt cho ông ta.
Còn nhiều lí do khác đòi hỏi ông ta phải thận
trọng. Các sự kiện xã hội phức tạp đến nỗi ta
không thể bao quát tổng thể và không thể tiên
đoán hậu quả của những ảnh hưởng tương hỗ
giữa chúng. Hình như đằng sau các sự kiện có thể
trông thấy được đôi khi còn ẩn giấu hàng nghìn
nguyên nhân không thể trông thấy. Những hiện
tượng xã hội có thể trông thấy được hình như là
kết quả tổng hợp của một công việc vô thức rộng
lớn vốn nằm bên ngoài khả năng phân tích của
chúng ta. Ta có thể ví chúng như những làn sóng
biểu hiện lên trên bề mặt những đảo lộn dưới đáy
sâu của đại dương mà ta không hề hay biết. Được
xem xét trong phần lớn những hành vi, các đám
đông thường cho thấy một não trạng thấp kém
đến kì lạ, nhưng lại có những hành vi khác tỏ ra
được hướng dẫn bởi nhiều lực lượng huyền bí mà
người xưa gọi là số phận, tự nhiên, thiên định,
còn chúng ta thì gọi là tiếng nói của người quá
cố, sức mạnh của những tiếng nói ấy ta không
thể bỏ qua, mặc dù ta không biết bản chất của
chúng là gì. Đôi khi hình như trong lòng các quốc
gia có những lực lượng ẩn ngầm hướng dẫn đám
đông. Ví dụ, có gì phức tạp hơn, logic hơn, tuyệt
vời hơn một ngôn ngữ? Và thử hỏi sản phẩm
được tổ chức tốt đẹp và tinh tế như thế sinh ra từ
đâu, nếu không phải từ tâm hồn vô thức của
những đám đông? Những viện hàn lâm thông thái
nhất, những nhà ngữ pháp học sáng giá nhất chỉ
làm công việc nặng nhọc ghi lại các quy luật đã
chi phối những ngôn ngữ này, và họ hoàn toàn
không có khả năng sáng tạo ra chúng. Ngay cả
những tư tưởng thiên tài của các vĩ nhân, liệu
chúng ta có chắc chắn rằng những tư tưởng ấy có
chuyên nhất là công trình của riêng họ không?
Hẳn nhiên bao giờ chúng cũng được sáng tạo bởi
những con người đơn độc; nhưng hành nghìn hạt
bụi mới tạo thành phù sa và chính từ phù sa ấy,
những tư tưởng mới nảy mầm. Phải chăng chính
tâm hồn của những đám đông đã hun đúc nên
chúng?
Chắc chắn đám đông bao giờ cũng vô thức,
nhưng chính cái vô thức ấy có lẽ là một trong
những bí ẩn của sức mạnh đám đông. Trong tự
nhiên, sinh vật chỉ bị chi phối bởi bản năng,
chúng thực hiện các hành động mà độ phức tạp
kì diệu làm ta phải ngạc nhiên. Lí trí là cái mà
nhân loại chỉ mới có được gần đây thôi và còn
quá không hoàn hảo để có thể vén lộ cho chúng
ta những quy luật của cái vô thức và nhất là thế
chỗ cho cái vô thức. Trong mọi hành động của
chúng ta, phần vô thức thì to lớn còn phần lí trí
thì nhỏ bé. Cái vô thức tác động như một lực
lượng hãy còn chưa được biết rõ.
Vậy nếu chúng ta muốn đứng trong những giới
hạn nhỏ hẹp nhưng chắc chắn của các sự vật mà
khoa học có thể nhận thức, chứ không đi lang
thang trong lãnh địa của phỏng đoán mơ hồ và
giả thuyết hư ảo, thì chúng ta chỉ cần xem xét
những hiện tượng mà chúng ta có thể hiểu được,
và hạn chế chúng ta trong sự xem xét này. Mọi
kết luận được rút ra từ quan sát của chúng ta
thường chỉ là sơ bộ, bởi vì, đằng sau những hiện
tượng mà chúng ta nhìn rõ, còn có những hiện
tượng khác chúng ta nhìn không rõ, và thậm chí
đằng sau cả những hiện tượng cuối cùng này, lại
còn những hiện tượng khác nữa mà chúng ta
không trông thấy.
Chú thích:
ắ
Le Bon muốn nhắc tới cuốn Quy luật tâm lí
về sự phát triển của các dân tộc (Les lois
psychologique de l'évolution des peuples), được
ông viết năm 1894.
1
Mục lục
LỜI GIỚI THIỆU
LỜI NÓI ĐẦU
DẪN LUẬN
Quyển I. TÂM HỒN NHỮNG ĐÁM ĐÔNG
Chương I. ĐẶC ĐIỂM TỔNG QUÁT CỦA ĐÁM ĐÔNG: QUY LUẬT TÂM LÍ VỀ
SỰ THỐNG NHẤT TINH THẦN CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương II. TÌNH CẢM VÀ ĐẠO ĐỨC CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương III. TƯ TƯỞNG, SỰ SUY LUẬN VÀ TRÍ TƯỞNG TƯỢNG CỦA ĐÁM
ĐÔNG
Chương IV. MỌI NIỀM TIN CỦA ĐÁM ĐÔNG ĐỀU MANG HÌNH THỨC TÔN
GIÁO
Quyển II. Ý KIẾN VÀ NIỀM TIN CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương I. NHỮNG NHÂN TỐ XA ẢNH HƯỞNG TỚI NIỀM TIN VÀ Ý KIẾN
CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương II. NHỮNG NHÂN TỐ TRỰC TIẾP ẢNH HƯỞNG TỚI Ý KIẾN CỦA
ĐÁM ĐÔNG
Chương III. NGƯỜI CẦM ĐẦU ĐÁM ĐÔNG VÀ CÁCH THUYẾT PHỤC CỦA
HỌ
Chương IV. NHỮNG GIỚI HẠN VỀ TÍNH HAY THAY ĐỔI CỦA NIỀM TIN VÀ
Ý KIẾN ĐÁM ĐÔNG
Quyển III. PHÂN LOẠI VÀ MÔ TẢ CÁC LOẠI ĐÁM ĐÔNG KHÁC NHAU
Chương I. PHÂN LOẠI ĐÁM ĐÔNG
Chương II. ĐÁM ĐÔNG BỊ COI LÀ PHẠM TỘI
Chương III. HỘI THẨM TÒA ĐẠI HÌNH
Chương IV. ĐÁM ĐÔNG BẦU CỬ
Chương V. NGHỊ VIỆN
DẪN LUẬN
Thời đại của những đám đông
Sự tiến triển của thời hiện tại. - Những thay
đổi lớn của văn minh là kết quả của những thay
đổi trong tư tưởng của các dân tộc. - Niềm tin
mới vào sức mạnh của đám đông. - Nó biến đổi
chính trị truyền thống của những Nhà nước. - Sự
lên ngôi của các tầng lớp bình dân xảy ra như thế
nào và sức mạnh của tầng lớp ấy tác động ra sao.
- Hậu quả tất yếu của sức mạnh những đám
đông. – Chúng chỉ thực hiện chức năng của kẻ
phá hoại. - Chính nhờ đám đông mà tiến trình tan
rã của các nền văn minh già cỗi mới kết thúc
được. - Sự thiếu hiểu biết chung về môn tâm lí
học đám đông. - Tầm quan trọng của việc nghiên
cứu đám đông đối với những nhà lập pháp và các
chính khách.
Những đảo lộn to lớn xảy ra trước những thay
đổi của các nền văn minh, như sự sụp đổ của Đế
chế La Mã và việc thành lập Đế chế Ả Rập, mới
thoạt nhìn, hình như được quyết định chủ yếu do
những biến đổi chính trị to lớn: ngoại bang xâm
lược, các triều đại bị sụp đổ. Nhưng một nghiên
cứu chăm chú tỉ mỉ hơn về những biến cố này cho
thấy rằng đằng sau những nguyên nhân bề mặt,
thường có nguyên nhân thực sự là sự biến đổi sâu
sắc trong tư tưởng của các dân tộc. Những đảo
lộn lịch sử thực sự không phải là những đảo lộn
làm chúng ta ngạc nhiên vì mức độ lớn lao và bạo
liệt của chúng. Chỉ những thay đổi quan trọng,
nơi sinh ra sự đổi mới cho các nền văn minh mới
là những gì diễn ra trong tư tưởng, quan niệm và
niềm tin. Các biến cố đáng nhớ của lịch sử là hiệu
quả có thể thấy được của nhiều thay đổi không
thể nhìn thấy trong tư tưởng con người. Sở dĩ
những biến cố lớn lao ấy rất hiếm khi biểu lộ, đó
là vì ở một chủng tộc chẳng có gì bền vững hơn
nền tảng di truyền trong tư tưởng của nó.
