Viếng Lăng Bác - Bài giảng
Tâm Lý Học Nghệ Thuật - Lev Vygotsky

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 19h:34' 09-03-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 19h:34' 09-03-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TÂM LÝ HỌC NGHỆ THUẬT
TÁC GIẢ: L. X. VƯGÔTXKI
NGƯỜI DỊCH: HOÀI LAM
NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ NỘI – 1981
ĐÁNH MÁY & SOÁT LỖI: anhanh1310
TVE-4U
Thể xác có được những khả năng gì, điều đó cho đến nay chưa một ai xác định
nổi…
Nhưng, người ta nói rằng, do tự nhiên chỉ được nhìn nhận hoàn toàn là thể xác
nên chỉ từ độc những quy luật tự nhiên thì chẳng thể nào rút ra được các nguyên
nhân của những lâu đài kiến trúc, những tác phẩm hội họa và những gì tương tự mà
duy chỉ nghệ thuật nhân loại tạo nên, và thể xác con người chẳng thể xây dựng nổi
một đền đài nào nếu như nó không được quy định và chỉ đạo bởi tâm hồn. song tôi
đã chỉ ra rằng họ không biết thể xác có được những khả năng gì và cái gì có thể rút
ra từ nguyên một việc nhìn nhận mặt tự nhiên của nó…
BÊNÊĐIC XPINNÔZA
Luân lý, phần III,
định lý 2, chú giải
LỜI NÓI ĐẦU
Cuốn sách này được viết ra như là kết quả của một loạt – những công trình lớn,
nhỏ trong lĩnh vực nghệ thuật và tâm lý học. Ba công trình nghiên cứu văn học – về
Krư–lốp, về Hămlét và về bố cục truyện – làm nền tảng cho những phân tích của
tôi, cũng như cả một loạt bài viết ngắn, dài trên báo. Ở đây, trong các chương liên
quan, chỉ có những đoạn đúc kết, phác tả ngắn gọn, những nhận định tổng quát của
các công trình ấy, bởi lẽ trong mỗi chương chẳng thể nào trình bày nổi một sự phân
tích đầy đủ về Hămlét. Phải dành cho công việc này một cuốn sách riêng. Việc tìm
kiếm một lối thoát ra khỏi những giới hạn mong manh của chủ nghĩa chủ quan cũng
qui định ở mức như nhau cả số phận nghệ thuật học Nga lẫn số phận tâm lý học
Nga trong những năm này. Cái khuynh hướng muốn vươn tới chủ nghĩa khách
quan, tới tri thức khoa học tự nhiên chính xác theo kiều duy vật chủ nghĩa trên cả
hai lĩnh vực ấy đã tạo nên cuốn sách này. Một mặt, nghệ thuật học đã bắt đầu thấy
ngày càng cần hơn phải có những căn cứ tâm lý học. Mặt khác, cả tâm lý học, khi
cố gắng lý giải hành vi ứng xử nói chung, cũng đã không thì không hướng tới
những vấn đề phức tạp của phản ứng thầm mỹ. Nếu tính thêm vào đó cái bước
nhích lên mà hiện nay cả hai môn khoa học ấy đang có được và sự khủng hoảng của
chủ nghĩa khách quan đang bao trùm cả hai thứ đó, thì chính điều này sẽ quy định
đến cùng độ nhọn sắc của đề tài chúng ta. Trên thực tế, dù có ý thức hay không có ý
thức, nghệ thuật học truyền thống, xét trên nền tảng của nó, bao giờ cũng có những
tiền đề tâm lý, thế nhưng thứ tâm lý học thông thường cũ kỹ đã không còn đáp ứng
được do hai nguyên nhân. Thứ nhất, nó đã được sử dụng đủ nuôi dưỡng mọi thứ
chủ nghĩa chủ quan trọng mỹ học, trong các trào lưu khách quan lại cần có những
tiền đề khách quan. Thứ hai, đang hình thành một thứ tâm lý học mới và đang xây
dựng lại nền tảng của mọi cái được gọi là “khoa học về tinh thần” đã cũ kỹ. Vậy
nên, nhiệm vụ công trình nghiên cứu của chúng tôi là xem xét lại môn tâm lý học
nghệ thuật truyền thống và cố gắng nêu lên một lĩnh vực nghiên cứu đa cho tâm lý
học khách quan – đặt vấn đề, nêu ra phương pháp và nguyên tắc lý giải tâm lý cơ
bản, chỉ thế thôi.
Gọi cuốn sách này là “Tâm lý học nghệ thuật”, tác giả không hề muốn nói riêng
trong cuốn sách sẽ có trình bày cả hệ thống các vấn đề, sẽ có giới thiệu đầy đủ toàn
bộ các mục và sự kiện. Mục đích của chúng tôi khác hẳn: không phải một hệ thống,
mà là một chương trình, không phải toàn bộ mọi vấn đề, mà chỉ một vấn đề trung
tâm được chúng tôi ghi nhận suốt bấy nay và theo đuổi như là mục đích.
Thế nên chúng tôi sẽ gác sang một bên cuộc tranh luận về quan điểm tâm lý
trong mỹ học và về những ranh giới phân chia mỹ học với nghệ thuật học đơn
thuần. Cùng với Lipx, chúng tôi nghĩ rằng có thể xác định mỹ học như một bộ môn
tâm lý ứng dụng, song nói chung chúng tôi sẽ không đặt ra vấn đề này, chúng tôi
chỉ dừng lại ở mức là: bảo vệ tính chất chính đáng về phương pháp và nguyên tắc
trong việc xem xét tâm lý về nghệ thuật…, chỉ ra được tầm quan trọng thực chất
của nó, tìm ra vị trí của nó trong hệ thống khoa học mácxít về nghệ thuật. Ở đây,
đối với chúng tôi sợi, chỉ quán xuyến là luận điểm mọi người đều biết của chủ
nghĩa Mác: sự xem xét xã hội học về nghệ thuật không thay thế và gạt bỏ sự xem
xét mỹ học, mà, ngược lại, mở rộng cửa trước nó và đón mời nó, như là một sự bổ
sung cho mình, nói theo lời Plêkhanôp. Còn sự thảo luận mỹ học về nghệ thuật, do
không muốn đứt đoạn với xã hội học mác xít, nhất thiết phải có những căn cứ tâm
lý học – xã hội. Có thể dễ dàng chỉ ra rằng ngay những nhà nghệ thuật học từng
giới định một cách hoàn toàn chính đáng lĩnh vực của mình khỏi mỹ học, cũng đều
không tránh khỏi ra những tiền đề tâm lý học tùy tiện và mong manh, thiếu phê
phán vào việc nghiên cứu các khái niệm và vấn đề cơ bản của nghệ thuật. Chúng tôi
chia sẻ với quan điểm của Utix cho rằng nghệ thuật vượt ra khỏi ra ranh giới của
mỹ học và thậm chí còn có những đặc điểm khác biệt về nguyên tắc với các giá trị
thẩm mỹ, nghệ thuật được bắt đầu từ trong môi trường thẩm mỹ, song không hòa
tan trong đó đến cùng. Vậy nếu chúng ta thấy rõ rằng tâm lý học nghệ thuật phải có
quan hệ với chính mỹ học, tuy không được quên mất những ranh giới phân biệt hai
lĩnh vực đó.
Cần nói rằng cả trong lĩnh vực nghệ thuật học mới, lẫn trong lĩnh vực tâm lý học
khách quan, hiện nay người ta hay còn đang nghiên cứu các khái niệm cơ bản, về
các nguyên lý nền tảng, chỉ mới tiến hành những bước đi ban đầu. Đấy, vì sao một
công trình nảy sinh ở chỗ giáp ranh của hai môn khoa học này, một công trình
muốn bằng ngôn ngữ của tâm lý học khách quan bàn về các sự kiện khách quan của
nghệ thuật, lại nhất thiết phải luôn luôn dừng lại ở trước cửa vấn đề, chứ không đi
sâu vào và cũng không mở rộng nhiều. Chúng tôi chỉ muốn phát triển cho được sự
độc đáo của cái nhìn tâm lý học về nghệ thuật và nêu ra một tư tưởng trung tâm,
nêu ra các phương pháp nghiên cứu nó và nội dung vấn đề. Nếu ở chỗ gặp gỡ của
ba ý đồ này có xuất hiện một thứ tâm lý học khách quan về nghệ thuật thì công
trình này sẽ chính là cái hạt mầm mà từ đó nó sẽ mọc lên.
Chúng tôi coi tư tưởng trung tâm của tâm lý học nghệ thuật là: thừa nhận sự
khắc phục của hình thức nghệ thuật đối với tài liệu hay là thừa nhận rằng nghệ
thuật là kỹ thuật xã hội của tình cảm. Chúng tôi coi phương pháp nghiên cứu vấn
đề này là phương pháp phân tích khách quan, xuất phát từ việc phân tích nghệ thuật
để đi tới một sự tổng hợp tâm lý học, – phương pháp phân tích các hệ thống kích
thích nghệ thuật. Cùng với Geneken, chúng tôi nhìn vào tác phẩm nghệ thuật như
nhìn vào “một tổng hòa các ký hiệu thẩm mỹ nhằm thức tỉnh các cảm xúc ở con
người”, và trên cơ sở phân tích các ký hiệu này, chúng tôi cố gắng tạo dựng lại
những cảm xúc tương ứng với chúng. Thế nhưng phương pháp của chúng tôi khác
biệt với phương pháp estopsychologique ở chỗ: chúng tôi không nhìn nhận các ký
hiệu này như là những biểu hiện của tổ chức tâm hồn của tác giả hay của các độc
giả. Chúng tôi không đi từ nghệ thuật tới tâm lý của tác giả hay của độc giả, bởi vì
chúng tôi hiểu rằng chẳng thể làm được điều đó trên cơ sở lý giải các ký hiệu.
