BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Viếng Lăng Bác - Bài giảng

    Tam Li Hoc Dam Dong - Gustave Le Bon

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 19h:33' 09-03-2024
    Dung lượng: 1.2 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    Table of Contents
    LỜI GIỚI THIỆU
    LỜI NÓI ĐẦU
    DẪN LUẬN
    Quyển I. TÂM HỒN NHỮNG ĐÁM ĐÔNG
    Chương I. ĐẶC ĐIỂM TỔNG QUÁT CỦA ĐÁM
    ĐÔNG: QUY LUẬT TÂM LÍ VỀ SỰ THỐNG
    NHẤT TINH THẦN CỦA ĐÁM ĐÔNG
    Chương II. TÌNH CẢM VÀ ĐẠO ĐỨC CỦA ĐÁM
    ĐÔNG
    Chương III. TƯ TƯỞNG, SỰ SUY LUẬN VÀ TRÍ
    TƯỞNG TƯỢNG CỦA ĐÁM ĐÔNG
    Chương IV. MỌI NIỀM TIN CỦA ĐÁM ĐÔNG
    ĐỀU MANG HÌNH THỨC TÔN GIÁO
    Quyển II. Ý KIẾN VÀ NIỀM TIN CỦA ĐÁM ĐÔNG
    Chương I. NHỮNG NHÂN TỐ XA ẢNH HƯỞNG
    TỚI NIỀM TIN VÀ Ý KIẾN CỦA ĐÁM ĐÔNG
    Chương II. NHỮNG NHÂN TỐ TRỰC TIẾP ẢNH
    HƯỞNG TỚI Ý KIẾN CỦA ĐÁM ĐÔNG
    Chương III. NGƯỜI CẦM ĐẦU ĐÁM ĐÔNG VÀ
    CÁCH THUYẾT PHỤC CỦA HỌ
    Chương IV. NHỮNG GIỚI HẠN VỀ TÍNH HAY
    THAY ĐỔI CỦA NIỀM TIN VÀ Ý KIẾN ĐÁM
    ĐÔNG
    Quyển III. PHÂN LOẠI VÀ MÔ TẢ CÁC LOẠI ĐÁM
    ĐÔNG KHÁC NHAU
    Chương I. PHÂN LOẠI ĐÁM ĐÔNG
    Chương II. ĐÁM ĐÔNG BỊ COI LÀ PHẠM TỘI
    Chương III. HỘI THẨM TÒA ĐẠI HÌNH
    Chương IV. ĐÁM ĐÔNG BẦU CỬ
    Chương V. NGHỊ VIỆN

    TÂM LÍ HỌC ĐÁM
    ĐÔNG
    GUSTAVE LE BON
    Chia sẻ ebook : http://downloadsach.com/
    Follow
    us
    on
    Facebook
    https://www.facebook.com/caphebuoitoi

    :

    LỜI GIỚI THIỆU
    Gustave Le Bon (1841 - 1931) là nhà tâm lí
    học xã hội nổi tiếng người Pháp với lí thuyết về
    đám đông. Ông viết về nhiều lĩnh vực và có ảnh
    hưởng rất lớn trong xã hội Pháp đương thời.
    Những tác phẩm nền tảng nhất của Le Bon là Quy
    luật tâm lí vì sự phát triển của các dân tộc (Les
    Lois psychologiques de l'évolution des peuples,
    1894), Cách mạng Pháp và tâm tí học về các
    cuộc cách mạng (La Révolution francaise et la
    psychologie des révolutions, 1912) và Tâm lí học
    đám đông (La Psychologie des foules, 1895). Các
    tác phẩm khác của Le Bon bao gồm: Tâm lí học
    về chủ nghĩa xã hội (Psychologie du socialisme,
    1898), Bài học tâm lí từ cuộc chiến tranh châu Âu
    (Enseignements psychologies de la guerre
    Européenne, 1915), Tâm lí học thời đại mới (La
    psychologie des temps nouveaux, 1920) và Một
    thế giới mất cân bằng (Le déséquilibre du monde,
    1924)…
    Le Bon tập trung nghiên cứu về tính cách và
    tinh thần của các dân tộc, nhưng ưu thế và quá
    trình phát triển của các chủng tộc. Ông đặt lên
    hàng đầu khái niệm vô thức tập thể mà chính
    Freud đã thừa nhận vai trò của nó đối với các
    nghiên cứu về phân tâm học của mình. Le Bon
    cho rằng con người được xác định bởi những nhân
    tố sinh học và tâm lí học. Trong những quy luật
    lớn thường xuyên chỉ đạo sự tiến triển chung của
    mỗi nền văn minh, “những cái phổ biến nhất, khó
    quy giản nhất sinh ra từ cấu tạo tinh thần của
    những chủng tộc” (Quy luật tâm lí về sự phát
    triển của các dân tộc). Thực ra, mỗi dân tộc “đều
    có một cấu tạo tinh thần cố định như tính chất
    giải phẫu học của nó” (sách đã dẫn), được biểu
    hiện trong “tâm hồn” nó. Tất cả các thể chế,
    niềm tin, mọi nghệ thuật của một dân tộc chỉ là
    “mạng lưới hữu hình trong tâm hồn vô hình của
    nó”. Chủng tộc cũng núp bóng trong mỗi cá nhân
    cấu thành một dân tộc; nó chi phối mọi hành
    động, mọi ham muốn, mọi xung năng của anh ta,
    nó tạo nên vô thức tập thể của anh ta.
    Trong khi đó, thời đại của Le Bon đã chứng
    kiến bản chất di truyền của chủng tộc bị lung lay
    với sự lớn mạnh của đám đông và những bất ổn
    Ô