Thời hiện tại là một trong những thời điểm
quyết định, vì đó là lúc tư tưởng con người đang
trong tiến trình tự biến đổi.
Có hai nhân tố cơ bản làm nền tảng cho sự
biến đổi này. Nhân tố thứ nhất là sự phá huỷ
niềm tin tôn giáo, chính trị và xã hội, vốn là
nguồn cội sinh ra mọi yếu tố của nền văn minh
chúng ta. Nhân tố thứ hai là sự sáng tạo ra
những điều kiện sinh tồn và suy tưởng hoàn toàn
mới, kết quả của những phát kiến mới trong khoa
học và công nghiệp hiện đại.
Những tư tưởng của quá khứ, dù đã bị phá huỷ
phân nửa, vẫn còn rất mạnh, và những tư tưởng
phải thế chỗ cho chúng thì đang hình thành, nên
thời hiện đại biểu thị một giai đoạn quá độ và vô
chính phủ.
Từ giai đoạn này, dĩ nhiên có phần hỗn độn,
thật không dễ để nói giờ đây cái gì có thể nảy
sinh. Sẽ có các tư tưởng cơ bản nào để trên đó
xây dựng những xã hội nối tiếp xã hội của chúng
ta? Chúng ta vẫn chưa biết được. Nhưng, ngay từ
lúc này, điều chúng ta đã thấy rõ, đó là để tổ
chức chúng, cần phải tính tới một sức mạnh mới,
tối cao của thời hiện đại: quyền lực của những
đám đông. Trên đống đổ nát của biết bao tư
tưởng, được coi là chân lí trước đây nhưng nay đã
chết, của biết bao quyền lực mà các cuộc cách
mạng đã liên tiếp đập tan, thì quyền lực của đám
đông là cái độc nhất vượt lên, và nó hình như
sớm được giao cho sứ mệnh hấp thu hết những
quyền lực khác. Trong khi mọi niềm tin cổ xưa
đều chao đảo và biến mất, những cột trụ già cỗi
của xã hội lần lượt sụp đổ thì quyền lực của đám
đông là lực lượng duy nhất chẳng gì đe doạ nổi và
uy thế của nó ngày càng lớn lên. Thời đại mà
chúng ta đang bước vào sẽ thực sự là THỜI ĐẠI
CỦA NHỮNG ĐÁM ĐÔNG.
Chỉ mới một thế kỉ trước đây thôi, đường lối
chính trị truyền thống của các Nhà nước và sự đối
nghịch giữa các vua chúa vẫn là nhân tố chính
của những biến cố. Ý kiến của những đám đông ít
có giá trị, và thậm chí thường chẳng có chút giá
trị gì. Còn ngày nay, truyền thống chính trị,
khuynh hướng cá nhân của các nhà cai trị, sự đối
nghịch giữa họ lại không còn quan trọng nữa, trái
lại, chính tiếng nói của đám đông đã trở nên có
ưu thế hơn. Tiếng nói ấy áp đặt cho vua chúa
cách hành xử và vua chúa có nhiệm vụ phải nghe
theo nó. Số phận của các quốc gia không còn
được sắp đặt trong những hội đồng của các ông
hoàng nữa, mà ở trong tâm hồn của những đám
đông.
Sự lên ngôi của các giai cấp bình dân trong đời
sống chính trị, nghĩa là, trên thực tế, họ đã dần
dần biến đổi thành giai cấp lãnh đạo, là một
trong những đặc điểm nổi bật của thời đại quá độ
của chúng ta. Thực ra, việc phổ thông đầu phiếu,
được thực hiện từ lâu nhưng ít có ảnh hưởng,
không phải là đặc điểm đánh dấu sự lên ngôi của
giai cấp bình dân như ta vẫn tưởng. Việc dần nảy
sinh quyền lực đám đông thoạt tiên được bắt đầu
bằng sự phổ biến một số tư tưởng từ từ du nhập
vào tâm trí con người, rồi từng bước liên kết
những cá nhân để dẫn tới việc hiện thực hoá các
quan niệm lí thuyết. Chính thông qua liên kết mà
những đám đông cuối cùng đã hình thành nên tư
tưởng, nếu chưa thật xác đáng thì ít ra cũng dứt
khoát về quyền lợi và có ý thức về sức mạnh của
mình. Những đám đông thành lập các nghiệp
đoàn mà mọi giới có thẩm quyền đều phải lần
lượt đầu hàng, các hiệp hội lao động nhằm điều
tiết những điều kiện lao động và tiền công, bất
chấp mọi quy luật kinh tế. Họ gửi vào các cơ
quan chính phủ những đại biểu không giữ ý kiến
riêng và sự độc lập cá nhân nữa mà thường chỉ
còn là những người phát ngôn cho các ủy ban đã
lựa chọn mình.
Ngày nay những yêu sách của đám đông càng
ngày càng rõ rệt và không dẫn đến điều gì khác
hơn là phá huỷ toàn bộ xã hội hiện tại, để đưa nó
về chủ nghĩa cộng sản nguyên thuỷ, trạng thái
thông thường của mọi nhóm người trước buổi
bình minh của văn minh. Hạn chế giờ lao động,
trưng thu hầm mỏ, đường sắt, nhà máy và đất
đai; chia đều sản phẩm, loại trừ mọi tầng lớp trên
vì quyền lợi của các giai cấp bình dân v.v… Đó là
các yêu sách.
Thiếu khả năng suy luận, ngược lại đám đông
đủ khả năng hành động. Qua sự tổ chức hiện
thời, sức mạnh của đám đông trở nên to lớn vô
cùng. Những tín điều mà ta thấy đang nảy sinh
chẳng mấy chốc sẽ có sức mạnh như những tín
điều xưa cũ, nghĩa là sức mạnh chuyên chế và tối
thượng không được phép bàn cãi, Luật thiêng của
đám đông sẽ thay thế luật thiêng của vua chúa.
Các nhà văn ủng hộ tầng lớp tư sản hiện thời,
những người đại diện tốt nhất cho tầng lớp này,
tầng lớp có tư tưởng chật hẹp, đầu óc thiển cận,
chủ nghĩa hoài nghi hơi thô thiển, tính ích kỉ đôi
khi hơi quá đáng, thì gần như điên lên trước cái
quyền lực mới đang lớn mạnh. Và để đấu tranh
chống lại sự hỗn loạn của tâm trí con người, các
nhà văn này đã tuyệt vọng kêu gọi tới sức mạnh
tinh thần của Nhà thờ mà xưa kia họ vốn coi
thường. Họ nói với chúng ta rằng khoa học đã
phá sản, và trở về từ La Mã với lòng sám hối, họ
nhắc nhở chúng ta những bài học về chân lí đã
được thần khải. Nhưng những kẻ quy đạo mới
này quên là đã chậm quá mất rồi. Nếu thực sự ơn
phước đã chạm tới họ, thì ơn phước cũng không
có quyền năng như thế đối với những linh hồn
chẳng mấy bận tâm đến bao lo lắng đang ám ảnh
các tân tín đồ này. Ngày nay, những đám đông
không còn thích các thần thánh mà ngày xưa
chính họ cũng không thích và từng góp phần vào
đập phá. Không có sức mạnh thần thánh hoặc
con người nào có thể bắt những dòng sông chảy
ngược về nguồn.
Khoa học không hề bị phá sản và không dính
gì tới tình trạng vô chính phủ trong tinh thần con
người hiện đại, cũng chẳng dính gì tới quyền lực
mới đang lớn lên giữa tình trạng vô chính phủ
này. Khoa học đã hứa hẹn cho chúng ta chân lý,
hay ít nhất cho ta sự nhận thức về những quan
hệ mà trí tuệ của chúng ta có thể nắm bắt; nó
không bao giờ hứa hẹn cho chúng ta hoà bình và
hạnh phúc. Vô cùng thờ ơ với tình cảm của chúng
ta, khoa học không nghe lời than vãn của chúng
ta. Chính chúng ta phải cố gắng sống với khoa
học, bởi vì chẳng gì có thể phục hồi những ảo
tưởng đã bị nó phá huỷ.
Những triệu chứng phổ biến, thấy được ở mọi
quốc gia chỉ cho ta thấy rõ sự tăng nhanh quyền
lực của những đám đông, và không cho phép ta
giả định rằng quyền lực này sắp phải ngừng lớn
lên. Dù nó mang lại cho ta điều gì, ta cũng đành
phải chịu.