Chúng tôi cố gắng nghiên cứu thử tâm lý học nghệ thuật đơn thuần và vô nhân
xưng, bất kể đối với tác giả hay độc giả, vì chúng tôi chỉ dựa vào hình thức và tài
liệu của nghệ thuật. Nói rõ hơn: chỉ dựa vào các bài ngụ ngôn của Krưlốp, chúng
tôi chẳng bao giờ dựng lại nổi tâm lý Ông ta; còn tâm lý các độc giả của ông lại rất
khác nhau – ở những con người của thế kỷ thứ XIX và thế kỷ thứ XX và ngay ở
những nhóm, những giai cấp, những lứa tuổi, những con người khác nhau. Song khi
phân tích một bài thơ ngụ ngôn, chúng tôi lại có thể phát hiện được cái qui luật tâm
lý làm nền tảng cho nó, cái cơ chế tác động của nó, – và chính cái đó chúng tôi gọi
là tâm lý của bài thơ ngụ ngôn. Trên thực tế quy luật ấy và cơ chế ấy không hề tác
động trong cái dạng thuần túy của nó, mà bị phức tạp hóa bởi một loạt hiện tượng
và quá trình chúng đã sa vào; thế nhưng chúng tôi vẫn có quyền tách cái tâm lý của
bài thơ ngụ ngôn ấy ra khỏi tác động cụ thể của nó, như nhà tâm lý học vẫn thường
tách riêng ra một phản ứng thuần túy (một phản ứng cảm tính hay động cơ) của sự
lựa chọn hay phân biệt, để nghiên cứu nó như là một phản ứng vô nhân xưng.
Cuối cùng, chúng tôi thấy nội dung của vấn đề là làm sao đề tâm lý học nghệ
thuật, cả lý thuyết và ứng dụng, phát hiện ra được tất thảy những cơ chế vận hành
của nghệ thuật và cùng với xã hội học nghệ thuật sẽ tạo ra được nền tảng cho mọi
bộ môn khoa học chuyên biệt về nghệ thuật.
Nhiệm vụ của công trình này mang một tính chất tổng hợp thực sự. Muyler –
Freenfenx đã nói rất đúng rằng nhà tâm lý học nghệ thuật chẳng khác nào một nhà
sinh vật học biết tiến hành một sự phân tích đầy đủ về vật chất sống, phân tách nó
ra thành những bộ phận cấu thành, song lại không biết là các bộ phận này mà tạo
dựng lại cái toàn bộ và phát hiện ra các quy luật của cái toàn bộ ấy. Có một loạt
những công trình bàn về sự phân tích có hệ thống như vậy của tâm lý học nghệ
thuật, song tôi chưa thấy một công trình nào đã đặt và giải quyết một cách khách
quan vấn đề tổng hợp tâm lý của nghệ thuật. Xét trên ý nghĩa đó, thiết tưởng, cố
gắng này của chúng tôi là tiến hành một bước mới và dám mạnh dạn nêu ra một số
suy nghĩ mới, chưa hề một ai phát biểu trước sự thảo luận khoa học. Những điều
mới mẻ mà tác giả xem là của mình trong cuốn sách này, tất nhiên, cần được kiểm
nghiệm và phê phán, cần được thử thách bằng cả suy tư lẫn sự kiện thực tế. Dẫu sao
thì những điều đó ngày giờ đây đã được tác giả cảm thấy là xác đáng và chín muồi
tới mức dám gói thẳng ra trong cuốn sách này.
Khuynh hướng chung của công trình này là cố gắng có được một sự tỉnh táo
khoa học trong tâm lý học nghệ thuật, trong cái lĩnh vực tư biện nhất và đầy mơ hồ
bí hiểm của nhà tâm lý học. Sự suy nghĩ của tôi được biểu thị qua câu nói của Xpi–
nôza đã dẫn làm đề từ và tiếp bước theo ông, cũng sẽ cố gắng không cho phép mình
ngạc nhiên, không cười, không khóc – nhưng phải hiểu.
VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VẤN
ĐỀ
CHƯƠNG I
VẤN ĐỀ TÂM LÝ HỌC NGHỆ THUẬT
“Mỹ học từ trên” và “mỹ học từ dưới” Lý luận nghệ thuật mácxít và tâm
lý học. Tâm lý học – nghệ thuật xã hội và tâm lý học – nghệ thuật cá nhân.
Tâm lý học – nghệ thuật chủ quan và tâm lý học – nghệ thuật khách quan
trong nghệ thuật. Phương pháp phân tích khách quan và việc vận dụng nó.
Nếu cần gọi tên cái biên vực đã phân chia mọi trào lưu mỹ
học hiện nay ra thành hai hướng lớn, thì đấy chính là tâm lý
học. Hai lĩnh vực của mỹ học hiện nay – mỹ học tâm lý và mỹ
học phi tâm lý – bao trùm hầu như tất cả những gì sống động
trong môn khoa học này. Fêcner đã phân định rất đúng hai
hướng này khi ông gọi một hướng là “mỹ học từ trên” và
hướng kia là “mỹ học từ dưới”.
Có thể dễ dàng tưởng rằng ở đây đang nói tới không chỉ hai
lĩnh vực của một môn khoa học duy nhất mà thậm chí còn nói
về việc xây dựng hai bộ môn độc lập mà mỗi bộ môn đều có
một đối tượng và một phương pháp nghiên cứu riêng. Trong
khi đó đối với một số người, mỹ học vẫn hãy còn là một thứ
khoa học mang nặng tính chất tư biện. Một số người khác, ví
như O. Kuynpe, lại thiên về phía khẳng định rằng “ở thời gian
hiện nay, mỹ học đang nằm trong giai đoạn quá độ… Phương
pháp tư biện của chủ nghĩa duy tâm hậu Căng hầu như bị hoàn
toàn bác bỏ. Còn lỗi nghiên cứu mang tính chất kinh
nghiệm… thì đang chịu ảnh hưởng của tâm lý học… Chúng
tôi nghĩ, mỹ học là học thuyết về hành vi ứng xử thẩm mỹ
Verhalten, tức là về cái trạng thái chung đang thâm nhập và
bao trùm toàn bộ con người và có điểm xuất phát và chỗ tập
trung là ấn tượng thẩm mỹ… Mỹ học phải được nhìn nhận như
là tâm lý học về khoái cảm thẩm mỹ và sáng tạo nghệ thuật
(64, trang 98)1.
Fônkent cũng có ý kiến tương tự như vậy: “khách thể thẩm
mỹ… chỉ trở nên có được tính chất thẩm mỹ đặc trưng thông
qua cảm thụ, cảm xúc và tưởng tượng của chủ thể đang cảm
thụ” (161, trang 5).
Trong thời gian gần đây, ngay cả những nhà nghiên cứu như
Vêxêlốpxki (26, trang 222) cũng đã bắt đầu ngả về phía
phương pháp tâm lý. Và Fônkent đã bày tỏ được khá đúng đắn
cái tư tưởng chung: “Tâm lý học phải được đặt làm nền tảng
cho mỹ học” (117, trang 192). “… Nhiệm vụ gần gũi nhất, cấp
thiết nhất của mỹ học trong thời gian hiện nay tất nhiên không
phải là những kết cấu siêu hình, mà là một sự phân tích tâm lý
nghệ thuật một cách tỉ mỉ và tinh vi” (117, trang 208).
Ý kiến ngược lại là thuộc những trào lưu chống tâm lý mới
nổi lên độ một chục năm nay trong triết học Đức, lập luận
chung của những trào lưu ấy ta có thể thấy trong bài viết của
Gh. Spet (xem tài liệu số 136). Cuộc tranh cãi giữa những
người thuộc hai quan điểm đó đã diễn ra chủ yếu dựa vào các
luận chứng phủ định. Mỗi tư tưởng đều được biện hộ bằng tính
chất mong manh của tư tưởng đối lập, và cái tính chất thực sự
vô hiệu của cả tuyến này lẫn tuyến kia đã làm cho cuộc tranh
cãi phải kéo dài và cản trở việc giải quyết thực tế.