    về chính trị, xã hội. Ông đã trải nghiệm qua Công
    xã Paris năm 1871 và nghiên cứu rất kỹ về cuộc
    Cách mạng Pháp năm 1789 và 1848. Những trải
    nghiệm ấy mang lại kinh nghiệm thực tiễn cho
    việc hình thành tư tưởng về đám đông của ông.
    Tư tưởng ấy được thể hiện rõ rệt nhất trong tác
    phẩm Tâm lí học đám đông.
    Theo Le Bon, những đám đông luôn bị vô thức
    tác động, họ xử sự như người nguyên thuỷ, người
    dã man, không có khả năng suy nghĩ, suy luận,
    mà chỉ cảm nhận bằng hình ảnh, bằng sự liên kết
    các ý tưởng; họ không kiên định, thất thường, và
    đi từ trạng thái nhiệt tình cuồng loạn nhất đến
    ngây dại ngớ ngẩn nhất. Vả lại, do thể tạng của
    mình, những đám đông ấy cần có một thủ lĩnh,
    một người cầm đầu, kẻ có thể dẫn dắt họ và cho
    bản năng của họ một ý nghĩa. “Những người cầm
    đầu hiện nay càng có khuynh hướng thay thế
    quyền lực công thì quyền lực công càng bị chất
    vấn và suy yếu đi. Sự bạo ngược của những ông
    chủ mới này làm đám đông ngoan ngoãn vâng lời
    họ hơn cả khi họ đã từng vâng lời chính quyền”
    (Tâm lí học đám đông, tr.179). Vậy nên, thời hiện
    đại được định tính bằng sự lên ngôi của những
    đám đông được người cầm đầu dẫn dắt. Và trong
    thời đại hỗn loạn và lo âu ấy, bằng việc đánh mất
    lí tưởng của mình, chủng tộc đã đánh mất tâm
    hồn mình và lại trở thành đám đông. “Nền văn
    minh chẳng có sự cố định nào, bị phó mặc cho
    mọi ngẫu nhiên. Bọn tiện nhân thành bà hoàng
    và những kẻ dã man tiến lên” (Tâm lí học đám
    đông, tr.303).
    Ngày nay, lí thuyết của Le Bon vẫn chịu một số
    chỉ trích. Ông được coi là người đặt nền móng cho
    chủ nghĩa quốc gia hiện đại. Nhưng dù thế nào đi
    nữa thì Le Bon cũng chỉ là “con đẻ” của thời đại
    ông. Nỗi lo sợ về nạn bạo lực, sự hoành hành,
    chứng khủng bố của những đám đông thể hiện
    rất rõ trong lí thuyết của ông. Ông dường như đã
    quá phóng đại về nguy cơ bạo lực và sự vô lí của
    đám đông. Tuy vậy, cuốn sách này thực sự là tác
    phẩm quan trọng và có ảnh hưởng lớn tới tư
    tưởng thời đại của Le Bon nói chung cũng như
    tâm lí học hiện đại nói riêng. Dù tán thành hay
    phản đối, dù đôi chỗ Le Bon có phần cực đoan, và
    những quan điểm, luận thuyết của ông còn phải
    tranh luận, nhưng NXB Tri Thức cũng xin mạnh


    dạn giới thiệu tác phẩm của Le Bon với độc giả
    Việt Nam như một cái nhìn tham khảo. Hơn nữa,
    việc xem xét, tìm hiểu nhiều học thuyết trên thế
    giới, thậm chí trái ngược, mâu thuẫn với nhau
    thiết nghĩ là điều rất hữu ích cho các sinh hoạt tri
    thức của Việt Nam, làm đa dạng hoá và phong
    phú thêm tri thức của người Việt Nam. Trên tinh
    thần đó, chúng tôi sẽ tiếp tục cho ra mắt bản dịch
    cuốn Trí tuệ đám đông (The Wisdom of Crowds),
    một trong những cuốn sách bán chạy nhất năm
    2005, mang một cái nhìn khác với cái nhìn của Le
    Bon về đám đông, để độc giả có thêm thông tin
    khách quan về chủ đề này.
    Trong khi đọc cuốn sách này, xin độc giả lưu ý
    rằng cụm từ chủ nghĩa xã hội (socialisme) mà Le
    Bon nhắc đến ở đây có hàm ý là chủ nghĩa xã
    hội không tưởng đã tồn tại từ thế kỉ XVI đến
    thế kỉ XIX ở Tây Âu, chứ không đồng nghĩa với
    khái niệm chủ nghĩa xã hội khoa học của Marx
    và Engels mà Lenin đã vận dụng để xây dựng nên
    Liên bang Xô viết và trở thành nền tảng tư tưởng
    của phe xã hội chủ nghĩa được hình thành sau
    Chiến tranh thế giới thứ hai.
    Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
    Tháng 6/2006
    NXB TRI THỨC