Mọi biện luận chống lại quyền lực của đám
đông chỉ là những ngôn từ vô ích. Hẳn có thể sự
lên ngôi của đám đông đánh dấu một trong
những chặng đường cuối cùng của các nền văn
minh Tây phương, một sự quay hẳn về những
thời kì vô chính phủ hỗn tạp, vốn hình như bao
giờ cũng phải xảy ra trước khi khai sinh một xã
hội mới. Nhưng chúng ta làm thế nào để ngăn
cản nó?
Cho đến nay, vai trò rõ ràng nhất của đám
đông là tạo ra những cuộc phá huỷ to lớn đối với
các nền văn minh đã quá già cỗi. Thực thế, không
phải chỉ ngày hôm nay, vai trò này mới xuất hiện
trên thế giới. Lịch sử cho ta biết rằng khi những
lực lượng tinh thần làm nền móng cho một nền
văn minh đã mất hết ảnh hưởng, thì sự tan rã
cuối cùng sẽ được thực hiện bởi những đám đông
vô thức và tàn nhẫn, được gọi khá chuẩn xác là
những kẻ dã man. Cho đến nay, những nền văn
minh chỉ được tạo ra và được dẫn dắt bởi một
nhóm nhỏ quý tộc trí thức, chứ không bao giờ bởi
những đám đông. Đám đông chỉ có sức mạnh để
phá hoại. Sự thống trị của đám đông bao giờ
cũng biểu thị một thời kì dã man. Một nền văn
minh bao hàm những quy tắc cố định, kỉ luật, sự
chuyển từ bản năng sang lí trí, có viễn kiến về
tương lai, một trình độ cao về văn hoá, những
điều kiện mà đám đông, phó mặc cho chính
mình, luôn tỏ ra tuyệt nhiên không thể thực hiện
nổi. Do sức mạnh duy nhất chỉ là phá hoại, sự tan
rã của những cơ thể ốm yếu hay những thây ma.
Khi tòa lâu đài của một nền văn minh đã bị mục
ruỗng, thì bao giờ cũng chính những đám đông sẽ
đưa nó tới chỗ sụp đổ. Chính lúc đó xuất hiện vai
trò chủ đạo của đám đông, và trong một khoảnh
khắc, triết lí số đông hình như là thứ triết lý duy
nhất của lịch sử.
Nền văn minh của chúng ta liệu có giống như
thế không? Đó là điều chúng ta có thể lo sợ,
nhưng đó cũng là điều mà chúng ta vẫn còn chưa
thể biết rõ.
Dù sao chăng nữa, ta phải đành lòng chịu sự
thống trị của đám đông, bởi vì có nhiều bàn tay
không biết lo xa đã lần lượt lật bỏ tất cả những
rào cản có thể kìm giữ nó lại.
Nhưng đám đông ấy bắt đầu được ta nói tới
nhiều, nhưng ta hiểu về chúng còn quá ít. Các
nhà tâm lí học chuyên nghiệp thì sống cách xa
đám đông, luôn không biết về họ, và khi quan
tâm tới họ thì lại chỉ quan tâm tới tội ác mà đám
đông có thể phạm phải. Tất nhiên, đã có những
đám đông tội phạm, nhưng cũng có những đám
đông đức hạnh, những đám đông anh hùng, và
nhiều loại đám đông khác nữa. Tội ác của đám
đông chỉ là một trường hợp đặc biệt trong tâm lí
học đám đông. Và ta không thể biết về cấu tạo
ằ
tinh thần của đám đông bằng cách chỉ nghiên cứu
tội ác của nó, cũng như ta sẽ không thể biết cấu
tạo tinh thần của một cá nhân nếu chỉ đơn thuần
mô tả những thói hư tật xấu của cá nhân ấy.
Tuy nhiên nói đúng ra, tất cả những chúa tể
trên thế giới, tất cả những bậc sáng lập ra các
tôn giáo hay các đế chế, những thánh tông đồ
của mọi tín ngưỡng, những chính khách nổi tiếng,
và trong một lĩnh vực khiêm tốn hơn, những
người đứng đầu bình thường của các tập thể nho
nhỏ, bao giờ cũng là những nhà tâm lí học không
tự giác, họ có hiểu biết về tâm hồn đám đông,
một hiểu biết bản năng nhưng thường rất chắc
chắn; và chính vì thế nên họ mới dễ dàng trở
thành người lãnh đạo. Napoléon hiểu sâu sắc tâm
lí những đám đông của đất nước mà ông thống
trị, nhưng đôi khi ông lại không hiểu biết một
cách đầy đủ tâm lí những đám đông thuộc các
chủng tộc khác*[1], và chính vì không hiểu biết
nó, nên khi tiến hành các cuộc chiến tranh ở Tây
Ban Nha và nhất là ở Nga, sức mạnh của ông vấp
phải sự đối kháng sẽ sớm hạ gục ông.
Ngày nay, sự hiểu biết về tâm lí học đám đông
là chỗ dựa cuối cùng của chính khách nào muốn
hay không muốn cai trị đám đông - điều này đã
trở nên rất khó khăn - nhưng ít ra không bị đám
đông điều khiển quá nhiều.
Chỉ khi hiểu sâu một chút tâm lí học đám
đông, ta mới hiểu luật pháp và thiết chế ít có tác
động tới đám đông đến chừng nào; đám đông
khó có được những ý kiến bất kì nào nằm bên
ngoài những ý kiến đã áp đặt cho họ; không thể
dẫn dắt đám đông bằng những quy tắc dựa trên
sự công minh mang tính lí thuyết thuần tuý mà
phải bằng việc tìm ra cái gì có thể gây ấn tượng
và lôi cuốn họ. Ví dụ, nếu một nhà lập pháp
muốn thiết lập một thứ thuế mới, liệu ông ta có
phải chọn thứ thuế công bằng nhất về mặt lí
thuyết hay không? Chắc không đời nào! Thứ thuế
bất công nhất có thể là thứ thuế tốt nhất với đám
đông xét về mặt thực tế. Nếu thứ thuế ấy kém
minh bạch nhất, đồng thời bề ngoài lại ít nặng nề
nhất, nó sẽ dễ dàng được chấp nhận nhất. Vì thế
nên một thứ thuế gián thu, dù nó rất nặng, sẽ
luôn được đám đông chấp nhận, bởi vì nó được
trả hàng ngày vào đồ tiêu dùng bằng những phần
nhỏ từng xu, nó không làm phiền đến những thói
g
,
g
p
g
quen của đám đông, và nó không gây ấn tượng
cho họ. Nếu thay nó bằng thuế luỹ tiến đánh vào
đồng lương hay thu nhập khác, và phải trả ngay
một lần, thì về mặt lí thuyết, dù thuế này nhẹ
hơn mười lần so với thuế gián thu, nó vẫn gây ra
sự nhất loạt phản đối. Thực vậy, những đồng xu
không nhìn thấy hàng ngày được thay thế bằng
một món tiền tương đối lớn, có vẻ như rất to vào
cái ngày phải nộp, do đó nó rất ấn tượng. Thuế
chỉ tỏ vẻ nhẹ nếu nó được để dành từng xu một;
nhưng phương pháp tiết kiệm ấy biểu thị một
mức độ biết nhìn xa trông rộng mà đám đông
không thể có.
Ví dụ trên đây là đơn giản nhất, sự đúng đắn
của nó dễ dàng nhận thấy. Nó đã không thoát
khỏi [con mắt] một nhà tâm lí học như Napoléon,
nhưng các nhà lập pháp không hiểu tâm hồn đám
đông sẽ không nhận thấy nó. Kinh nghiệm chưa
dạy dỗ họ đến nơi đến chốn để hiểu rằng, con
người không bao giờ cư xử theo những quy định
của lí trí thuần tuý.
Tâm lí học đám đông có thể có nhiều ứng dụng
khác. Hiểu biết nó có thể làm sáng tỏ phần lớn
những hiện tượng lịch sử, kinh tế mà nếu thiếu
nó sẽ hoàn toàn không thể hiểu nổi. Tôi sẽ có dịp
chỉ ra rằng nếu như nhà sử học hiện đại xuất sắc
nhất của chúng ta, ngài Taine[2], đôi khi đã hiểu
không đầy đủ những biến cố của cuộc Đại cách
mạng Pháp, đó là vì ông chưa bao giờ nghĩ tới
việc nghiên cứu tâm hồn những đám đông. Trong
việc nghiên cứu thời kì phức tạp ấy, ông đã dùng
phương pháp mô tả của những nhà tự nhiên chủ
nghĩa làm hướng đạo. Nhưng, trong những hiện
tượng mà nhà tự nhiên chủ nghĩa nghiên cứu,
những lực lượng tinh thần ít có mặt. Thực ra
chính những lực lượng ấy mới là động lực chính
của lịch sử.