Mỹ học từ trên đã khai thác các quy luật và các chứng minh
của mình từ “bản tính của tâm hồn”, từ những tiền đề siêu hình
hay những lập luận suy diễn. Khi làm điều đó nó đã sử dụng
cái thẩm mỹ như là một phạm trù đặc biệt nào đấy của tồn tại,
và ngay cả những nhà tâm lý học lớn, như Lips, cũng đã không
tránh được mối tại hại chung ấy. Trong khi đó, mỹ học từ dưới
sau khi đã tự biến mình thành một loạt những thí nghiệm hết
sức ngây ngô, lại muốn bằng mọi cách cho phép mình lý giải
các quan hệ thẩm mỹ sơ đẳng nhất và đã tỏ ra bất lực, chẳng
thể cất mình cao hơn những sự việc sơ khai mà về thực chất
chẳng nói lên được gì. Như vậy, sự khủng hoảng sâu sắc ở cả
hai lĩnh vực mỹ học ấy ngày càng trở nên rõ ràng hơn, và
nhiều tác giả đã ý thức được nội dung và tính chất cuộc khủng
hoảng đó như một cuộc khủng hoảng mang tính chất toàn cục
hơn là cuộc khủng hoảng ở mỗi trào lưu riêng lẻ. Bản thân các
tiền đề xuất phát, các căn cứ và phương pháp nghiên cứu của
cả hai trường phái ấy đều tỏ ra là sai lầm. Điều này được bộc
lộ hoàn toàn rõ khi cuộc khủng hoảng lan sang tâm lý học kinh
nghiệm trong toàn bộ dung lượng của nó ở phía này, còn ở
phía kia là sang triết học duy tâm Đức mấy chục năm gần đây.
Lối thoát ở đây chỉ có thể là thay đổi tận gốc các nguyên tắc
nghiên cứu cơ bản, đặt lại hoàn toàn các nhiệm vụ và lựa chọn
các phương pháp mới. Trong lĩnh vực mỹ học từ trên đã bắt
đầu được khẳng định ngày càng mạnh mẽ hơn cái thức về sự
tất yếu phải có hạ tầng xã hội – lịch sử đối với việc xây dựng
bất kỳ một lý thuyết mỹ học nào. Đã bắt đầu thấy ngày càng rõ
hơn: nghệ thuật chỉ có thể trở thành đối tượng của nghiên cứu
khoa học, khi nó được nhìn nhận như là một trong những chức
năng sống còn của xã hội trong mối liên hệ khăng khít với mọi
lĩnh vực còn lại của đời sống xã hội, trong những điều kiện
lịch sử cụ thể của nó. Trong số các trường phái xã hội học
trong lý luận nghệ thuật, lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử
là triệt để và đi xa hơn cả, nó đang cố gắng xây dựng một cách
nhìn nhận khoa học và nghệ thuật trên cơ sở bản thân các
nguyên lý thường được vận dụng để nghiên cứu mọi hình thái
và hiện tượng đời sống xã hội. Xét trên quan điểm này nghệ
thuật thường được nhìn nhận như là một trong những hình thái
của hệ tư tưởng và cũng như mọi hình thái khác còn lại, nó
xuất hiện như một kiến trúc thượng tầng trên cơ sở hạ tầng của
cái quan hệ kinh tế và sản xuất. Và rất dễ hiểu là, do chỗ mỹ
học từ dưới luôn luôn là một thứ mỳ học mang tính chất kinh
nghiệm và thực chứng, nên lý luận nghệ thuật mácxít đang
phát lộ ra những khuynh hướng rõ ràng dẫn tới chỗ đem quy
các vấn đề lý thuyết mỹ học thành tâm lý học. Đối với Luna–
tsarxki, mỹ học chẳng qua chỉ vẻn vẹn là một trong những
ngành của tâm lý học. Tuy nhiên, sẽ thật là nông cạn nếu
khẳng định rằng nghệ thuật không có quy luật phát triển riêng
của nó, Dòng nước chảy bị quy định bởi lòng sông và bờ sông:
lúc thì nó trải rộng thành hồ, lúc lại lặng lờ trôi, khi thì sôi bọt
và gầm lên trên những ghềnh đá, khi lại trút đồ xuống thành
thác, hết quay sang phải lại sang trái, thậm chí còn quay ngoặt
hẳn lại, song cho dù có rõ đến mấy là dòng nước bị quy định
bởi tính tất yếu quyết liệt của các điều kiện bên ngoài, thì dẫu
sao bản chất của nó vẫn được quy định bởi các quy luật vận
động thủy năng, cái quy luật mà chúng ta chẳng thể hiểu được
từ những điều kiện bên ngoài của dòng nước, mà phải từ sự
tìm hiểu bản thân nước (70, trang 123 – 124).
Đối với luận thuyết này cái tuyến trước đây đã từng phân
định ranh giới giữa mỹ học từ trên và mỹ học từ dưới, giờ đây
lại chuyển theo một hướng khác hẳn: giờ đây nó tách xã hội
học nghệ thuật khỏi tâm lý học nghệ thuật và chỉ ra cho mỗi
ngành ấy một quan điểm riêng về cùng một đối tượng nghiên
cứu.
Plekhanôp đã phân định hoàn toàn rõ ràng cả hai quan điểm
trong các công trình nghiên cứu của mình về nghệ thuật, khi
ông chỉ ra rằng các cơ chế tâm lý quy định hành vi ứng xử
thẩm mỹ của con người là những cơ chế trong sự tác động của
mình luôn luôn bị quy định bởi các nguyên nhân mang tính
chất xã hội. Do đó hoàn toàn rõ ràng là, việc nghiên cứu sự tác
động của những cơ chế ấy chính là đối tượng của tâm lý học,
còn việc nghiên cứu các hoàn cảnh và điều kiện quy định
chúng lại là đối tượng của công trình nghiên cứu xã hội học.
“Tự nhiên của con người làm những gì mà ở nó có thể là các
thị hiếu và khái niệm thẩm mỹ. Các điều kiện chung quanh nó
quy định sự chuyển hóa của khả năng này thành hiện thực:
chúng sẽ giải thích sự việc một con người xã hội cụ thể (tức là
một xã hội nhất định, một dân tộc nhất định, một giai cấp nhất
định) có chính những thị hiếu và khái niệm thẩm mỹ ấy, chứ
không phải những thị hiếu và khái niệm khác…” (87, trang 6).
Như vậy, ở những thời đại khác nhau của quá trình phát triển
xã hội, con người nhận được từ tự nhiên những ấn tượng khác
nhau, bởi vì nó nhìn vào tự nhiên từ những quan điểm khác
nhau.
Tất nhiên, tác động của các quy luật chung về tự nhiên tâm
lý của con người không hề ngừng lại ở bất kỳ một thời đại nào.
Nhưng do trong những thời đại khác nhau “có những tài liệu
hoàn toàn không giống nhau rơi vào những đầu óc con người,
nên chẳng có gì là lạ khi các kết quả chế biến tài liệu cũng
hoàn toàn không giống nhau” (87, trang 56)… Ở một chừng
mực nào đó các quy luật tâm lý có thể làm chìa khóa – để tiến
tới việc lý giải lịch sử hệ tư tưởng nói chung và lịch sử nghệ
thuật nói riêng. Trong tâm lý của những con người ở thế kỷ
thứ mười bảy, sự mở đầu một phản đề đã từng đóng một vai
trò cũng đúng như trong tâm lý những người đương thời của
chúng ta. Vậy tại sao các thị hiếu thẩm mỹ của chúng ta lại đối
lập với các thị hiếu của những người ở thế kỷ thứ mười bảy?
Tại vì chúng ta đang ở trong một tình hình hoàn toàn khác.
Thế nên, chúng ta đang đi tới một kết luận quen thuộc với
chúng ta: tự nhiên tâm lý của con người làm cái mà ở nó có
thể là các khái niệm thẩm mỹ, và cái sự mở đầu phản đề kiểu
Đacuyn (“mâu thuẫn” kiểu Hêgen) đang đóng một vai trò vô
cùng quan trọng, mà đến nay vai trò này vẫn chưa được đánh
giá đầy đủ, trong cơ chế của các khái niệm ấy. Nhưng tại sao
một con người xã hội cụ thể lại có chính những thị hiếu ấy chứ
không phải những thị hiếu khác, do đâu nó thích chính những
thứ đồ vật ấy chứ không phải những thứ đồ vật khác, –điều
này phụ thuộc vào các điều kiện chung quanh” (87, trang
51).Không một ai đã giảng giải được rõ ràng, như Plêkhanốp,
sự tất yếu, về mặt lý thuyết cũng như về mặt phương pháp,
phải nghiên cứu tâm lý đối với lý luận nghệ thuật mácxít.
Theo lời nói của ông, “mọi hệ tư tưởng đều có một cội rễ
chung: tâm lý của một thời đại cụ thể nhất định” (89, 76).
Lấy Huygo, Becliôzơ và Đơlacroa làm dẫn chứng, ông đã
chỉ ra rằng chủ nghĩa lãng mạn tâm lý của thời đại đã sản sinh
ra trong ba lĩnh vực khác loại – hội họa, thơ ca và âm nhạc –
ba hình thức khác nhau của chủ nghĩa lãng mạn tư tưởng (89,
trang 76 – 78). Theo cách trình bày của Plêkhanốp, để biểu thị
mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng,
chúng tôi phân biệt năm nhân tố kế tiếp:
1. tình trạng lực lượng sản xuất,
2. các quan hệ kinh tế;
3. chế độ chính trị xã hội;
4. tâm lý con người xã hội;..