    LỜI NÓI ĐẦU
    Trong cuốn sách trước[1], tôi đã dành để mô tả
    tâm hồn của chủng tộc. Bây giờ, tôi sẽ nghiên
    cứu tâm hồn những đám đông.
    Toàn thể những tính cách chung mà sự di
    truyền áp đặt cho mọi cá nhân của một chủng
    tộc, tạo thành tâm hồn của chủng tộc đó. Nhưng
    khi một số cá nhân này họp nhau lại thành đám
    đông để hành động, thì những quan sát chứng
    minh rằng chính sự sáp lại gần nhau của các cá
    nhân sẽ sinh ra một số tính cách tâm lí mới,
    chúng chồng lên những tính cách của chủng tộc,
    và đôi khi chúng khác biệt sâu sắc so với tính
    cách chủng tộc.
    Những đám đông được tổ chức luôn có một vai
    trò đáng kể trong đời sống các dân tộc, nhưng vai
    trò ấy chưa bao giờ quan trọng như ngày hôm
    nay. Hành động vô thức của những đám đông
    thay thế cho hoạt động có ý thức của các cá nhân
    là một trong những đặc điểm chính của thời hiện
    tại.
    Tôi thử tiếp cận vấn đề khó khăn về đám đông
    theo các phương cách thuần tuý khoa học, nghĩa
    là cố gắng có một phương pháp và gạt sang bên
    những ý kiến, những lí thuyết và những chủ
    nghĩa. Tôi nghĩ, đó là cách duy nhất để đi tới phát
    hiện ra được vài mảng nhỏ chân lí, nhất là như ở
    đây, khi đó là một vấn đề dễ kích động những ý
    kiến dị biệt. Nhà bác học tìm cách nhận biết một
    hiện tượng, không cần bận tâm tới các lợi ích mà
    những ghi nhận của mình có thể đụng chạm.
    Trong một bài viết mới đây, một nhà tư tưởng nổi
    tiếng, ông Goblet d'Alviela, nhận xét rằng tôi
    không thuộc về một trường phái hiện đại nào, đôi
    khi tôi còn đứng ở phía đối nghịch với một số kết
    luận của tất cả các trường phái này. Tôi hi vọng
    rằng công trình mới này sẽ tiếp tục xứng đáng với
    nhận xét ấy. Thuộc về một trường phái có nghĩa
    là nhất thiết gắn bó với những thành kiến và
    những thiên kiến của trường phái ấy.
    Tuy nhiên, tôi cần phải giải thích cho độc giả
    biết tại sao từ các nghiên cứu, tôi lại rút ra những
    kết luận khác với những kết luận mà thoạt đầu
    người ta có thể tưởng chúng hàm chứa; chẳng

    g
    g
    g
    ;
    g
    hạn nhận thấy một não trạng cực kì thấp kém
    của những đám đông, kể cả các hội đồng toàn
    người ưu tú, và tuy vậy lại tuyên bố rằng, mặc dù
    sự thấp kém ấy, cũng sẽ nguy hiểm nếu động
    chạm tới tổ chức của chúng.
    Đó là vì sự quan sát thật chăm chú các sự kiện
    lịch sử luôn chỉ cho tôi thấy rằng những tổ chức
    xã hội cũng phức tạp như tổ chức của mọi sinh
    vật chúng ta không có khả năng làm chúng đột
    nhiên phải chịu những biến đổi sâu sắc. Tự nhiên
    đôi khi cũng cần đến những biện pháp triệt để,
    nhưng không bao giờ theo ý của chúng ta; và
    điều ấy giải thích tại sao không có gì nguy hại
    cho một dân tộc bằng sự say cuồng những cải
    cách vĩ đại, dù rằng những cải cách ấy có vẻ
    tuyệt vời về mặt lí thuyết. Chúng chỉ có ích nếu
    như ta có thể thay đổi ngay tức thời tâm hồn
    những quốc gia. Thế mà, chỉ duy nhất thời gian
    mới có khả năng như vậy. Cái ngự trị con người
    chính là tư tưởng, tình cảm và tập tục, những
    điều nằm trong bản thân chúng ta. Còn các thể
    chế và luật Pháp lại là sự biểu hiện của tâm hồn
    chúng ta, là sự biểu hiện những nhu cầu của nó.
    Thoát thai từ tâm hồn, những thể chế và luật
    pháp ắt sẽ không thể thay đổi tâm hồn ấy được.
    Nghiên cứu những hiện tượng xã hội không thể
    tách khỏi việc nghiên cứu các dân tộc, nơi sản
    sinh ra chúng. Về mặt triết học, những hiện
    tượng này có thể có một giá trị tuyệt đối, nhưng
    về mặt thực hành, chúng chỉ có giá trị tương đối
    mà thôi.
    Vậy, khi nghiên cứu một hiện tượng xã hội, cần
    phải xem xét nó lần lượt dưới hai mặt rất khác
    nhau. Lúc đó, ta thấy rằng những bài học của lí
    trí thuần tuý thường rất trái ngược với bài học
    của lí trí thực tiễn. Hiếm có một dữ kiện nào, kể
    cả dữ kiện vật lí, mà sự phân biệt này không áp
    dụng vào được. Đứng ở góc độ chân lí tuyệt đối
    một hình lập phương, một hình tròn là những
    hình hình học bất biến, được xác định chặt chẽ
    bằng một số công thức. Song, đứng ở góc độ mắt
    thường, những hình hình học này có thể mang
    các hình dáng rất khác nhau. Phép phối cảnh có
    thể biến một hình lập phương thành hình tháp
    hay hình vuông, có thể biến hình tròn thành hình
    elip hay đường thẳng; và việc xem xét những
    hình thức ảo này lại quan trọng hơn rất nhiều so