Do đó, chỉ đơn thuần xem xét về mặt thực
tiễn, việc nghiên cứu tâm lí học đám đông là việc
xứng đáng phải làm. Dù chỉ có một lợi ích đơn
thuần là thoả trí tò mò, thì nó vẫn xứng đáng
được nghiên cứu. Thật thú vị khi ta giải mã được
động cơ những hành vi của con người, cũng như
khi giải mã được một khoáng vật hay một thực
vật.
Nghiên cứu của chúng...
LỜI GIỚI THIỆU
LỜI NÓI ĐẦU
DẪN LUẬN
Quyển I. TÂM HỒN NHỮNG ĐÁM ĐÔNG
Chương I. ĐẶC ĐIỂM TỔNG QUÁT CỦA ĐÁM
ĐÔNG: QUY LUẬT TÂM LÍ VỀ SỰ THỐNG
NHẤT TINH THẦN CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương II. TÌNH CẢM VÀ ĐẠO ĐỨC CỦA ĐÁM
ĐÔNG
Chương III. TƯ TƯỞNG, SỰ SUY LUẬN VÀ TRÍ
TƯỞNG TƯỢNG CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương IV. MỌI NIỀM TIN CỦA ĐÁM ĐÔNG
ĐỀU MANG HÌNH THỨC TÔN GIÁO
Quyển II. Ý KIẾN VÀ NIỀM TIN CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương I. NHỮNG NHÂN TỐ XA ẢNH HƯỞNG
TỚI NIỀM TIN VÀ Ý KIẾN CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương II. NHỮNG NHÂN TỐ TRỰC TIẾP ẢNH
HƯỞNG TỚI Ý KIẾN CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương III. NGƯỜI CẦM ĐẦU ĐÁM ĐÔNG VÀ
CÁCH THUYẾT PHỤC CỦA HỌ
Chương IV. NHỮNG GIỚI HẠN VỀ TÍNH HAY
THAY ĐỔI CỦA NIỀM TIN VÀ Ý KIẾN ĐÁM
ĐÔNG
Quyển III. PHÂN LOẠI VÀ MÔ TẢ CÁC LOẠI ĐÁM
ĐÔNG KHÁC NHAU
Chương I. PHÂN LOẠI ĐÁM ĐÔNG
Chương II. ĐÁM ĐÔNG BỊ COI LÀ PHẠM TỘI
Chương III. HỘI THẨM TÒA ĐẠI HÌNH
Chương IV. ĐÁM ĐÔNG BẦU CỬ
Chương V. NGHỊ VIỆN
TÂM LÍ HỌC ĐÁM
ĐÔNG
GUSTAVE LE BON
Chia sẻ ebook : http://downloadsach.com/
Follow
us
on
https://www.facebook.com/caphebuoitoi
:
LỜI GIỚI THIỆU
Gustave Le Bon (1841 - 1931) là nhà tâm lí
học xã hội nổi tiếng người Pháp với lí thuyết về
đám đông. Ông viết về nhiều lĩnh vực và có ảnh
hưởng rất lớn trong xã hội Pháp đương thời.
Những tác phẩm nền tảng nhất của Le Bon là Quy
luật tâm lí vì sự phát triển của các dân tộc (Les
Lois psychologiques de l'évolution des peuples,
1894), Cách mạng Pháp và tâm tí học về các
cuộc cách mạng (La Révolution francaise et la
psychologie des révolutions, 1912) và Tâm lí học
đám đông (La Psychologie des foules, 1895). Các
tác phẩm khác của Le Bon bao gồm: Tâm lí học
về chủ nghĩa xã hội (Psychologie du socialisme,
1898), Bài học tâm lí từ cuộc chiến tranh châu Âu
(Enseignements psychologies de la guerre
Européenne, 1915), Tâm lí học thời đại mới (La
psychologie des temps nouveaux, 1920) và Một
thế giới mất cân bằng (Le déséquilibre du monde,
1924)…
Le Bon tập trung nghiên cứu về tính cách và
tinh thần của các dân tộc, nhưng ưu thế và quá
trình phát triển của các chủng tộc. Ông đặt lên
hàng đầu khái niệm vô thức tập thể mà chính
Freud đã thừa nhận vai trò của nó đối với các
nghiên cứu về phân tâm học của mình. Le Bon
cho rằng con người được xác định bởi những nhân
tố sinh học và tâm lí học. Trong những quy luật
lớn thường xuyên chỉ đạo sự tiến triển chung của
mỗi nền văn minh, “những cái phổ biến nhất, khó
quy giản nhất sinh ra từ cấu tạo tinh thần của
những chủng tộc” (Quy luật tâm lí về sự phát
triển của các dân tộc). Thực ra, mỗi dân tộc “đều
có một cấu tạo tinh thần cố định như tính chất
giải phẫu học của nó” (sách đã dẫn), được biểu
hiện trong “tâm hồn” nó. Tất cả các thể chế,
niềm tin, mọi nghệ thuật của một dân tộc chỉ là
“mạng lưới hữu hình trong tâm hồn vô hình của
nó”. Chủng tộc cũng núp bóng trong mỗi cá nhân
cấu thành một dân tộc; nó chi phối mọi hành
động, mọi ham muốn, mọi xung năng của anh ta,
nó tạo nên vô thức tập thể của anh ta.
Trong khi đó, thời đại của Le Bon đã chứng
kiến bản chất di truyền của chủng tộc bị lung lay
với sự lớn mạnh của đám đông và những bất ổn
Ô
về chính trị, xã hội. Ông đã trải nghiệm qua Công
xã Paris năm 1871 và nghiên cứu rất kỹ về cuộc
Cách mạng Pháp năm 1789 và 1848. Những trải
nghiệm ấy mang lại kinh nghiệm thực tiễn cho
việc hình thành tư tưởng về đám đông của ông.
Tư tưởng ấy được thể hiện rõ rệt nhất trong tác
phẩm Tâm lí học đám đông.
Theo Le Bon, những đám đông luôn bị vô thức
tác động, họ xử sự như người nguyên thuỷ, người
dã man, không có khả năng suy nghĩ, suy luận,
mà chỉ cảm nhận bằng hình ảnh, bằng sự liên kết
các ý tưởng; họ không kiên định, thất thường, và
đi từ trạng thái nhiệt tình cuồng loạn nhất đến
ngây dại ngớ ngẩn nhất. Vả lại, do thể tạng của
mình, những đám đông ấy cần có một thủ lĩnh,
một người cầm đầu, kẻ có thể dẫn dắt họ và cho
bản năng của họ một ý nghĩa. “Những người cầm
đầu hiện nay càng có khuynh hướng thay thế
quyền lực công thì quyền lực công càng bị chất
vấn và suy yếu đi. Sự bạo ngược của những ông
chủ mới này làm đám đông ngoan ngoãn vâng lời
họ hơn cả khi họ đã từng vâng lời chính quyền”
(Tâm lí học đám đông, tr.179). Vậy nên, thời hiện
đại được định tính bằng sự lên ngôi của những
đám đông được người cầm đầu dẫn dắt. Và trong
thời đại hỗn loạn và lo âu ấy, bằng việc đánh mất
lí tưởng của mình, chủng tộc đã đánh mất tâm
hồn mình và lại trở thành đám đông. “Nền văn
minh chẳng có sự cố định nào, bị phó mặc cho
mọi ngẫu nhiên. Bọn tiện nhân thành bà hoàng
và những kẻ dã man tiến lên” (Tâm lí học đám
đông, tr.303).
Ngày nay, lí thuyết của Le Bon vẫn chịu một số
chỉ trích. Ông được coi là người đặt nền móng cho
chủ nghĩa quốc gia hiện đại. Nhưng dù thế nào đi
nữa thì Le Bon cũng chỉ là “con đẻ” của thời đại
ông. Nỗi lo sợ về nạn bạo lực, sự hoành hành,
chứng khủng bố của những đám đông thể hiện
rất rõ trong lí thuyết của ông. Ông dường như đã
quá phóng đại về nguy cơ bạo lực và sự vô lí của
đám đông. Tuy vậy, cuốn sách này thực sự là tác
phẩm quan trọng và có ảnh hưởng lớn tới tư
tưởng thời đại của Le Bon nói chung cũng như
tâm lí học hiện đại nói riêng. Dù tán thành hay
phản đối, dù đôi chỗ Le Bon có phần cực đoan, và
những quan điểm, luận thuyết của ông còn phải
tranh luận, nhưng NXB Tri Thức cũng xin mạnh
ẩ
dạn giới thiệu tác phẩm của Le Bon với độc giả
Việt Nam như một cái nhìn tham khảo. Hơn nữa,
việc xem xét, tìm hiểu nhiều học thuyết trên thế
giới, thậm chí trái ngược, mâu thuẫn với nhau
thiết nghĩ là điều rất hữu ích cho các sinh hoạt tri
thức của Việt Nam, làm đa dạng hoá và phong
phú thêm tri thức của người Việt Nam. Trên tinh
thần đó, chúng tôi sẽ tiếp tục cho ra mắt bản dịch
cuốn Trí tuệ đám đông (The Wisdom of Crowds),
một trong những cuốn sách bán chạy nhất năm
2005, mang một cái nhìn khác với cái nhìn của Le
Bon về đám đông, để độc giả có thêm thông tin
khách quan về chủ đề này.