5. những hệ tư tưởng khác nhau có phản ánh trong
mình các đặc điểm của tâm lý đó (89, trang 75),
Như vậy, tâm lý của con người xã hội được nhìn nhận như
là một nền móng chung của hệ tư tưởng ở mỗi thời đại nhất
định, kể cả của nghệ thuật. Điều này nói lên rằng nghệ thuật bị
qui định và chi phối một cách mật thiết nhất bởi tâm lý của
con người xã hội.
Như vậy, ở cái chỗ trước đây có sự thù nghịch chúng tôi tìm
thấy một sự hòa giải và hòa hợp của các trường phái tâm lý và
chống tâm lý trong mỹ học tìm thấy sự phân định ranh giới
cho một lĩnh vực nghiên cứu dựa trên cơ sở xã hội học mácxít.
Hệ thống xã hội học này – triết học của chủ nghĩa duy vật lịch
sử – tất nhiên, rất ít thiên về việc lý giải một cái gì đó từ tâm lý
con người như là từ nguyên nhân cuối cùng. Nhưng cũng ở
mức độ đó nó không thiên về việc bác bỏ hay xem thường tâm
lý này và tầm quan trọng của việc nghiên cứu nó như một cơ
chế trung gian mà nhờ đó các quan hệ kinh tế và chế độ chính
trị – xã hội tạo nên một hệ tư tưởng này hay hệ tư tưởng khác.
Khi nghiên cứu các hình thức phức tạp nhiều hay ít của nghệ
thuật, học thuyết này đều đòi hỏi một cách chính đáng sự nhất
thiết phải nghiên cứu tâm lý, bởi vì cái khoảng cách giữa các
quan hệ kinh tế với hình thái tư tưởng đang trở nên ngày càng
lớn hơn và nghệ thuật đã chẳng thể được lý giải một cách trực
diện từ các quan hệ kinh tế. Plêkhanốp đã lưu ý tới điều này
khi ông so sánh điệu múa của những người phụ nữ châu Úc
với cái menuét hồi thế kỷ thứ XVIII. “Để hiểu điệu múa của
thổ dân châu Úc, chỉ cần biết ý nghĩa của việc những người
phụ nữ lượm nhặt các rễ cây hoang dại trong đời sống của bộ
lạc châu Úc. Còn dễ hiểu menuet, chẳng hạn, thì sẽ hoàn toàn
chưa đủ nếu chỉ có các hiểu biết về kinh tế Pháp hồi thế kỷ thứ
XVIII. Ở đây chúng ta đề cập tới một điệu múa biểu thị được
tâm lý của một giai cấp phi sản xuất… Thế nên, “nhân tố”
kinh tế ở đây đã nhường vị trí và vinh dự cho “nhân tố” tâm lý.
Song đừng quên rằng bản thân sự xuất hiện của các giai cấp
phí sản xuất trong xã hội là sản phẩm của sự phát triển kinh
tế” (89, trang 65).
Như vậy, cách xem xét mácxít đối với nghệ thuật, nhất là ở
những hình thức hết sức phức tạp của nó, nhất thiết phải chứa
đựng cả việc nghiên cứu sự tác động tâm – vật lý của tác phẩm
nghệ thuật.
Đối tượng của nghiên cứu xã hội học có thể hoặc là bản
thân hệ tư tưởng, hoặc là sự phụ thuộc của hệ tư tưởng vào các
hình thái này khác của sự phát triển xã hội, song một công
trình nghiên cứu xã hội học mà không được bổ sung bởi công
trình nghiên cứu tâm lý thì không bao giờ tự nó lại có thể phát
hiện ra được cái nguyên nhân gần gũi nhất của hệ tư tưởng:
tâm lý con người xã hội. Điều hết sức quan trọng và cơ bản để
xác lập cái ranh giới phương pháp luận giữa hai quan điểm là
làm sáng tỏ sự khác nhau giữa tâm lý với hệ tư tưởng.
Theo cách nhìn này ta thấy hoàn toàn rõ ràng cái vai trò đặc
biệt đã được đặt lên số phận của nghệ thuật với tư cách một
hình thái tư tưởng hoàn toàn đặc biệt, một hình thái có liên
quan tới một lĩnh vực hoàn toàn độc đáo của tâm lý con người.
Và nếu chúng ta muốn làm sáng tỏ bản thân sự độc đáo này
của nghệ thuật, làm sáng tỏ cái điều đã làm nổi bật nghệ thuật
và tác động của nó trong tất thảy các hình thái tư tưởng còn
lại, thì chúng ta nhất thiết phải cần đến một sự phân tích tâm
lý. Toàn bộ vấn đề là ở chỗ, nghệ thuật hệ thống hóa một phạm
vi hoàn toàn đặc biệt của tâm lý con người xã hội – cụ thể là
phạm vi tình cảm của con người. Và tuy ở phía sau tất thảy các
phạm vi tâm lý đều có cùng những nguyên nhân đã làm nảy
sinh ra chúng, song khi tác động thông qua những Verhal–
tensweisen tâm lý khác nhau, chúng lại dấy lên trong đời sống
những hình thái tư tưởng khác nhau.
Như vậy, sự thù nghịch trước đây nay được thay thế bằng
một sự liên minh của hai trường phái trong mỹ học, và môi
trường phái đều chỉ có được ý nghĩa trong một hệ thống triết
học chung. Nếu việc cải cách mỹ học từ trên tỏ ra ít nhiều rõ
ràng trên những đường nét chung và được ghi nhận trong một
loạt công trình, chí ít ở mức độ cho phép tiếp tục nghiên cứu
các vấn đề ấy theo tinh thần chủ nghĩa duy vật lịch sử, thì
trong các lĩnh vực giáp ranh – lĩnh vực nghiên cứu tâm lý học
nghệ thuật – tình hình lại hoàn toàn khác. Đang nảy sinh hàng
loạt những khó khăn và những vấn đề chưa từng gặp đối với
phương pháp luận trước đây của mỹ học tâm lý nói chung. Và
điều quan trọng nhất trong số các khó khăn mới này là vấn đề
phân định tâm lý xã hội và tâm lý cá nhân trong khi nghiên
cứu những vấn đề của nghệ thuật. Hoàn toàn rõ ràng là giờ dây
phai được xem xét lại một cách cơ bản cái cách nhìn trước kia
vốn thường không cho phép có những nghi ngờ trong vấn đề
phân định giới hạn giữa hai quan điểm tâm lý ấy. Tôi nghĩ
rằng cái quan niệm thông thường về đối tượng và tài liệu của
tâm lý học xã hội đã tỏ ra không đúng từ gốc khi kiểm nghiệm
nó với quan điểm mới. Trên thực tế, quan điểm tâm lý học xã
hội hay quan điểm tâm lý dân tộc, như Vunt hiểu, đã chọn khối
lượng nghiên cứu của mình là ngôn ngữ, huyền thoại, phong
tục, nghệ thuật, các hệ thống tôn giáo, các mực thước pháp lý
và đạo lý. Hoàn toàn rõ ràng là, xét theo quan điểm vừa nói
trên thì tất cả những cái đó đều không phải là tâm lý: đấy là
những sự kết đọng của hệ tư tưởng, những tinh thể. Còn nhiệm
vụ của tâm lý học là phải làm sao để nghiên cứu cho được: bản
thân dung dịch, bản thân tâm lý xã hội, chứ không phải hệ tư
tưởng. Ngôn ngữ, phong tục, huyền thoại tất cả những cái đó
là kết quả hoạt động của tâm lý xã hội, chứ không phải quá
trình của nó. Vậy nên khi Tâm lý học xã hội nghiên cứu các
đối tượng đó, thì nó đã đem hệ tư tưởng thay vào tâm lý. Rõ
ràng là tiền đề cơ bản của tâm lý học xã hội trước đây và của
phản xạ học tập thể mới xuất hiện lại tuồng như tâm lý
của con người riêng lẻ là vô ích đối với giải thích tâm lý xã
hội đang bị chao đảo bởi khuyết điểm mới về mặt phương
pháp luận.
Bêctêrep khẳng định: “… rõ ràng là tâm lý của những cá
nhân riêng lẻ là vô ích đối với việc giải thích các vận động xã
hội…” (18, trang 14). Cùng đi theo quan điểm này còn có
những nhà tâm lý học xã hội khác, như Mac – Đaogôn, Lebon,
Frơt và những người khác; họ nhìn nhận tâm lý xã hội như là
một cái gì có sau, nảy sinh từ tâm lý cá nhân. Hơn nữa họ còn
cho rằng có một tâm lý cá nhân đặc biệt, và từ sự tác động lẫn
nhau sau đó của hai thứ tâm lý cá nhân ấy mới nảy sinh tâm lý
tập thể chung cho tất cả các cá thể nhất định nào đó. Ở đây
tâm lý học xã hội xuất hiện như một thứ tâm lý học về cá nhân
tố hợp, theo kiểu như một đám đông được tập hợp từ những
con người riêng lẻ, tuy đám đông này cũng có một thứ là tâm
lý siêu cá nhân của nó. Như vậy, tâm lý học xã hội phi mácxít
quan niệm yếu tố xã hội theo kiểu kinh nghiệm thô thiển nhất
thiết cứ phải là một đám đông, một tập thể, một mối quan hệ
với những người khác. Xã hội, được hiểu như một liên hợp
của nhiều người, như một điều kiện thêm vào cho sự hoạt
động của một con người. Những nhà tâm lý học này không thể
nghĩ được rằng: trong sự vận động cá nhân riêng tư nhất của tư
tưởng, của tình cảm, vv…, tâm lý của một cá nhân riêng lẻ dẫu
sao vẫn mang tính chất xã hội và bị chi phối bởi xã hội. Rất dễ
vạch ra rằng chính tâm lý của con người riêng lẻ là đối tượng
của tâm lý học xã hội. Thật là sai lầm cái ý kiến của G.