    với những hình thức thực, bởi vì chúng là những
    hình thức duy nhất được mắt ta nhìn thấy và môn
    nhiếp ảnh lẫn hội hoạ có thể tái tạo được. Cái phi
    thực, trong một số trường hợp, lại thật hơn là cái
    thực. Hình dung các đối tượng bằng những hình
    dáng hình học chính xác của chúng lại làm biến
    dạng tự nhiên và khiến nó trở nên không thể
    nhận ra được. Nếu chúng ta giả định một thế giới
    mà cư dân của nó chỉ có thể sao chép hoặc chụp
    ảnh sự vật mà không có khả năng sờ mó vào các
    sự vật ấy thì họ sẽ rất khó có được một ý niệm
    chính xác về hình dáng của chúng. Sự nhận thức
    về hình thức này chỉ một số ít các nhà bác học là
    có thể đạt được, vả chăng nó chỉ cho thấy một lợi
    ích rất ít ỏi mà thôi.
    Nhà triết học nghiên cứu những hiện tượng xã
    hội phải luôn nhớ rằng bên cạnh giá trị lí thuyết,
    những hiện tượng này còn có một giá trị thực
    tiễn, và đứng về phương diện tiến hoá của các
    nền văn minh, thì chỉ riêng giá trị thực tiễn là có
    tầm quan trọng nào đó. Một ghi nhận như thế
    khiến nhà triết học phải rất thận trọng trong
    những kết luận mà ban đầu, quy luật hình như đã
    áp đặt cho ông ta.
    Còn nhiều lí do khác đòi hỏi ông ta phải thận
    trọng. Các sự kiện xã hội phức tạp đến nỗi ta
    không thể bao quát tổng thể và không thể tiên
    đoán hậu quả của những ảnh hưởng tương hỗ
    giữa chúng. Hình như đằng sau các sự kiện có thể
    trông thấy được đôi khi còn ẩn giấu hàng nghìn
    nguyên nhân không thể trông thấy. Những hiện
    tượng xã hội có thể trông thấy được hình như là
    kết quả tổng hợp của một công việc vô thức rộng
    lớn vốn nằm bên ngoài khả năng phân tích của
    chúng ta. Ta có thể ví chúng như những làn sóng
    biểu hiện lên trên bề mặt những đảo lộn dưới đáy
    sâu của đại dương mà ta không hề hay biết. Được
    xem xét trong phần lớn những hành vi, các đám
    đông thường cho thấy một não trạng thấp kém
    đến kì lạ, nhưng lại có những hành vi khác tỏ ra
    được hướng dẫn bởi nhiều lực lượng huyền bí mà
    người xưa gọi là số phận, tự nhiên, thiên định,
    còn chúng ta thì gọi là tiếng nói của người quá
    cố, sức mạnh của những tiếng nói ấy ta không
    thể bỏ qua, mặc dù ta không biết bản chất của
    chúng là gì. Đôi khi hình như trong lòng các quốc
    gia có những lực lượng ẩn ngầm hướng dẫn đám

    đông. Ví dụ, có gì phức tạp hơn, logic hơn, tuyệt
    vời hơn một ngôn ngữ? Và thử hỏi sản phẩm
    được tổ chức tốt đẹp và tinh tế như thế sinh ra từ
    đâu, nếu không phải từ tâm hồn vô thức của
    những đám đông? Những viện hàn lâm thông thái
    nhất, những nhà ngữ pháp học sáng giá nhất chỉ
    làm công việc nặng nhọc ghi lại các quy luật đã
    chi phối những ngôn ngữ này, và họ hoàn toàn
    không có khả năng sáng tạo ra chúng. Ngay cả
    những tư tưởng thiên tài của các vĩ nhân, liệu
    chúng ta có chắc chắn rằng những tư tưởng ấy có
    chuyên nhất là công trình của riêng họ không?
    Hẳn nhiên bao giờ chúng cũng được sáng tạo bởi
    những con người đơn độc; nhưng hành nghìn hạt
    bụi mới tạo thành phù sa và chính từ phù sa ấy,
    những tư tưởng mới nảy mầm. Phải chăng chính
    tâm hồn của những đám đông đã hun đúc nên
    chúng?
    Chắc chắn đám đông bao giờ cũng vô thức,
    nhưng chính cái vô thức ấy có lẽ là một trong
    những bí ẩn của sức mạnh đám đông. Trong tự
    nhiên, sinh vật chỉ bị chi phối bởi bản năng,
    chúng thực hiện các hành động mà độ phức tạp
    kì diệu làm ta phải ngạc nhiên. Lí trí là cái mà
    nhân loại chỉ mới có được gần đây thôi và còn
    quá không hoàn hảo để có thể vén lộ cho chúng
    ta những quy luật của cái vô thức và nhất là thế
    chỗ cho cái vô thức. Trong mọi hành động của
    chúng ta, phần vô thức thì to lớn còn phần lí trí
    thì nhỏ bé. Cái vô thức tác động như một lực
    lượng hãy còn chưa được biết rõ.
    Vậy nếu chúng ta muốn đứng trong những giới
    hạn nhỏ hẹp nhưng chắc chắn của các sự vật mà
    khoa học có thể nhận thức, chứ không đi lang
    thang trong lãnh địa của phỏng đoán mơ hồ và
    giả thuyết hư ảo, thì chúng ta chỉ cần xem xét
    những hiện tượng mà chúng ta có thể hiểu được,
    và hạn chế chúng ta trong sự xem xét này. Mọi
    kết luận được rút ra từ quan sát của chúng ta
    thường chỉ là sơ bộ, bởi vì, đằng sau những hiện
    tượng mà chúng ta nhìn rõ, còn có những hiện
    tượng khác chúng ta nhìn không rõ, và thậm chí
    đằng sau cả những hiện tượng cuối cùng này, lại
    còn những hiện tượng khác nữa mà chúng ta
    không trông thấy.
    Chú thích:


    Le Bon muốn nhắc tới cuốn Quy luật tâm lí
    về sự phát triển của các dân tộc (Les lois
    psychologique de l'évolution des peuples), được
    ông viết năm 1894.
    1