Trong khi đọc cuốn sách này, xin độc giả lưu ý
rằng cụm từ chủ nghĩa xã hội (socialisme) mà Le
Bon nhắc đến ở đây có hàm ý là chủ nghĩa xã
hội không tưởng đã tồn tại từ thế kỉ XVI đến
thế kỉ XIX ở Tây Âu, chứ không đồng nghĩa với
khái niệm chủ nghĩa xã hội khoa học của Marx
và Engels mà Lenin đã vận dụng để xây dựng nên
Liên bang Xô viết và trở thành nền tảng tư tưởng
của phe xã hội chủ nghĩa được hình thành sau
Chiến tranh thế giới thứ hai.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
Tháng 6/2006
NXB TRI THỨC
LỜI NÓI ĐẦU
Trong cuốn sách trước[1], tôi đã dành để mô tả
tâm hồn của chủng tộc. Bây giờ, tôi sẽ nghiên
cứu tâm hồn những đám đông.
Toàn thể những tính cách chung mà sự di
truyền áp đặt cho mọi cá nhân của một chủng
tộc, tạo thành tâm hồn của chủng tộc đó. Nhưng
khi một số cá nhân này họp nhau lại thành đám
đông để hành động, thì những quan sát chứng
minh rằng chính sự sáp lại gần nhau của các cá
nhân sẽ sinh ra một số tính cách tâm lí mới,
chúng chồng lên những tính cách của chủng tộc,
và đôi khi chúng khác biệt sâu sắc so với tính
cách chủng tộc.
Những đám đông được tổ chức luôn có một vai
trò đáng kể trong đời sống các dân tộc, nhưng vai
trò ấy chưa bao giờ quan trọng như ngày hôm
nay. Hành động vô thức của những đám đông
thay thế cho hoạt động có ý thức của các cá nhân
là một trong những đặc điểm chính của thời hiện
tại.
Tôi thử tiếp cận vấn đề khó khăn về đám đông
theo các phương cách thuần tuý khoa học, nghĩa
là cố gắng có một phương pháp và gạt sang bên
những ý kiến, những lí thuyết và những chủ
nghĩa. Tôi nghĩ, đó là cách duy nhất để đi tới phát
hiện ra được vài mảng nhỏ chân lí, nhất là như ở
đây, khi đó là một vấn đề dễ kích động những ý
kiến dị biệt. Nhà bác học tìm cách nhận biết một
hiện tượng, không cần bận tâm tới các lợi ích mà
những ghi nhận của mình có thể đụng chạm.
Trong một bài viết mới đây, một nhà tư tưởng nổi
tiếng, ông Goblet d'Alviela, nhận xét rằng tôi
không thuộc về một trường phái hiện đại nào, đôi
khi tôi còn đứng ở phía đối nghịch với một số kết
luận của tất cả các trường phái này. Tôi hi vọng
rằng công trình mới này sẽ tiếp tục xứng đáng với
nhận xét ấy. Thuộc về một trường phái có nghĩa
là nhất thiết gắn bó với những thành kiến và
những thiên kiến của trường phái ấy.
Tuy nhiên, tôi cần phải giải thích cho độc giả
biết tại sao từ các nghiên cứu, tôi lại rút ra những
kết luận khác với những kết luận mà thoạt đầu
người ta có thể tưởng chúng hàm chứa; chẳng
g
g
g
;
g
hạn nhận thấy một não trạng cực kì thấp kém
của những đám đông, kể cả các hội đồng toàn
người ưu tú, và tuy vậy lại tuyên bố rằng, mặc dù
sự thấp kém ấy, cũng sẽ nguy hiểm nếu động
chạm tới tổ chức của chúng.
Đó là vì sự quan sát thật chăm chú các sự kiện
lịch sử luôn chỉ cho tôi thấy rằng những tổ chức
xã hội cũng phức tạp như tổ chức của mọi sinh
vật chúng ta không có khả năng làm chúng đột
nhiên phải chịu những biến đổi sâu sắc. Tự nhiên
đôi khi cũng cần đến những biện pháp triệt để,
nhưng không bao giờ theo ý của chúng ta; và
điều ấy giải thích tại sao không có gì nguy hại
cho một dân tộc bằng sự say cuồng những cải
cách vĩ đại, dù rằng những cải cách ấy có vẻ
tuyệt vời về mặt lí thuyết. Chúng chỉ có ích nếu
như ta có thể thay đổi ngay tức thời tâm hồn
những quốc gia. Thế mà, chỉ duy nhất thời gian
mới có khả năng như vậy. Cái ngự trị con người
chính là tư tưởng, tình cảm và tập tục, những
điều nằm trong bản thân chúng ta. Còn các thể
chế và luật Pháp lại là sự biểu hiện của tâm hồn
chúng ta, là sự biểu hiện những nhu cầu của nó.
Thoát thai từ tâm hồn, những thể chế và luật
pháp ắt sẽ không thể thay đổi tâm hồn ấy được.
Nghiên cứu những hiện tượng xã hội không thể
tách khỏi việc nghiên cứu các dân tộc, nơi sản
sinh ra chúng. Về mặt triết học, những hiện
tượng này có thể có một giá trị tuyệt đối, nhưng
về mặt thực hành, chúng chỉ có giá trị tương đối
mà thôi.
Vậy, khi nghiên cứu một hiện tượng xã hội, cần
phải xem xét nó lần lượt dưới hai mặt rất khác
nhau. Lúc đó, ta thấy rằng những bài học của lí
trí thuần tuý thường rất trái ngược với bài học
của lí trí thực tiễn. Hiếm có một dữ kiện nào, kể
cả dữ kiện vật lí, mà sự phân biệt này không áp
dụng vào được. Đứng ở góc độ chân lí tuyệt đối
một hình lập phương, một hình tròn là những
hình hình học bất biến, được xác định chặt chẽ
bằng một số công thức. Song, đứng ở góc độ mắt
thường, những hình hình học này có thể mang
các hình dáng rất khác nhau. Phép phối cảnh có
thể biến một hình lập phương thành hình tháp
hay hình vuông, có thể biến hình tròn thành hình
elip hay đường thẳng; và việc xem xét những
hình thức ảo này lại quan trọng hơn rất nhiều so
với những hình thức thực, bởi vì chúng là những
hình thức duy nhất được mắt ta nhìn thấy và môn
nhiếp ảnh lẫn hội hoạ có thể tái tạo được. Cái phi
thực, trong một số trường hợp, lại thật hơn là cái
thực. Hình dung các đối tượng bằng những hình
dáng hình học chính xác của chúng lại làm biến
dạng tự nhiên và khiến nó trở nên không thể
nhận ra được. Nếu chúng ta giả định một thế giới
mà cư dân của nó chỉ có thể sao chép hoặc chụp
ảnh sự vật mà không có khả năng sờ mó vào các
sự vật ấy thì họ sẽ rất khó có được một ý niệm
chính xác về hình dáng của chúng. Sự nhận thức
về hình thức này chỉ một số ít các nhà bác học là
có thể đạt được, vả chăng nó chỉ cho thấy một lợi
ích rất ít ỏi mà thôi.
Nhà triết học nghiên cứu những hiện tượng xã
hội phải luôn nhớ rằng bên cạnh giá trị lí thuyết,
những hiện tượng này còn có một giá trị thực
tiễn, và đứng về phương diện tiến hoá của các
nền văn minh, thì chỉ riêng giá trị thực tiễn là có
tầm quan trọng nào đó. Một ghi nhận như thế
khiến nhà triết học phải rất thận trọng trong
những kết luận mà ban đầu, quy luật hình như đã
áp đặt cho ông ta.