Tsenpanôp thường hay được những người khác nhắc lại, cái ý
kiến cho rằng tâm lý học thuần mácxít là tâm lý học xã hội
chuyên nghiên cứu sự phát sinh của các hình thái tư tưởng
theo phương pháp thuần mácxít (nghiên cứu nguồn gốc các
hình thái nói trên trong sự lệ thuộc vào việc nghiên cứu kinh tế
xã hội) và cho rằng tâm lý học kinh nghiệm và thực nghiệm
chẳng thể nào trở thành mácxít được, cũng như khoáng sản
học, vật lý học, hóa học, v.v… không thể trở thành mácxít. Để
khẳng định điều đó Tsenpanôp đã dựa vào chương thứ 8.
“Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác” của Tsenpanôp, ở
đây có nói rất rõ về nguồn gốc của hệ tư tưởng, Có chăng phải
nghĩ ngược lại thì mới đúng, tức là tâm lý học cá nhân (kinh
nghiệm và thực nghiệm) mới có thể và phải trở thành mácxít.
Trên thực tế, một khi chúng ta phủ nhận sự tồn tại của tâm hồn
nhân dân, của tinh thần nhân dân, v.v…, thì làm sao chúng ta
có thể phân biệt được tâm lý học xã hội với tâm lý học cá
nhân. Chính tâm lý học về mỗi con người riêng lẻ, chính
những gì có trong đầu óc nó mới là cái tâm lý mà tâm lý học
xã hội cần nghiên cứu. Ngoài ra không còn một thứ tâm lý nào
khác. Tất cả những cái khác đều hoặc là siêu hình học, hoặc là
hệ tư tưởng, vậy nên khẳng định rằng tâm lý học về mỗi con
người riêng lẻ không thể trở thành mácxít tức là không thể trở
thành tâm lý học xã hội kiểu như khoáng sản học, hóa học,
v.v…, thì như vậy có nghĩa là đã không hiểu được lời khẳng
định cơ bản của Mác cho rằng “con người theo nghĩa gốc của
từ chính là con vật xã hội, không chỉ là con vật vốn ưa tiếp xúc
mà là con vật chỉ trong xã hội mới có thể được nổi bật lên” (1,
trang 710). Xem tâm lý của một con người riêng lẻ, tức là đối
tượng của tâm lý học thực nghiệm và kinh nghiệm, cũng là phi
xã hội như đối tượng của khoáng sản học – có nghĩa là đứng
trên một lập trường trực tiếp đối lập với chủ nghĩa Mác. Ấy là
chưa nói tới chuyện ngay cả vật lý học, hóa học, khoáng sản
học, tất nhiên, đều có thể là mácxít hay phản mácxít, nếu như
chúng ta hiểu khoa học không phải là một bản danh sách trần
trụi các sự kiện và các danh mục những sự phụ thuộc, mà là
một lĩnh vực nhận thức được hệ thống hóa một cách rộng lớn
hơn về cả một bộ phận của thế giới.
Vấn đề cuối cùng, còn lại là sự phát sinh của các hình thái
tư tưởng. Có đích thực đối tượng của tâm lý học xã hội là
nghiên cứu sự phụ thuộc của các hình thái tư tưởng vào kinh tế
xã hội? Tôi nghĩ rằng hoàn toàn không phải thế. Đấy là nhiệm
vụ chung của mỗi môn khoa học bộ phận, như của mỗi nhánh
của xã hội học tổng quát. Lịch sử tôn giáo và pháp quyền, lịch
sử nghệ thuật và khoa học đều luôn luôn phải giải thích nhiệm
vụ này đối với lĩnh vực của mình.
Thế nhưng không phải chỉ từ các suy nghĩ lý luận mà làm
sáng tỏ tính chất không đúng đắn của quan điểm trước đây;
tính chất không đúng đắn này được bộc lộ rõ ràng hơn nhiều
qua kinh nghiệm thực tế của bản thân tâm lý học xã hội...
TÁC GIẢ: L. X. VƯGÔTXKI
NGƯỜI DỊCH: HOÀI LAM
NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ NỘI – 1981
ĐÁNH MÁY & SOÁT LỖI: anhanh1310
TVE-4U
Thể xác có được những khả năng gì, điều đó cho đến nay chưa một ai xác định
nổi…
Nhưng, người ta nói rằng, do tự nhiên chỉ được nhìn nhận hoàn toàn là thể xác
nên chỉ từ độc những quy luật tự nhiên thì chẳng thể nào rút ra được các nguyên
nhân của những lâu đài kiến trúc, những tác phẩm hội họa và những gì tương tự mà
duy chỉ nghệ thuật nhân loại tạo nên, và thể xác con người chẳng thể xây dựng nổi
một đền đài nào nếu như nó không được quy định và chỉ đạo bởi tâm hồn. song tôi
đã chỉ ra rằng họ không biết thể xác có được những khả năng gì và cái gì có thể rút
ra từ nguyên một việc nhìn nhận mặt tự nhiên của nó…
BÊNÊĐIC XPINNÔZA
Luân lý, phần III,
định lý 2, chú giải
LỜI NÓI ĐẦU
Cuốn sách này được viết ra như là kết quả của một loạt – những công trình lớn,
nhỏ trong lĩnh vực nghệ thuật và tâm lý học. Ba công trình nghiên cứu văn học – về
Krư–lốp, về Hămlét và về bố cục truyện – làm nền tảng cho những phân tích của
tôi, cũng như cả một loạt bài viết ngắn, dài trên báo. Ở đây, trong các chương liên
quan, chỉ có những đoạn đúc kết, phác tả ngắn gọn, những nhận định tổng quát của
các công trình ấy, bởi lẽ trong mỗi chương chẳng thể nào trình bày nổi một sự phân
tích đầy đủ về Hămlét. Phải dành cho công việc này một cuốn sách riêng. Việc tìm
kiếm một lối thoát ra khỏi những giới hạn mong manh của chủ nghĩa chủ quan cũng
qui định ở mức như nhau cả số phận nghệ thuật học Nga lẫn số phận tâm lý học
Nga trong những năm này. Cái khuynh hướng muốn vươn tới chủ nghĩa khách
quan, tới tri thức khoa học tự nhiên chính xác theo kiều duy vật chủ nghĩa trên cả
hai lĩnh vực ấy đã tạo nên cuốn sách này. Một mặt, nghệ thuật học đã bắt đầu thấy
ngày càng cần hơn phải có những căn cứ tâm lý học. Mặt khác, cả tâm lý học, khi
cố gắng lý giải hành vi ứng xử nói chung, cũng đã không thì không hướng tới
những vấn đề phức tạp của phản ứng thầm mỹ. Nếu tính thêm vào đó cái bước
nhích lên mà hiện nay cả hai môn khoa học ấy đang có được và sự khủng hoảng của
chủ nghĩa khách quan đang bao trùm cả hai thứ đó, thì chính điều này sẽ quy định
đến cùng độ nhọn sắc của đề tài chúng ta. Trên thực tế, dù có ý thức hay không có ý
thức, nghệ thuật học truyền thống, xét trên nền tảng của nó, bao giờ cũng có những
tiền đề tâm lý, thế nhưng thứ tâm lý học thông thường cũ kỹ đã không còn đáp ứng
được do hai nguyên nhân. Thứ nhất, nó đã được sử dụng đủ nuôi dưỡng mọi thứ
chủ nghĩa chủ quan trọng mỹ học, trong các trào lưu khách quan lại cần có những
tiền đề khách quan. Thứ hai, đang hình thành một thứ tâm lý học mới và đang xây
dựng lại nền tảng của mọi cái được gọi là “khoa học về tinh thần” đã cũ kỹ. Vậy
nên, nhiệm vụ công trình nghiên cứu của chúng tôi là xem xét lại môn tâm lý học
nghệ thuật truyền thống và cố gắng nêu lên một lĩnh vực nghiên cứu đa cho tâm lý
học khách quan – đặt vấn đề, nêu ra phương pháp và nguyên tắc lý giải tâm lý cơ
bản, chỉ thế thôi.
Gọi cuốn sách này là “Tâm lý học nghệ thuật”, tác giả không hề muốn nói riêng
trong cuốn sách sẽ có trình bày cả hệ thống các vấn đề, sẽ có giới thiệu đầy đủ toàn
bộ các mục và sự kiện. Mục đích của chúng tôi khác hẳn: không phải một hệ thống,
mà là một chương trình, không phải toàn bộ mọi vấn đề, mà chỉ một vấn đề trung
tâm được chúng tôi ghi nhận suốt bấy nay và theo đuổi như là mục đích.