    Mục lục
    LỜI GIỚI THIỆU
    LỜI NÓI ĐẦU
    DẪN LUẬN
    Quyển I. TÂM HỒN NHỮNG ĐÁM ĐÔNG
    Chương I. ĐẶC ĐIỂM TỔNG QUÁT CỦA ĐÁM ĐÔNG: QUY LUẬT TÂM LÍ VỀ
    SỰ THỐNG NHẤT TINH THẦN CỦA ĐÁM ĐÔNG
    Chương II. TÌNH CẢM VÀ ĐẠO ĐỨC CỦA ĐÁM ĐÔNG
    Chương III. TƯ TƯỞNG, SỰ SUY LUẬN VÀ TRÍ TƯỞNG TƯỢNG CỦA ĐÁM
    ĐÔNG
    Chương IV. MỌI NIỀM TIN CỦA ĐÁM ĐÔNG ĐỀU MANG HÌNH THỨC TÔN
    GIÁO
    Quyển II. Ý KIẾN VÀ NIỀM TIN CỦA ĐÁM ĐÔNG
    Chương I. NHỮNG NHÂN TỐ XA ẢNH HƯỞNG TỚI NIỀM TIN VÀ Ý KIẾN
    CỦA ĐÁM ĐÔNG
    Chương II. NHỮNG NHÂN TỐ TRỰC TIẾP ẢNH HƯỞNG TỚI Ý KIẾN CỦA
    ĐÁM ĐÔNG
    Chương III. NGƯỜI CẦM ĐẦU ĐÁM ĐÔNG VÀ CÁCH THUYẾT PHỤC CỦA
    HỌ
    Chương IV. NHỮNG GIỚI HẠN VỀ TÍNH HAY THAY ĐỔI CỦA NIỀM TIN VÀ
    Ý KIẾN ĐÁM ĐÔNG
    Quyển III. PHÂN LOẠI VÀ MÔ TẢ CÁC LOẠI ĐÁM ĐÔNG KHÁC NHAU
    Chương I. PHÂN LOẠI ĐÁM ĐÔNG
    Chương II. ĐÁM ĐÔNG BỊ COI LÀ PHẠM TỘI
    Chương III. HỘI THẨM TÒA ĐẠI HÌNH
    Chương IV. ĐÁM ĐÔNG BẦU CỬ
    Chương V. NGHỊ VIỆN

    DẪN LUẬN
    Thời đại của những đám đông
    Sự tiến triển của thời hiện tại. - Những thay
    đổi lớn của văn minh là kết quả của những thay
    đổi trong tư tưởng của các dân tộc. - Niềm tin
    mới vào sức mạnh của đám đông. - Nó biến đổi
    chính trị truyền thống của những Nhà nước. - Sự
    lên ngôi của các tầng lớp bình dân xảy ra như thế
    nào và sức mạnh của tầng lớp ấy tác động ra sao.
    - Hậu quả tất yếu của sức mạnh những đám
    đông. – Chúng chỉ thực hiện chức năng của kẻ
    phá hoại. - Chính nhờ đám đông mà tiến trình tan
    rã của các nền văn minh già cỗi mới kết thúc
    được. - Sự thiếu hiểu biết chung về môn tâm lí
    học đám đông. - Tầm quan trọng của việc nghiên
    cứu đám đông đối với những nhà lập pháp và các
    chính khách.
    Những đảo lộn to lớn xảy ra trước những thay
    đổi của các nền văn minh, như sự sụp đổ của Đế
    chế La Mã và việc thành lập Đế chế Ả Rập, mới
    thoạt nhìn, hình như được quyết định chủ yếu do
    những biến đổi chính trị to lớn: ngoại bang xâm
    lược, các triều đại bị sụp đổ. Nhưng một nghiên
    cứu chăm chú tỉ mỉ hơn về những biến cố này cho
    thấy rằng đằng sau những nguyên nhân bề mặt,
    thường có nguyên nhân thực sự là sự biến đổi sâu
    sắc trong tư tưởng của các dân tộc. Những đảo
    lộn lịch sử thực sự không phải là những đảo lộn
    làm chúng ta ngạc nhiên vì mức độ lớn lao và bạo
    liệt của chúng. Chỉ những thay đổi quan trọng,
    nơi sinh ra sự đổi mới cho các nền văn minh mới
    là những gì diễn ra trong tư tưởng, quan niệm và
    niềm tin. Các biến cố đáng nhớ của lịch sử là hiệu
    quả có thể thấy được của nhiều thay đổi không
    thể nhìn thấy trong tư tưởng con người. Sở dĩ
    những biến cố lớn lao ấy rất hiếm khi biểu lộ, đó
    là vì ở một chủng tộc chẳng có gì bền vững hơn
    nền tảng di truyền trong tư tưởng của nó.
    Thời hiện tại là một trong những thời điểm
    quyết định, vì đó là lúc tư tưởng con người đang
    trong tiến trình tự biến đổi.
    Có hai nhân tố cơ bản làm nền tảng cho sự
    biến đổi này. Nhân tố thứ nhất là sự phá huỷ
    niềm tin tôn giáo, chính trị và xã hội, vốn là