Còn nhiều lí do khác đòi hỏi ông ta phải thận
trọng. Các sự kiện xã hội phức tạp đến nỗi ta
không thể bao quát tổng thể và không thể tiên
đoán hậu quả của những ảnh hưởng tương hỗ
giữa chúng. Hình như đằng sau các sự kiện có thể
trông thấy được đôi khi còn ẩn giấu hàng nghìn
nguyên nhân không thể trông thấy. Những hiện
tượng xã hội có thể trông thấy được hình như là
kết quả tổng hợp của một công việc vô thức rộng
lớn vốn nằm bên ngoài khả năng phân tích của
chúng ta. Ta có thể ví chúng như những làn sóng
biểu hiện lên trên bề mặt những đảo lộn dưới đáy
sâu của đại dương mà ta không hề hay biết. Được
xem xét trong phần lớn những hành vi, các đám
đông thường cho thấy một não trạng thấp kém
đến kì lạ, nhưng lại có những hành vi khác tỏ ra
được hướng dẫn bởi nhiều lực lượng huyền bí mà
người xưa gọi là số phận, tự nhiên, thiên định,
còn chúng ta thì gọi là tiếng nói của người quá
cố, sức mạnh của những tiếng nói ấy ta không
thể bỏ qua, mặc dù ta không biết bản chất của
chúng là gì. Đôi khi hình như trong lòng các quốc
gia có những lực lượng ẩn ngầm hướng dẫn đám
đông. Ví dụ, có gì phức tạp hơn, logic hơn, tuyệt
vời hơn một ngôn ngữ? Và thử hỏi sản phẩm
được tổ chức tốt đẹp và tinh tế như thế sinh ra từ
đâu, nếu không phải từ tâm hồn vô thức của
những đám đông? Những viện hàn lâm thông thái
nhất, những nhà ngữ pháp học sáng giá nhất chỉ
làm công việc nặng nhọc ghi lại các quy luật đã
chi phối những ngôn ngữ này, và họ hoàn toàn
không có khả năng sáng tạo ra chúng. Ngay cả
những tư tưởng thiên tài của các vĩ nhân, liệu
chúng ta có chắc chắn rằng những tư tưởng ấy có
chuyên nhất là công trình của riêng họ không?
Hẳn nhiên bao giờ chúng cũng được sáng tạo bởi
những con người đơn độc; nhưng hành nghìn hạt
bụi mới tạo thành phù sa và chính từ phù sa ấy,
những tư tưởng mới nảy mầm. Phải chăng chính
tâm hồn của những đám đông đã hun đúc nên
chúng?
Chắc chắn đám đông bao giờ cũng vô thức,
nhưng chính cái vô thức ấy có lẽ là một trong
những bí ẩn của sức mạnh đám đông. Trong tự
nhiên, sinh vật chỉ bị chi phối bởi bản năng,
chúng thực hiện các hành động mà độ phức tạp
kì diệu làm ta phải ngạc nhiên. Lí trí là cái mà
nhân loại chỉ mới có được gần đây thôi và còn
quá không hoàn hảo để có thể vén lộ cho chúng
ta những quy luật của cái vô thức và nhất là thế
chỗ cho cái vô thức. Trong mọi hành động của
chúng ta, phần vô thức thì to lớn còn phần lí trí
thì nhỏ bé. Cái vô thức tác động như một lực
lượng hãy còn chưa được biết rõ.
Vậy nếu chúng ta muốn đứng trong những giới
hạn nhỏ hẹp nhưng chắc chắn của các sự vật mà
khoa học có thể nhận thức, chứ không đi lang
thang trong lãnh địa của phỏng đoán mơ hồ và
giả thuyết hư ảo, thì chúng ta chỉ cần xem xét
những hiện tượng mà chúng ta có thể hiểu được,
và hạn chế chúng ta trong sự xem xét này. Mọi
kết luận được rút ra từ quan sát của chúng ta
thường chỉ là sơ bộ, bởi vì, đằng sau những hiện
tượng mà chúng ta nhìn rõ, còn có những hiện
tượng khác chúng ta nhìn không rõ, và thậm chí
đằng sau cả những hiện tượng cuối cùng này, lại
còn những hiện tượng khác nữa mà chúng ta
không trông thấy.
Chú thích:
ắ
Le Bon muốn nhắc tới cuốn Quy luật tâm lí
về sự phát triển của các dân tộc (Les lois
psychologique de l'évolution des peuples), được
ông viết năm 1894.
1
Mục lục
LỜI GIỚI THIỆU
LỜI NÓI ĐẦU
DẪN LUẬN
Quyển I. TÂM HỒN NHỮNG ĐÁM ĐÔNG
Chương I. ĐẶC ĐIỂM TỔNG QUÁT CỦA ĐÁM ĐÔNG: QUY LUẬT TÂM LÍ VỀ
SỰ THỐNG NHẤT TINH THẦN CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương II. TÌNH CẢM VÀ ĐẠO ĐỨC CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương III. TƯ TƯỞNG, SỰ SUY LUẬN VÀ TRÍ TƯỞNG TƯỢNG CỦA ĐÁM
ĐÔNG
Chương IV. MỌI NIỀM TIN CỦA ĐÁM ĐÔNG ĐỀU MANG HÌNH THỨC TÔN
GIÁO
Quyển II. Ý KIẾN VÀ NIỀM TIN CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương I. NHỮNG NHÂN TỐ XA ẢNH HƯỞNG TỚI NIỀM TIN VÀ Ý KIẾN
CỦA ĐÁM ĐÔNG
Chương II. NHỮNG NHÂN TỐ TRỰC TIẾP ẢNH HƯỞNG TỚI Ý KIẾN CỦA
ĐÁM ĐÔNG
Chương III. NGƯỜI CẦM ĐẦU ĐÁM ĐÔNG VÀ CÁCH THUYẾT PHỤC CỦA
HỌ
Chương IV. NHỮNG GIỚI HẠN VỀ TÍNH HAY THAY ĐỔI CỦA NIỀM TIN VÀ
Ý KIẾN ĐÁM ĐÔNG
Quyển III. PHÂN LOẠI VÀ MÔ TẢ CÁC LOẠI ĐÁM ĐÔNG KHÁC NHAU
Chương I. PHÂN LOẠI ĐÁM ĐÔNG
Chương II. ĐÁM ĐÔNG BỊ COI LÀ PHẠM TỘI
Chương III. HỘI THẨM TÒA ĐẠI HÌNH
Chương IV. ĐÁM ĐÔNG BẦU CỬ
Chương V. NGHỊ VIỆN
DẪN LUẬN
Thời đại của những đám đông
Sự tiến triển của thời hiện tại. - Những thay
đổi lớn của văn minh là kết quả của những thay
đổi trong tư tưởng của các dân tộc. - Niềm tin
mới vào sức mạnh của đám đông. - Nó biến đổi
chính trị truyền thống của những Nhà nước. - Sự
lên ngôi của các tầng lớp bình dân xảy ra như thế
nào và sức mạnh của tầng lớp ấy tác động ra sao.
- Hậu quả tất yếu của sức mạnh những đám
đông. – Chúng chỉ thực hiện chức năng của kẻ
phá hoại. - Chính nhờ đám đông mà tiến trình tan
rã của các nền văn minh già cỗi mới kết thúc
được. - Sự thiếu hiểu biết chung về môn tâm lí
học đám đông. - Tầm quan trọng của việc nghiên
cứu đám đông đối với những nhà lập pháp và các
chính khách.
Những đảo lộn to lớn xảy ra trước những thay
đổi của các nền văn minh, như sự sụp đổ của Đế
chế La Mã và việc thành lập Đế chế Ả Rập, mới
thoạt nhìn, hình như được quyết định chủ yếu do
những biến đổi chính trị to lớn: ngoại bang xâm
lược, các triều đại bị sụp đổ. Nhưng một nghiên
cứu chăm chú tỉ mỉ hơn về những biến cố này cho
thấy rằng đằng sau những nguyên nhân bề mặt,
thường có nguyên nhân thực sự là sự biến đổi sâu
sắc trong tư tưởng của các dân tộc. Những đảo
lộn lịch sử thực sự không phải là những đảo lộn
làm chúng ta ngạc nhiên vì mức độ lớn lao và bạo
liệt của chúng. Chỉ những thay đổi quan trọng,
nơi sinh ra sự đổi mới cho các nền văn minh mới
là những gì diễn ra trong tư tưởng, quan niệm và
niềm tin. Các biến cố đáng nhớ của lịch sử là hiệu
quả có thể thấy được của nhiều thay đổi không
thể nhìn thấy trong tư tưởng con người. Sở dĩ
những biến cố lớn lao ấy rất hiếm khi biểu lộ, đó
là vì ở một chủng tộc chẳng có gì bền vững hơn
nền tảng di truyền trong tư tưởng của nó.
Thời hiện tại là một trong những thời điểm
quyết định, vì đó là lúc tư tưởng con người đang
trong tiến trình tự biến đổi.