Thế nên chúng tôi sẽ gác sang một bên cuộc tranh luận về quan điểm tâm lý
trong mỹ học và về những ranh giới phân chia mỹ học với nghệ thuật học đơn
thuần. Cùng với Lipx, chúng tôi nghĩ rằng có thể xác định mỹ học như một bộ môn
tâm lý ứng dụng, song nói chung chúng tôi sẽ không đặt ra vấn đề này, chúng tôi
chỉ dừng lại ở mức là: bảo vệ tính chất chính đáng về phương pháp và nguyên tắc
trong việc xem xét tâm lý về nghệ thuật…, chỉ ra được tầm quan trọng thực chất
của nó, tìm ra vị trí của nó trong hệ thống khoa học mácxít về nghệ thuật. Ở đây,
đối với chúng tôi sợi, chỉ quán xuyến là luận điểm mọi người đều biết của chủ
nghĩa Mác: sự xem xét xã hội học về nghệ thuật không thay thế và gạt bỏ sự xem
xét mỹ học, mà, ngược lại, mở rộng cửa trước nó và đón mời nó, như là một sự bổ
sung cho mình, nói theo lời Plêkhanôp. Còn sự thảo luận mỹ học về nghệ thuật, do
không muốn đứt đoạn với xã hội học mác xít, nhất thiết phải có những căn cứ tâm
lý học – xã hội. Có thể dễ dàng chỉ ra rằng ngay những nhà nghệ thuật học từng
giới định một cách hoàn toàn chính đáng lĩnh vực của mình khỏi mỹ học, cũng đều
không tránh khỏi ra những tiền đề tâm lý học tùy tiện và mong manh, thiếu phê
phán vào việc nghiên cứu các khái niệm và vấn đề cơ bản của nghệ thuật. Chúng tôi
chia sẻ với quan điểm của Utix cho rằng nghệ thuật vượt ra khỏi ra ranh giới của
mỹ học và thậm chí còn có những đặc điểm khác biệt về nguyên tắc với các giá trị
thẩm mỹ, nghệ thuật được bắt đầu từ trong môi trường thẩm mỹ, song không hòa
tan trong đó đến cùng. Vậy nếu chúng ta thấy rõ rằng tâm lý học nghệ thuật phải có
quan hệ với chính mỹ học, tuy không được quên mất những ranh giới phân biệt hai
lĩnh vực đó.
Cần nói rằng cả trong lĩnh vực nghệ thuật học mới, lẫn trong lĩnh vực tâm lý học
khách quan, hiện nay người ta hay còn đang nghiên cứu các khái niệm cơ bản, về
các nguyên lý nền tảng, chỉ mới tiến hành những bước đi ban đầu. Đấy, vì sao một
công trình nảy sinh ở chỗ giáp ranh của hai môn khoa học này, một công trình
muốn bằng ngôn ngữ của tâm lý học khách quan bàn về các sự kiện khách quan của
nghệ thuật, lại nhất thiết phải luôn luôn dừng lại ở trước cửa vấn đề, chứ không đi
sâu vào và cũng không mở rộng nhiều. Chúng tôi chỉ muốn phát triển cho được sự
độc đáo của cái nhìn tâm lý học về nghệ thuật và nêu ra một tư tưởng trung tâm,
nêu ra các phương pháp nghiên cứu nó và nội dung vấn đề. Nếu ở chỗ gặp gỡ của
ba ý đồ này có xuất hiện một thứ tâm lý học khách quan về nghệ thuật thì công
trình này sẽ chính là cái hạt mầm mà từ đó nó sẽ mọc lên.
Chúng tôi coi tư tưởng trung tâm của tâm lý học nghệ thuật là: thừa nhận sự
khắc phục của hình thức nghệ thuật đối với tài liệu hay là thừa nhận rằng nghệ
thuật là kỹ thuật xã hội của tình cảm. Chúng tôi coi phương pháp nghiên cứu vấn
đề này là phương pháp phân tích khách quan, xuất phát từ việc phân tích nghệ thuật
để đi tới một sự tổng hợp tâm lý học, – phương pháp phân tích các hệ thống kích
thích nghệ thuật. Cùng với Geneken, chúng tôi nhìn vào tác phẩm nghệ thuật như
nhìn vào “một tổng hòa các ký hiệu thẩm mỹ nhằm thức tỉnh các cảm xúc ở con
người”, và trên cơ sở phân tích các ký hiệu này, chúng tôi cố gắng tạo dựng lại
những cảm xúc tương ứng với chúng. Thế nhưng phương pháp của chúng tôi khác
biệt với phương pháp estopsychologique ở chỗ: chúng tôi không nhìn nhận các ký
hiệu này như là những biểu hiện của tổ chức tâm hồn của tác giả hay của các độc
giả. Chúng tôi không đi từ nghệ thuật tới tâm lý của tác giả hay của độc giả, bởi vì
chúng tôi hiểu rằng chẳng thể làm được điều đó trên cơ sở lý giải các ký hiệu.
Chúng tôi cố gắng nghiên cứu thử tâm lý học nghệ thuật đơn thuần và vô nhân
xưng, bất kể đối với tác giả hay độc giả, vì chúng tôi chỉ dựa vào hình thức và tài
liệu của nghệ thuật. Nói rõ hơn: chỉ dựa vào các bài ngụ ngôn của Krưlốp, chúng
tôi chẳng bao giờ dựng lại nổi tâm lý Ông ta; còn tâm lý các độc giả của ông lại rất
khác nhau – ở những con người của thế kỷ thứ XIX và thế kỷ thứ XX và ngay ở
những nhóm, những giai cấp, những lứa tuổi, những con người khác nhau. Song khi
phân tích một bài thơ ngụ ngôn, chúng tôi lại có thể phát hiện được cái qui luật tâm
lý làm nền tảng cho nó, cái cơ chế tác động của nó, – và chính cái đó chúng tôi gọi
là tâm lý của bài thơ ngụ ngôn. Trên thực tế quy luật ấy và cơ chế ấy không hề tác
động trong cái dạng thuần túy của nó, mà bị phức tạp hóa bởi một loạt hiện tượng
và quá trình chúng đã sa vào; thế nhưng chúng tôi vẫn có quyền tách cái tâm lý của
bài thơ ngụ ngôn ấy ra khỏi tác động cụ thể của nó, như nhà tâm lý học vẫn thường
tách riêng ra một phản ứng thuần túy (một phản ứng cảm tính hay động cơ) của sự
lựa chọn hay phân biệt, để nghiên cứu nó như là một phản ứng vô nhân xưng.
Cuối cùng, chúng tôi thấy nội dung của vấn đề là làm sao đề tâm lý học nghệ
thuật, cả lý thuyết và ứng dụng, phát hiện ra được tất thảy những cơ chế vận hành
của nghệ thuật và cùng với xã hội học nghệ thuật sẽ tạo ra được nền tảng cho mọi
bộ môn khoa học chuyên biệt về nghệ thuật.
Nhiệm vụ của công trình này mang một tính chất tổng hợp thực sự. Muyler –
Freenfenx đã nói rất đúng rằng nhà tâm lý học nghệ thuật chẳng khác nào một nhà
sinh vật học biết tiến hành một sự phân tích đầy đủ về vật chất sống, phân tách nó
ra thành những bộ phận cấu thành, song lại không biết là các bộ phận này mà tạo
dựng lại cái toàn bộ và phát hiện ra các quy luật của cái toàn bộ ấy. Có một loạt
những công trình bàn về sự phân tích có hệ thống như vậy của tâm lý học nghệ
thuật, song tôi chưa thấy một công trình nào đã đặt và giải quyết một cách khách
quan vấn đề tổng hợp tâm lý của nghệ thuật. Xét trên ý nghĩa đó, thiết tưởng, cố
gắng này của chúng tôi là tiến hành một bước mới và dám mạnh dạn nêu ra một số
suy nghĩ mới, chưa hề một ai phát biểu trước sự thảo luận khoa học. Những điều
mới mẻ mà tác giả xem là của mình trong cuốn sách này, tất nhiên, cần được kiểm
nghiệm và phê phán, cần được thử thách bằng cả suy tư lẫn sự kiện thực tế. Dẫu sao
thì những điều đó ngày giờ đây đã được tác giả cảm thấy là xác đáng và chín muồi
tới mức dám gói thẳng ra trong cuốn sách này.
Khuynh hướng chung của công trình này là cố gắng có được một sự tỉnh táo
khoa học trong tâm lý học nghệ thuật, trong cái lĩnh vực tư biện nhất và đầy mơ hồ
bí hiểm của nhà tâm lý học. Sự suy nghĩ của tôi được biểu thị qua câu nói của Xpi–
nôza đã dẫn làm đề từ và tiếp bước theo ông, cũng sẽ cố gắng không cho phép mình
ngạc nhiên, không cười, không khóc – nhưng phải hiểu.
VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VẤN
ĐỀ
CHƯƠNG I
VẤN ĐỀ TÂM LÝ HỌC NGHỆ THUẬT
“Mỹ học từ trên” và “mỹ học từ dưới” Lý luận nghệ thuật mácxít và tâm
lý học. Tâm lý học – nghệ thuật xã hội và tâm lý học – nghệ thuật cá nhân.
Tâm lý học – nghệ thuật chủ quan và tâm lý học – nghệ thuật khách quan
trong nghệ thuật. Phương pháp phân tích khách quan và việc vận dụng nó.