    nguồn cội sinh ra mọi yếu tố của nền văn minh
    chúng ta. Nhân tố thứ hai là sự sáng tạo ra
    những điều kiện sinh tồn và suy tưởng hoàn toàn
    mới, kết quả của những phát kiến mới trong khoa
    học và công nghiệp hiện đại.
    Những tư tưởng của quá khứ, dù đã bị phá huỷ
    phân nửa, vẫn còn rất mạnh, và những tư tưởng
    phải thế chỗ cho chúng thì đang hình thành, nên
    thời hiện đại biểu thị một giai đoạn quá độ và vô
    chính phủ.
    Từ giai đoạn này, dĩ nhiên có phần hỗn độn,
    thật không dễ để nói giờ đây cái gì có thể nảy
    sinh. Sẽ có các tư tưởng cơ bản nào để trên đó
    xây dựng những xã hội nối tiếp xã hội của chúng
    ta? Chúng ta vẫn chưa biết được. Nhưng, ngay từ
    lúc này, điều chúng ta đã thấy rõ, đó là để tổ
    chức chúng, cần phải tính tới một sức mạnh mới,
    tối cao của thời hiện đại: quyền lực của những
    đám đông. Trên đống đổ nát của biết bao tư
    tưởng, được coi là chân lí trước đây nhưng nay đã
    chết, của biết bao quyền lực mà các cuộc cách
    mạng đã liên tiếp đập tan, thì quyền lực của đám
    đông là cái độc nhất vượt lên, và nó hình như
    sớm được giao cho sứ mệnh hấp thu hết những
    quyền lực khác. Trong khi mọi niềm tin cổ xưa
    đều chao đảo và biến mất, những cột trụ già cỗi
    của xã hội lần lượt sụp đổ thì quyền lực của đám
    đông là lực lượng duy nhất chẳng gì đe doạ nổi và
    uy thế của nó ngày càng lớn lên. Thời đại mà
    chúng ta đang bước vào sẽ thực sự là THỜI ĐẠI
    CỦA NHỮNG ĐÁM ĐÔNG.
    Chỉ mới một thế kỉ trước đây thôi, đường lối
    chính trị truyền thống của các Nhà nước và sự đối
    nghịch giữa các vua chúa vẫn là nhân tố chính
    của những biến cố. Ý kiến của những đám đông ít
    có giá trị, và thậm chí thường chẳng có chút giá
    trị gì. Còn ngày nay, truyền thống chính trị,
    khuynh hướng cá nhân của các nhà cai trị, sự đối
    nghịch giữa họ lại không còn quan trọng nữa, trái
    lại, chính tiếng nói của đám đông đã trở nên có
    ưu thế hơn. Tiếng nói ấy áp đặt cho vua chúa
    cách hành xử và vua chúa có nhiệm vụ phải nghe
    theo nó. Số phận của các quốc gia không còn
    được sắp đặt trong những hội đồng của các ông
    hoàng nữa, mà ở trong tâm hồn của những đám
    đông.

    Sự lên ngôi của các giai cấp bình dân trong đời
    sống chính trị, nghĩa là, trên thực tế, họ đã dần
    dần biến đổi thành giai cấp lãnh đạo, là một
    trong những đặc điểm nổi bật của thời đại quá độ
    của chúng ta. Thực ra, việc phổ thông đầu phiếu,
    được thực hiện từ lâu nhưng ít có ảnh hưởng,
    không phải là đặc điểm đánh dấu sự lên ngôi của
    giai cấp bình dân như ta vẫn tưởng. Việc dần nảy
    sinh quyền lực đám đông thoạt tiên được bắt đầu
    bằng sự phổ biến một số tư tưởng từ từ du nhập
    vào tâm trí con người, rồi từng bước liên kết
    những cá nhân để dẫn tới việc hiện thực hoá các
    quan niệm lí thuyết. Chính thông qua liên kết mà
    những đám đông cuối cùng đã hình thành nên tư
    tưởng, nếu chưa thật xác đáng thì ít ra cũng dứt
    khoát về quyền lợi và có ý thức về sức mạnh của
    mình. Những đám đông thành lập các nghiệp
    đoàn mà mọi giới có thẩm quyền đều phải lần
    lượt đầu hàng, các hiệp hội lao động nhằm điều
    tiết những điều kiện lao động và tiền công, bất
    chấp mọi quy luật kinh tế. Họ gửi vào các cơ
    quan chính phủ những đại biểu không giữ ý kiến
    riêng và sự độc lập cá nhân nữa mà thường chỉ
    còn là những người phát ngôn cho các ủy ban đã
    lựa chọn mình.
    Ngày nay những yêu sách của đám đông càng
    ngày càng rõ rệt và không dẫn đến điều gì khác
    hơn là phá huỷ toàn bộ xã hội hiện tại, để đưa nó
    về chủ nghĩa cộng sản nguyên thuỷ, trạng thái
    thông thường của mọi nhóm người trước buổi
    bình minh của văn minh. Hạn chế giờ lao động,
    trưng thu hầm mỏ, đường sắt, nhà máy và đất
    đai; chia đều sản phẩm, loại trừ mọi tầng lớp trên
    vì quyền lợi của các giai cấp bình dân v.v… Đó là
    các yêu sách.
    Thiếu khả năng suy luận, ngược lại đám đông
    đủ khả năng hành động. Qua sự tổ chức hiện
    thời, sức mạnh của đám đông trở nên to lớn vô
    cùng. Những tín điều mà ta thấy đang nảy sinh
    chẳng mấy chốc sẽ có sức mạnh như những tín
    điều xưa cũ, nghĩa là sức mạnh chuyên chế và tối
    thượng không được phép bàn cãi, Luật thiêng của
    đám đông sẽ thay thế luật thiêng của vua chúa.
    Các nhà văn ủng hộ tầng lớp tư sản hiện thời,
    những người đại diện tốt nhất cho tầng lớp này,
    tầng lớp có tư tưởng chật hẹp, đầu óc thiển cận,
    chủ nghĩa hoài nghi hơi thô thiển, tính ích kỉ đôi