Có hai nhân tố cơ bản làm nền tảng cho sự
biến đổi này. Nhân tố thứ nhất là sự phá huỷ
niềm tin tôn giáo, chính trị và xã hội, vốn là
nguồn cội sinh ra mọi yếu tố của nền văn minh
chúng ta. Nhân tố thứ hai là sự sáng tạo ra
những điều kiện sinh tồn và suy tưởng hoàn toàn
mới, kết quả của những phát kiến mới trong khoa
học và công nghiệp hiện đại.
Những tư tưởng của quá khứ, dù đã bị phá huỷ
phân nửa, vẫn còn rất mạnh, và những tư tưởng
phải thế chỗ cho chúng thì đang hình thành, nên
thời hiện đại biểu thị một giai đoạn quá độ và vô
chính phủ.
Từ giai đoạn này, dĩ nhiên có phần hỗn độn,
thật không dễ để nói giờ đây cái gì có thể nảy
sinh. Sẽ có các tư tưởng cơ bản nào để trên đó
xây dựng những xã hội nối tiếp xã hội của chúng
ta? Chúng ta vẫn chưa biết được. Nhưng, ngay từ
lúc này, điều chúng ta đã thấy rõ, đó là để tổ
chức chúng, cần phải tính tới một sức mạnh mới,
tối cao của thời hiện đại: quyền lực của những
đám đông. Trên đống đổ nát của biết bao tư
tưởng, được coi là chân lí trước đây nhưng nay đã
chết, của biết bao quyền lực mà các cuộc cách
mạng đã liên tiếp đập tan, thì quyền lực của đám
đông là cái độc nhất vượt lên, và nó hình như
sớm được giao cho sứ mệnh hấp thu hết những
quyền lực khác. Trong khi mọi niềm tin cổ xưa
đều chao đảo và biến mất, những cột trụ già cỗi
của xã hội lần lượt sụp đổ thì quyền lực của đám
đông là lực lượng duy nhất chẳng gì đe doạ nổi và
uy thế của nó ngày càng lớn lên. Thời đại mà
chúng ta đang bước vào sẽ thực sự là THỜI ĐẠI
CỦA NHỮNG ĐÁM ĐÔNG.
Chỉ mới một thế kỉ trước đây thôi, đường lối
chính trị truyền thống của các Nhà nước và sự đối
nghịch giữa các vua chúa vẫn là nhân tố chính
của những biến cố. Ý kiến của những đám đông ít
có giá trị, và thậm chí thường chẳng có chút giá
trị gì. Còn ngày nay, truyền thống chính trị,
khuynh hướng cá nhân của các nhà cai trị, sự đối
nghịch giữa họ lại không còn quan trọng nữa, trái
lại, chính tiếng nói của đám đông đã trở nên có
ưu thế hơn. Tiếng nói ấy áp đặt cho vua chúa
cách hành xử và vua chúa có nhiệm vụ phải nghe
theo nó. Số phận của các quốc gia không còn
được sắp đặt trong những hội đồng của các ông
hoàng nữa, mà ở trong tâm hồn của những đám
đông.
Sự lên ngôi của các giai cấp bình dân trong đời
sống chính trị, nghĩa là, trên thực tế, họ đã dần
dần biến đổi thành giai cấp lãnh đạo, là một
trong những đặc điểm nổi bật của thời đại quá độ
của chúng ta. Thực ra, việc phổ thông đầu phiếu,
được thực hiện từ lâu nhưng ít có ảnh hưởng,
không phải là đặc điểm đánh dấu sự lên ngôi của
giai cấp bình dân như ta vẫn tưởng. Việc dần nảy
sinh quyền lực đám đông thoạt tiên được bắt đầu
bằng sự phổ biến một số tư tưởng từ từ du nhập
vào tâm trí con người, rồi từng bước liên kết
những cá nhân để dẫn tới việc hiện thực hoá các
quan niệm lí thuyết. Chính thông qua liên kết mà
những đám đông cuối cùng đã hình thành nên tư
tưởng, nếu chưa thật xác đáng thì ít ra cũng dứt
khoát về quyền lợi và có ý thức về sức mạnh của
mình. Những đám đông thành lập các nghiệp
đoàn mà mọi giới có thẩm quyền đều phải lần
lượt đầu hàng, các hiệp hội lao động nhằm điều
tiết những điều kiện lao động và tiền công, bất
chấp mọi quy luật kinh tế. Họ gửi vào các cơ
quan chính phủ những đại biểu không giữ ý kiến
riêng và sự độc lập cá nhân nữa mà thường chỉ
còn là những người phát ngôn cho các ủy ban đã
lựa chọn mình.
Ngày nay những yêu sách của đám đông càng
ngày càng rõ rệt và không dẫn đến điều gì khác
hơn là phá huỷ toàn bộ xã hội hiện tại, để đưa nó
về chủ nghĩa cộng sản nguyên thuỷ, trạng thái
thông thường của mọi nhóm người trước buổi
bình minh của văn minh. Hạn chế giờ lao động,
trưng thu hầm mỏ, đường sắt, nhà máy và đất
đai; chia đều sản phẩm, loại trừ mọi tầng lớp trên
vì quyền lợi của các giai cấp bình dân v.v… Đó là
các yêu sách.
Thiếu khả năng suy luận, ngược lại đám đông
đủ khả năng hành động. Qua sự tổ chức hiện
thời, sức mạnh của đám đông trở nên to lớn vô
cùng. Những tín điều mà ta thấy đang nảy sinh
chẳng mấy chốc sẽ có sức mạnh như những tín
điều xưa cũ, nghĩa là sức mạnh chuyên chế và tối
thượng không được phép bàn cãi, Luật thiêng của
đám đông sẽ thay thế luật thiêng của vua chúa.
Các nhà văn ủng hộ tầng lớp tư sản hiện thời,
những người đại diện tốt nhất cho tầng lớp này,
tầng lớp có tư tưởng chật hẹp, đầu óc thiển cận,
chủ nghĩa hoài nghi hơi thô thiển, tính ích kỉ đôi
khi hơi quá đáng, thì gần như điên lên trước cái
quyền lực mới đang lớn mạnh. Và để đấu tranh
chống lại sự hỗn loạn của tâm trí con người, các
nhà văn này đã tuyệt vọng kêu gọi tới sức mạnh
tinh thần của Nhà thờ mà xưa kia họ vốn coi
thường. Họ nói với chúng ta rằng khoa học đã
phá sản, và trở về từ La Mã với lòng sám hối, họ
nhắc nhở chúng ta những bài học về chân lí đã
được thần khải. Nhưng những kẻ quy đạo mới
này quên là đã chậm quá mất rồi. Nếu thực sự ơn
phước đã chạm tới họ, thì ơn phước cũng không
có quyền năng như thế đối với những linh hồn
chẳng mấy bận tâm đến bao lo lắng đang ám ảnh
các tân tín đồ này. Ngày nay, những đám đông
không còn thích các thần thánh mà ngày xưa
chính họ cũng không thích và từng góp phần vào
đập phá. Không có sức mạnh thần thánh hoặc
con người nào có thể bắt những dòng sông chảy
ngược về nguồn.
Khoa học không hề bị phá sản và không dính
gì tới tình trạng vô chính phủ trong tinh thần con
người hiện đại, cũng chẳng dính gì tới quyền lực
mới đang lớn lên giữa tình trạng vô chính phủ
này. Khoa học đã hứa hẹn cho chúng ta chân lý,
hay ít nhất cho ta sự nhận thức về những quan
hệ mà trí tuệ của chúng ta có thể nắm bắt; nó
không bao giờ hứa hẹn cho chúng ta hoà bình và
hạnh phúc. Vô cùng thờ ơ với tình cảm của chúng
ta, khoa học không nghe lời than vãn của chúng
ta. Chính chúng ta phải cố gắng sống với khoa
học, bởi vì chẳng gì có thể phục hồi những ảo
tưởng đã bị nó phá huỷ.
Những triệu chứng phổ biến, thấy được ở mọi
quốc gia chỉ cho ta thấy rõ sự tăng nhanh quyền
lực của những đám đông, và không cho phép ta
giả định rằng quyền lực này sắp phải ngừng lớn
lên. Dù nó mang lại cho ta điều gì, ta cũng đành
phải chịu.
Mọi biện luận chống lại quyền lực của đám
đông chỉ là những ngôn từ vô ích. Hẳn có thể sự
lên ngôi của đám đông đánh dấu một trong
những chặng đường cuối cùng của các nền văn
minh Tây phương, một sự quay hẳn về những
thời kì vô chính phủ hỗn tạp, vốn hình như bao
giờ cũng phải xảy ra trước khi khai sinh một xã
hội mới. Nhưng chúng ta làm thế nào để ngăn
cản nó?