Nếu cần gọi tên cái biên vực đã phân chia mọi trào lưu mỹ
học hiện nay ra thành hai hướng lớn, thì đấy chính là tâm lý
học. Hai lĩnh vực của mỹ học hiện nay – mỹ học tâm lý và mỹ
học phi tâm lý – bao trùm hầu như tất cả những gì sống động
trong môn khoa học này. Fêcner đã phân định rất đúng hai
hướng này khi ông gọi một hướng là “mỹ học từ trên” và
hướng kia là “mỹ học từ dưới”.
Có thể dễ dàng tưởng rằng ở đây đang nói tới không chỉ hai
lĩnh vực của một môn khoa học duy nhất mà thậm chí còn nói
về việc xây dựng hai bộ môn độc lập mà mỗi bộ môn đều có
một đối tượng và một phương pháp nghiên cứu riêng. Trong
khi đó đối với một số người, mỹ học vẫn hãy còn là một thứ
khoa học mang nặng tính chất tư biện. Một số người khác, ví
như O. Kuynpe, lại thiên về phía khẳng định rằng “ở thời gian
hiện nay, mỹ học đang nằm trong giai đoạn quá độ… Phương
pháp tư biện của chủ nghĩa duy tâm hậu Căng hầu như bị hoàn
toàn bác bỏ. Còn lỗi nghiên cứu mang tính chất kinh
nghiệm… thì đang chịu ảnh hưởng của tâm lý học… Chúng
tôi nghĩ, mỹ học là học thuyết về hành vi ứng xử thẩm mỹ
Verhalten, tức là về cái trạng thái chung đang thâm nhập và
bao trùm toàn bộ con người và có điểm xuất phát và chỗ tập
trung là ấn tượng thẩm mỹ… Mỹ học phải được nhìn nhận như
là tâm lý học về khoái cảm thẩm mỹ và sáng tạo nghệ thuật
(64, trang 98)1.
Fônkent cũng có ý kiến tương tự như vậy: “khách thể thẩm
mỹ… chỉ trở nên có được tính chất thẩm mỹ đặc trưng thông
qua cảm thụ, cảm xúc và tưởng tượng của chủ thể đang cảm
thụ” (161, trang 5).
Trong thời gian gần đây, ngay cả những nhà nghiên cứu như
Vêxêlốpxki (26, trang 222) cũng đã bắt đầu ngả về phía
phương pháp tâm lý. Và Fônkent đã bày tỏ được khá đúng đắn
cái tư tưởng chung: “Tâm lý học phải được đặt làm nền tảng
cho mỹ học” (117, trang 192). “… Nhiệm vụ gần gũi nhất, cấp
thiết nhất của mỹ học trong thời gian hiện nay tất nhiên không
phải là những kết cấu siêu hình, mà là một sự phân tích tâm lý
nghệ thuật một cách tỉ mỉ và tinh vi” (117, trang 208).
Ý kiến ngược lại là thuộc những trào lưu chống tâm lý mới
nổi lên độ một chục năm nay trong triết học Đức, lập luận
chung của những trào lưu ấy ta có thể thấy trong bài viết của
Gh. Spet (xem tài liệu số 136). Cuộc tranh cãi giữa những
người thuộc hai quan điểm đó đã diễn ra chủ yếu dựa vào các
luận chứng phủ định. Mỗi tư tưởng đều được biện hộ bằng tính
chất mong manh của tư tưởng đối lập, và cái tính chất thực sự
vô hiệu của cả tuyến này lẫn tuyến kia đã làm cho cuộc tranh
cãi phải kéo dài và cản trở việc giải quyết thực tế.
Mỹ học từ trên đã khai thác các quy luật và các chứng minh
của mình từ “bản tính của tâm hồn”, từ những tiền đề siêu hình
hay những lập luận suy diễn. Khi làm điều đó nó đã sử dụng
cái thẩm mỹ như là một phạm trù đặc biệt nào đấy của tồn tại,
và ngay cả những nhà tâm lý học lớn, như Lips, cũng đã không
tránh được mối tại hại chung ấy. Trong khi đó, mỹ học từ dưới
sau khi đã tự biến mình thành một loạt những thí nghiệm hết
sức ngây ngô, lại muốn bằng mọi cách cho phép mình lý giải
các quan hệ thẩm mỹ sơ đẳng nhất và đã tỏ ra bất lực, chẳng
thể cất mình cao hơn những sự việc sơ khai mà về thực chất
chẳng nói lên được gì. Như vậy, sự khủng hoảng sâu sắc ở cả
hai lĩnh vực mỹ học ấy ngày càng trở nên rõ ràng hơn, và
nhiều tác giả đã ý thức được nội dung và tính chất cuộc khủng
hoảng đó như một cuộc khủng hoảng mang tính chất toàn cục
hơn là cuộc khủng hoảng ở mỗi trào lưu riêng lẻ. Bản thân các
tiền đề xuất phát, các căn cứ và phương pháp nghiên cứu của
cả hai trường phái ấy đều tỏ ra là sai lầm. Điều này được bộc
lộ hoàn toàn rõ khi cuộc khủng hoảng lan sang tâm lý học kinh
nghiệm trong toàn bộ dung lượng của nó ở phía này, còn ở
phía kia là sang triết học duy tâm Đức mấy chục năm gần đây.
Lối thoát ở đây chỉ có thể là thay đổi tận gốc các nguyên tắc
nghiên cứu cơ bản, đặt lại hoàn toàn các nhiệm vụ và lựa chọn
các phương pháp mới. Trong lĩnh vực mỹ học từ trên đã bắt
đầu được khẳng định ngày càng mạnh mẽ hơn cái thức về sự
tất yếu phải có hạ tầng xã hội – lịch sử đối với việc xây dựng
bất kỳ một lý thuyết mỹ học nào. Đã bắt đầu thấy ngày càng rõ
hơn: nghệ thuật chỉ có thể trở thành đối tượng của nghiên cứu
khoa học, khi nó được nhìn nhận như là một trong những chức
năng sống còn của xã hội trong mối liên hệ khăng khít với mọi
lĩnh vực còn lại của đời sống xã hội, trong những điều kiện
lịch sử cụ thể của nó. Trong số các trường phái xã hội học
trong lý luận nghệ thuật, lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử
là triệt để và đi xa hơn cả, nó đang cố gắng xây dựng một cách
nhìn nhận khoa học và nghệ thuật trên cơ sở bản thân các
nguyên lý thường được vận dụng để nghiên cứu mọi hình thái
và hiện tượng đời sống xã hội. Xét trên quan điểm này nghệ
thuật thường được nhìn nhận như là một trong những hình thái
của hệ tư tưởng và cũng như mọi hình thái khác còn lại, nó
xuất hiện như một kiến trúc thượng tầng trên cơ sở hạ tầng của
cái quan hệ kinh tế và sản xuất. Và rất dễ hiểu là, do chỗ mỹ
học từ dưới luôn luôn là một thứ mỳ học mang tính chất kinh
nghiệm và thực chứng, nên lý luận nghệ thuật mácxít đang
phát lộ ra những khuynh hướng rõ ràng dẫn tới chỗ đem quy
các vấn đề lý thuyết mỹ học thành tâm lý học. Đối với Luna–
tsarxki, mỹ học chẳng qua chỉ vẻn vẹn là một trong những
ngành của tâm lý học. Tuy nhiên, sẽ thật là nông cạn nếu
khẳng định rằng nghệ thuật không có quy luật phát triển riêng
của nó, Dòng nước chảy bị quy định bởi lòng sông và bờ sông:
lúc thì nó trải rộng thành hồ, lúc lại lặng lờ trôi, khi thì sôi bọt
và gầm lên trên những ghềnh đá, khi lại trút đồ xuống thành
thác, hết quay sang phải lại sang trái, thậm chí còn quay ngoặt
hẳn lại, song cho dù có rõ đến mấy là dòng nước bị quy định
bởi tính tất yếu quyết liệt của các điều kiện bên ngoài, thì dẫu
sao bản chất của nó vẫn được quy định bởi các quy luật vận
động thủy năng, cái quy luật mà chúng ta chẳng thể hiểu được
từ những điều kiện bên ngoài của dòng nước, mà phải từ sự
tìm hiểu bản thân nước (70, trang 123 – 124).
Đối với luận thuyết này cái tuyến trước đây đã từng phân
định ranh giới giữa mỹ học từ trên và mỹ học từ dưới, giờ đây
lại chuyển theo một hướng khác hẳn: giờ đây nó tách xã hội
học nghệ thuật khỏi tâm lý học nghệ thuật và chỉ ra cho mỗi
ngành ấy một quan điểm riêng về cùng một đối tượng nghiên
cứu.
Plekhanôp đã phân định hoàn toàn rõ ràng cả hai quan điểm
trong các công trình nghiên cứu của mình về nghệ thuật, khi
ông chỉ ra rằng các cơ chế tâm lý quy định hành vi ứng xử
thẩm mỹ của con người là những cơ chế trong sự tác động của
mình luôn luôn bị quy định bởi các nguyên nhân mang tính
chất xã hội. Do đó hoàn toàn rõ ràng là, việc nghiên cứu sự tác
động của những cơ chế ấy chính là đối tượng của tâm lý học,
còn việc nghiên cứu các hoàn cảnh và điều kiện quy định
chúng lại là đối tượng của công trình nghiên cứu xã hội học.