    khi hơi quá đáng, thì gần như điên lên trước cái
    quyền lực mới đang lớn mạnh. Và để đấu tranh
    chống lại sự hỗn loạn của tâm trí con người, các
    nhà văn này đã tuyệt vọng kêu gọi tới sức mạnh
    tinh thần của Nhà thờ mà xưa kia họ vốn coi
    thường. Họ nói với chúng ta rằng khoa học đã
    phá sản, và trở về từ La Mã với lòng sám hối, họ
    nhắc nhở chúng ta những bài học về chân lí đã
    được thần khải. Nhưng những kẻ quy đạo mới
    này quên là đã chậm quá mất rồi. Nếu thực sự ơn
    phước đã chạm tới họ, thì ơn phước cũng không
    có quyền năng như thế đối với những linh hồn
    chẳng mấy bận tâm đến bao lo lắng đang ám ảnh
    các tân tín đồ này. Ngày nay, những đám đông
    không còn thích các thần thánh mà ngày xưa
    chính họ cũng không thích và từng góp phần vào
    đập phá. Không có sức mạnh thần thánh hoặc
    con người nào có thể bắt những dòng sông chảy
    ngược về nguồn.
    Khoa học không hề bị phá sản và không dính
    gì tới tình trạng vô chính phủ trong tinh thần con
    người hiện đại, cũng chẳng dính gì tới quyền lực
    mới đang lớn lên giữa tình trạng vô chính phủ
    này. Khoa học đã hứa hẹn cho chúng ta chân lý,
    hay ít nhất cho ta sự nhận thức về những quan
    hệ mà trí tuệ của chúng ta có thể nắm bắt; nó
    không bao giờ hứa hẹn cho chúng ta hoà bình và
    hạnh phúc. Vô cùng thờ ơ với tình cảm của chúng
    ta, khoa học không nghe lời than vãn của chúng
    ta. Chính chúng ta phải cố gắng sống với khoa
    học, bởi vì chẳng gì có thể phục hồi những ảo
    tưởng đã bị nó phá huỷ.
    Những triệu chứng phổ biến, thấy được ở mọi
    quốc gia chỉ cho ta thấy rõ sự tăng nhanh quyền
    lực của những đám đông, và không cho phép ta
    giả định rằng quyền lực này sắp phải ngừng lớn
    lên. Dù nó mang lại cho ta điều gì, ta cũng đành
    phải chịu.
    Mọi biện luận chống lại quyền lực của đám
    đông chỉ là những ngôn từ vô ích. Hẳn có thể sự
    lên ngôi của đám đông đánh dấu một trong
    những chặng đường cuối cùng của các nền văn
    minh Tây phương, một sự quay hẳn về những
    thời kì vô chính phủ hỗn tạp, vốn hình như bao
    giờ cũng phải xảy ra trước khi khai sinh một xã
    hội mới. Nhưng chúng ta làm thế nào để ngăn
    cản nó?

    Cho đến nay, vai trò rõ ràng nhất của đám
    đông là tạo ra những cuộc phá huỷ to lớn đối với
    các nền văn minh đã quá già cỗi. Thực thế, không
    phải chỉ ngày hôm nay, vai trò này mới xuất hiện
    trên thế giới. Lịch sử cho ta biết rằng khi những
    lực lượng tinh thần làm nền móng cho một nền
    văn minh đã mất hết ảnh hưởng, thì sự tan rã
    cuối cùng sẽ được thực hiện bởi những đám đông
    vô thức và tàn nhẫn, được gọi khá chuẩn xác là
    những kẻ dã man. Cho đến nay, những nền văn
    minh chỉ được tạo ra và được dẫn dắt bởi một
    nhóm nhỏ quý tộc trí thức, chứ không bao giờ bởi
    những đám đông. Đám đông chỉ có sức mạnh để
    phá hoại. Sự thống trị của đám đông bao giờ
    cũng biểu thị một thời kì dã man. Một nền văn
    minh bao hàm những quy tắc cố định, kỉ luật, sự
    chuyển từ bản năng sang lí trí, có viễn kiến về
    tương lai, một trình độ cao về văn hoá, những
    điều kiện mà đám đông, phó mặc cho chính
    mình, luôn tỏ ra tuyệt nhiên không thể thực hiện
    nổi. Do sức mạnh duy nhất chỉ là phá hoại, sự tan
    rã của những cơ thể ốm yếu hay những thây ma.
    Khi tòa lâu đài của một nền văn minh đã bị mục
    ruỗng, thì bao giờ cũng chính những đám đông sẽ
    đưa nó tới chỗ sụp đổ. Chính lúc đó xuất hiện vai
    trò chủ đạo của đám đông, và trong một khoảnh
    khắc, triết lí số đông hình như là thứ triết lý duy
    nhất của lịch sử.
    Nền văn minh của chúng ta liệu có giống như
    thế không? Đó là điều chúng ta có thể lo sợ,
    nhưng đó cũng là điều mà chúng ta vẫn còn chưa
    thể biết rõ.
    Dù sao chăng nữa, ta phải đành lòng chịu sự
    thống trị của đám đông, bởi vì có nhiều bàn tay
    không biết lo xa đã lần lượt lật bỏ tất cả những
    rào cản có thể kìm giữ nó lại.
    Nhưng đám đông ấy bắt đầu được ta nói tới
    nhiều, nhưng ta hiểu về chúng còn quá ít. Các
    nhà tâm lí học chuyên nghiệp thì sống cách xa
    đám đông, luôn không biết về họ, và khi quan
    tâm tới họ thì lại chỉ quan tâm tới tội ác mà đám
    đông có thể phạm phải. Tất nhiên, đã có những
    đám đông tội phạm, nhưng cũng có những đám
    đông đức hạnh, những đám đông anh hùng, và
    nhiều loại đám đông khác nữa. Tội ác của đám
    đông chỉ là một trường hợp đặc biệt trong tâm lí
    học đám đông. Và ta không thể biết về cấu tạo