Cho đến nay, vai trò rõ ràng nhất của đám
đông là tạo ra những cuộc phá huỷ to lớn đối với
các nền văn minh đã quá già cỗi. Thực thế, không
phải chỉ ngày hôm nay, vai trò này mới xuất hiện
trên thế giới. Lịch sử cho ta biết rằng khi những
lực lượng tinh thần làm nền móng cho một nền
văn minh đã mất hết ảnh hưởng, thì sự tan rã
cuối cùng sẽ được thực hiện bởi những đám đông
vô thức và tàn nhẫn, được gọi khá chuẩn xác là
những kẻ dã man. Cho đến nay, những nền văn
minh chỉ được tạo ra và được dẫn dắt bởi một
nhóm nhỏ quý tộc trí thức, chứ không bao giờ bởi
những đám đông. Đám đông chỉ có sức mạnh để
phá hoại. Sự thống trị của đám đông bao giờ
cũng biểu thị một thời kì dã man. Một nền văn
minh bao hàm những quy tắc cố định, kỉ luật, sự
chuyển từ bản năng sang lí trí, có viễn kiến về
tương lai, một trình độ cao về văn hoá, những
điều kiện mà đám đông, phó mặc cho chính
mình, luôn tỏ ra tuyệt nhiên không thể thực hiện
nổi. Do sức mạnh duy nhất chỉ là phá hoại, sự tan
rã của những cơ thể ốm yếu hay những thây ma.
Khi tòa lâu đài của một nền văn minh đã bị mục
ruỗng, thì bao giờ cũng chính những đám đông sẽ
đưa nó tới chỗ sụp đổ. Chính lúc đó xuất hiện vai
trò chủ đạo của đám đông, và trong một khoảnh
khắc, triết lí số đông hình như là thứ triết lý duy
nhất của lịch sử.
Nền văn minh của chúng ta liệu có giống như
thế không? Đó là điều chúng ta có thể lo sợ,
nhưng đó cũng là điều mà chúng ta vẫn còn chưa
thể biết rõ.
Dù sao chăng nữa, ta phải đành lòng chịu sự
thống trị của đám đông, bởi vì có nhiều bàn tay
không biết lo xa đã lần lượt lật bỏ tất cả những
rào cản có thể kìm giữ nó lại.
Nhưng đám đông ấy bắt đầu được ta nói tới
nhiều, nhưng ta hiểu về chúng còn quá ít. Các
nhà tâm lí học chuyên nghiệp thì sống cách xa
đám đông, luôn không biết về họ, và khi quan
tâm tới họ thì lại chỉ quan tâm tới tội ác mà đám
đông có thể phạm phải. Tất nhiên, đã có những
đám đông tội phạm, nhưng cũng có những đám
đông đức hạnh, những đám đông anh hùng, và
nhiều loại đám đông khác nữa. Tội ác của đám
đông chỉ là một trường hợp đặc biệt trong tâm lí
học đám đông. Và ta không thể biết về cấu tạo
ằ
tinh thần của đám đông bằng cách chỉ nghiên cứu
tội ác của nó, cũng như ta sẽ không thể biết cấu
tạo tinh thần của một cá nhân nếu chỉ đơn thuần
mô tả những thói hư tật xấu của cá nhân ấy.
Tuy nhiên nói đúng ra, tất cả những chúa tể
trên thế giới, tất cả những bậc sáng lập ra các
tôn giáo hay các đế chế, những thánh tông đồ
của mọi tín ngưỡng, những chính khách nổi tiếng,
và trong một lĩnh vực khiêm tốn hơn, những
người đứng đầu bình thường của các tập thể nho
nhỏ, bao giờ cũng là những nhà tâm lí học không
tự giác, họ có hiểu biết về tâm hồn đám đông,
một hiểu biết bản năng nhưng thường rất chắc
chắn; và chính vì thế nên họ mới dễ dàng trở
thành người lãnh đạo. Napoléon hiểu sâu sắc tâm
lí những đám đông của đất nước mà ông thống
trị, nhưng đôi khi ông lại không hiểu biết một
cách đầy đủ tâm lí những đám đông thuộc các
chủng tộc khác*[1], và chính vì không hiểu biết
nó, nên khi tiến hành các cuộc chiến tranh ở Tây
Ban Nha và nhất là ở Nga, sức mạnh của ông vấp
phải sự đối kháng sẽ sớm hạ gục ông.
Ngày nay, sự hiểu biết về tâm lí học đám đông
là chỗ dựa cuối cùng của chính khách nào muốn
hay không muốn cai trị đám đông - điều này đã
trở nên rất khó khăn - nhưng ít ra không bị đám
đông điều khiển quá nhiều.
Chỉ khi hiểu sâu một chút tâm lí học đám
đông, ta mới hiểu luật pháp và thiết chế ít có tác
động tới đám đông đến chừng nào; đám đông
khó có được những ý kiến bất kì nào nằm bên
ngoài những ý kiến đã áp đặt cho họ; không thể
dẫn dắt đám đông bằng những quy tắc dựa trên
sự công minh mang tính lí thuyết thuần tuý mà
phải bằng việc tìm ra cái gì có thể gây ấn tượng
và lôi cuốn họ. Ví dụ, nếu một nhà lập pháp
muốn thiết lập một thứ thuế mới, liệu ông ta có
phải chọn thứ thuế công bằng nhất về mặt lí
thuyết hay không? Chắc không đời nào! Thứ thuế
bất công nhất có thể là thứ thuế tốt nhất với đám
đông xét về mặt thực tế. Nếu thứ thuế ấy kém
minh bạch nhất, đồng thời bề ngoài lại ít nặng nề
nhất, nó sẽ dễ dàng được chấp nhận nhất. Vì thế
nên một thứ thuế gián thu, dù nó rất nặng, sẽ
luôn được đám đông chấp nhận, bởi vì nó được
trả hàng ngày vào đồ tiêu dùng bằng những phần
nhỏ từng xu, nó không làm phiền đến những thói
g
,
g
p
g
quen của đám đông, và nó không gây ấn tượng
cho họ. Nếu thay nó bằng thuế luỹ tiến đánh vào
đồng lương hay thu nhập khác, và phải trả ngay
một lần, thì về mặt lí thuyết, dù thuế này nhẹ
hơn mười lần so với thuế gián thu, nó vẫn gây ra
sự nhất loạt phản đối. Thực vậy, những đồng xu
không nhìn thấy hàng ngày được thay thế bằng
một món tiền tương đối lớn, có vẻ như rất to vào
cái ngày phải nộp, do đó nó rất ấn tượng. Thuế
chỉ tỏ vẻ nhẹ nếu nó được để dành từng xu một;
nhưng phương pháp tiết kiệm ấy biểu thị một
mức độ biết nhìn xa trông rộng mà đám đông
không thể có.
Ví dụ trên đây là đơn giản nhất, sự đúng đắn
của nó dễ dàng nhận thấy. Nó đã không thoát
khỏi [con mắt] một nhà tâm lí học như Napoléon,
nhưng các nhà lập pháp không hiểu tâm hồn đám
đông sẽ không nhận thấy nó. Kinh nghiệm chưa
dạy dỗ họ đến nơi đến chốn để hiểu rằng, con
người không bao giờ cư xử theo những quy định
của lí trí thuần tuý.
Tâm lí học đám đông có thể có nhiều ứng dụng
khác. Hiểu biết nó có thể làm sáng tỏ phần lớn
những hiện tượng lịch sử, kinh tế mà nếu thiếu
nó sẽ hoàn toàn không thể hiểu nổi. Tôi sẽ có dịp
chỉ ra rằng nếu như nhà sử học hiện đại xuất sắc
nhất của chúng ta, ngài Taine[2], đôi khi đã hiểu
không đầy đủ những biến cố của cuộc Đại cách
mạng Pháp, đó là vì ông chưa bao giờ nghĩ tới
việc nghiên cứu tâm hồn những đám đông. Trong
việc nghiên cứu thời kì phức tạp ấy, ông đã dùng
phương pháp mô tả của những nhà tự nhiên chủ
nghĩa làm hướng đạo. Nhưng, trong những hiện
tượng mà nhà tự nhiên chủ nghĩa nghiên cứu,
những lực lượng tinh thần ít có mặt. Thực ra
chính những lực lượng ấy mới là động lực chính
của lịch sử.
Do đó, chỉ đơn thuần xem xét về mặt thực
tiễn, việc nghiên cứu tâm lí học đám đông là việc
xứng đáng phải làm. Dù chỉ có một lợi ích đơn
thuần là thoả trí tò mò, thì nó vẫn xứng đáng
được nghiên cứu. Thật thú vị khi ta giải mã được
động cơ những hành vi của con người, cũng như
khi giải mã được một khoáng vật hay một thực
vật.
Nghiên cứu của chúng...
 