    tinh thần của đám đông bằng cách chỉ nghiên cứu
    tội ác của nó, cũng như ta sẽ không thể biết cấu
    tạo tinh thần của một cá nhân nếu chỉ đơn thuần
    mô tả những thói hư tật xấu của cá nhân ấy.
    Tuy nhiên nói đúng ra, tất cả những chúa tể
    trên thế giới, tất cả những bậc sáng lập ra các
    tôn giáo hay các đế chế, những thánh tông đồ
    của mọi tín ngưỡng, những chính khách nổi tiếng,
    và trong một lĩnh vực khiêm tốn hơn, những
    người đứng đầu bình thường của các tập thể nho
    nhỏ, bao giờ cũng là những nhà tâm lí học không
    tự giác, họ có hiểu biết về tâm hồn đám đông,
    một hiểu biết bản năng nhưng thường rất chắc
    chắn; và chính vì thế nên họ mới dễ dàng trở
    thành người lãnh đạo. Napoléon hiểu sâu sắc tâm
    lí những đám đông của đất nước mà ông thống
    trị, nhưng đôi khi ông lại không hiểu biết một
    cách đầy đủ tâm lí những đám đông thuộc các
    chủng tộc khác*[1], và chính vì không hiểu biết
    nó, nên khi tiến hành các cuộc chiến tranh ở Tây
    Ban Nha và nhất là ở Nga, sức mạnh của ông vấp
    phải sự đối kháng sẽ sớm hạ gục ông.
    Ngày nay, sự hiểu biết về tâm lí học đám đông
    là chỗ dựa cuối cùng của chính khách nào muốn
    hay không muốn cai trị đám đông - điều này đã
    trở nên rất khó khăn - nhưng ít ra không bị đám
    đông điều khiển quá nhiều.
    Chỉ khi hiểu sâu một chút tâm lí học đám
    đông, ta mới hiểu luật pháp và thiết chế ít có tác
    động tới đám đông đến chừng nào; đám đông
    khó có được những ý kiến bất kì nào nằm bên
    ngoài những ý kiến đã áp đặt cho họ; không thể
    dẫn dắt đám đông bằng những quy tắc dựa trên
    sự công minh mang tính lí thuyết thuần tuý mà
    phải bằng việc tìm ra cái gì có thể gây ấn tượng
    và lôi cuốn họ. Ví dụ, nếu một nhà lập pháp
    muốn thiết lập một thứ thuế mới, liệu ông ta có
    phải chọn thứ thuế công bằng nhất về mặt lí
    thuyết hay không? Chắc không đời nào! Thứ thuế
    bất công nhất có thể là thứ thuế tốt nhất với đám
    đông xét về mặt thực tế. Nếu thứ thuế ấy kém
    minh bạch nhất, đồng thời bề ngoài lại ít nặng nề
    nhất, nó sẽ dễ dàng được chấp nhận nhất. Vì thế
    nên một thứ thuế gián thu, dù nó rất nặng, sẽ
    luôn được đám đông chấp nhận, bởi vì nó được
    trả hàng ngày vào đồ tiêu dùng bằng những phần
    nhỏ từng xu, nó không làm phiền đến những thói

    g
    ,
    g
    p
    g
    quen của đám đông, và nó không gây ấn tượng
    cho họ. Nếu thay nó bằng thuế luỹ tiến đánh vào
    đồng lương hay thu nhập khác, và phải trả ngay
    một lần, thì về mặt lí thuyết, dù thuế này nhẹ
    hơn mười lần so với thuế gián thu, nó vẫn gây ra
    sự nhất loạt phản đối. Thực vậy, những đồng xu
    không nhìn thấy hàng ngày được thay thế bằng
    một món tiền tương đối lớn, có vẻ như rất to vào
    cái ngày phải nộp, do đó nó rất ấn tượng. Thuế
    chỉ tỏ vẻ nhẹ nếu nó được để dành từng xu một;
    nhưng phương pháp tiết kiệm ấy biểu thị một
    mức độ biết nhìn xa trông rộng mà đám đông
    không thể có.
    Ví dụ trên đây là đơn giản nhất, sự đúng đắn
    của nó dễ dàng nhận thấy. Nó đã không thoát
    khỏi [con mắt] một nhà tâm lí học như Napoléon,
    nhưng các nhà lập pháp không hiểu tâm hồn đám
    đông sẽ không nhận thấy nó. Kinh nghiệm chưa
    dạy dỗ họ đến nơi đến chốn để hiểu rằng, con
    người không bao giờ cư xử theo những quy định
    của lí trí thuần tuý.
    Tâm lí học đám đông có thể có nhiều ứng dụng
    khác. Hiểu biết nó có thể làm sáng tỏ phần lớn
    những hiện tượng lịch sử, kinh tế mà nếu thiếu
    nó sẽ hoàn toàn không thể hiểu nổi. Tôi sẽ có dịp
    chỉ ra rằng nếu như nhà sử học hiện đại xuất sắc
    nhất của chúng ta, ngài Taine[2], đôi khi đã hiểu
    không đầy đủ những biến cố của cuộc Đại cách
    mạng Pháp, đó là vì ông chưa bao giờ nghĩ tới
    việc nghiên cứu tâm hồn những đám đông. Trong
    việc nghiên cứu thời kì phức tạp ấy, ông đã dùng
    phương pháp mô tả của những nhà tự nhiên chủ
    nghĩa làm hướng đạo. Nhưng, trong những hiện
    tượng mà nhà tự nhiên chủ nghĩa nghiên cứu,
    những lực lượng tinh thần ít có mặt. Thực ra
    chính những lực lượng ấy mới là động lực chính
    của lịch sử.
    Do đó, chỉ đơn thuần xem xét về mặt thực
    tiễn, việc nghiên cứu tâm lí học đám đông là việc
    xứng đáng phải làm. Dù chỉ có một lợi ích đơn
    thuần là thoả trí tò mò, thì nó vẫn xứng đáng
    được nghiên cứu. Thật thú vị khi ta giải mã được
    động cơ những hành vi của con người, cũng như
    khi giải mã được một khoáng vật hay một thực
    vật.

    Nghiên cứu của chúng...
     
    Gửi ý kiến

    “Nếu bạn muốn đạt được bất cứ điều gì trong cuộc sống, bạn phải đọc rất nhiều sách.” – Roald Dahl

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TRUNG HỌC THỰC HÀNH SÀI GÒN !