“Tự nhiên của con người làm những gì mà ở nó có thể là các
thị hiếu và khái niệm thẩm mỹ. Các điều kiện chung quanh nó
quy định sự chuyển hóa của khả năng này thành hiện thực:
chúng sẽ giải thích sự việc một con người xã hội cụ thể (tức là
một xã hội nhất định, một dân tộc nhất định, một giai cấp nhất
định) có chính những thị hiếu và khái niệm thẩm mỹ ấy, chứ
không phải những thị hiếu và khái niệm khác…” (87, trang 6).
Như vậy, ở những thời đại khác nhau của quá trình phát triển
xã hội, con người nhận được từ tự nhiên những ấn tượng khác
nhau, bởi vì nó nhìn vào tự nhiên từ những quan điểm khác
nhau.
Tất nhiên, tác động của các quy luật chung về tự nhiên tâm
lý của con người không hề ngừng lại ở bất kỳ một thời đại nào.
Nhưng do trong những thời đại khác nhau “có những tài liệu
hoàn toàn không giống nhau rơi vào những đầu óc con người,
nên chẳng có gì là lạ khi các kết quả chế biến tài liệu cũng
hoàn toàn không giống nhau” (87, trang 56)… Ở một chừng
mực nào đó các quy luật tâm lý có thể làm chìa khóa – để tiến
tới việc lý giải lịch sử hệ tư tưởng nói chung và lịch sử nghệ
thuật nói riêng. Trong tâm lý của những con người ở thế kỷ
thứ mười bảy, sự mở đầu một phản đề đã từng đóng một vai
trò cũng đúng như trong tâm lý những người đương thời của
chúng ta. Vậy tại sao các thị hiếu thẩm mỹ của chúng ta lại đối
lập với các thị hiếu của những người ở thế kỷ thứ mười bảy?
Tại vì chúng ta đang ở trong một tình hình hoàn toàn khác.
Thế nên, chúng ta đang đi tới một kết luận quen thuộc với
chúng ta: tự nhiên tâm lý của con người làm cái mà ở nó có
thể là các khái niệm thẩm mỹ, và cái sự mở đầu phản đề kiểu
Đacuyn (“mâu thuẫn” kiểu Hêgen) đang đóng một vai trò vô
cùng quan trọng, mà đến nay vai trò này vẫn chưa được đánh
giá đầy đủ, trong cơ chế của các khái niệm ấy. Nhưng tại sao
một con người xã hội cụ thể lại có chính những thị hiếu ấy chứ
không phải những thị hiếu khác, do đâu nó thích chính những
thứ đồ vật ấy chứ không phải những thứ đồ vật khác, –điều
này phụ thuộc vào các điều kiện chung quanh” (87, trang
51).Không một ai đã giảng giải được rõ ràng, như Plêkhanốp,
sự tất yếu, về mặt lý thuyết cũng như về mặt phương pháp,
phải nghiên cứu tâm lý đối với lý luận nghệ thuật mácxít.
Theo lời nói của ông, “mọi hệ tư tưởng đều có một cội rễ
chung: tâm lý của một thời đại cụ thể nhất định” (89, 76).
Lấy Huygo, Becliôzơ và Đơlacroa làm dẫn chứng, ông đã
chỉ ra rằng chủ nghĩa lãng mạn tâm lý của thời đại đã sản sinh
ra trong ba lĩnh vực khác loại – hội họa, thơ ca và âm nhạc –
ba hình thức khác nhau của chủ nghĩa lãng mạn tư tưởng (89,
trang 76 – 78). Theo cách trình bày của Plêkhanốp, để biểu thị
mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng,
chúng tôi phân biệt năm nhân tố kế tiếp:
1. tình trạng lực lượng sản xuất,
2. các quan hệ kinh tế;
3. chế độ chính trị xã hội;
4. tâm lý con người xã hội;..
5. những hệ tư tưởng khác nhau có phản ánh trong
mình các đặc điểm của tâm lý đó (89, trang 75),
Như vậy, tâm lý của con người xã hội được nhìn nhận như
là một nền móng chung của hệ tư tưởng ở mỗi thời đại nhất
định, kể cả của nghệ thuật. Điều này nói lên rằng nghệ thuật bị
qui định và chi phối một cách mật thiết nhất bởi tâm lý của
con người xã hội.
Như vậy, ở cái chỗ trước đây có sự thù nghịch chúng tôi tìm
thấy một sự hòa giải và hòa hợp của các trường phái tâm lý và
chống tâm lý trong mỹ học tìm thấy sự phân định ranh giới
cho một lĩnh vực nghiên cứu dựa trên cơ sở xã hội học mácxít.
Hệ thống xã hội học này – triết học của chủ nghĩa duy vật lịch
sử – tất nhiên, rất ít thiên về việc lý giải một cái gì đó từ tâm lý
con người như là từ nguyên nhân cuối cùng. Nhưng cũng ở
mức độ đó nó không thiên về việc bác bỏ hay xem thường tâm
lý này và tầm quan trọng của việc nghiên cứu nó như một cơ
chế trung gian mà nhờ đó các quan hệ kinh tế và chế độ chính
trị – xã hội tạo nên một hệ tư tưởng này hay hệ tư tưởng khác.
Khi nghiên cứu các hình thức phức tạp nhiều hay ít của nghệ
thuật, học thuyết này đều đòi hỏi một cách chính đáng sự nhất
thiết phải nghiên cứu tâm lý, bởi vì cái khoảng cách giữa các
quan hệ kinh tế với hình thái tư tưởng đang trở nên ngày càng
lớn hơn và nghệ thuật đã chẳng thể được lý giải một cách trực
diện từ các quan hệ kinh tế. Plêkhanốp đã lưu ý tới điều này
khi ông so sánh điệu múa của những người phụ nữ châu Úc
với cái menuét hồi thế kỷ thứ XVIII. “Để hiểu điệu múa của
thổ dân châu Úc, chỉ cần biết ý nghĩa của việc những người
phụ nữ lượm nhặt các rễ cây hoang dại trong đời sống của bộ
lạc châu Úc. Còn dễ hiểu menuet, chẳng hạn, thì sẽ hoàn toàn
chưa đủ nếu chỉ có các hiểu biết về kinh tế Pháp hồi thế kỷ thứ
XVIII. Ở đây chúng ta đề cập tới một điệu múa biểu thị được
tâm lý của một giai cấp phi sản xuất… Thế nên, “nhân tố”
kinh tế ở đây đã nhường vị trí và vinh dự cho “nhân tố” tâm lý.
Song đừng quên rằng bản thân sự xuất hiện của các giai cấp
phí sản xuất trong xã hội là sản phẩm của sự phát triển kinh
tế” (89, trang 65).
Như vậy, cách xem xét mácxít đối với nghệ thuật, nhất là ở
những hình thức hết sức phức tạp của nó, nhất thiết phải chứa
đựng cả việc nghiên cứu sự tác động tâm – vật lý của tác phẩm
nghệ thuật.
Đối tượng của nghiên cứu xã hội học có thể hoặc là bản
thân hệ tư tưởng, hoặc là sự phụ thuộc của hệ tư tưởng vào các
hình thái này khác của sự phát triển xã hội, song một công
trình nghiên cứu xã hội học mà không được bổ sung bởi công
trình nghiên cứu tâm lý thì không bao giờ tự nó lại có thể phát
hiện ra được cái nguyên nhân gần gũi nhất của hệ tư tưởng:
tâm lý con người xã hội. Điều hết sức quan trọng và cơ bản để
xác lập cái ranh giới phương pháp luận giữa hai quan điểm là
làm sáng tỏ sự khác nhau giữa tâm lý với hệ tư tưởng.
Theo cách nhìn này ta thấy hoàn toàn rõ ràng cái vai trò đặc
biệt đã được đặt lên số phận của nghệ thuật với tư cách một
hình thái tư tưởng hoàn toàn đặc biệt, một hình thái có liên
quan tới một lĩnh vực hoàn toàn độc đáo của tâm lý con người.
Và nếu chúng ta muốn làm sáng tỏ bản thân sự độc đáo này
của nghệ thuật, làm sáng tỏ cái điều đã làm nổi bật nghệ thuật
và tác động của nó trong tất thảy các hình thái tư tưởng còn
lại, thì chúng ta nhất thiết phải cần đến một sự phân tích tâm
lý. Toàn bộ vấn đề là ở chỗ, nghệ thuật hệ thống hóa một phạm
vi hoàn toàn đặc biệt của tâm lý con người xã hội – cụ thể là
phạm vi tình cảm của con người. Và tuy ở phía sau tất thảy các
phạm vi tâm lý đều có cùng những nguyên nhân đã làm nảy
sinh ra chúng, song khi tác động thông qua những Verhal–
tensweisen tâm lý khác nhau, chúng lại dấy lên trong đời sống
những hình thái tư tưởng khác nhau.
Như vậy, sự thù nghịch trước đây nay được thay thế bằng
một sự liên minh của hai trường phái trong mỹ học, và môi
trường phái đều chỉ có được ý nghĩa trong một hệ thống triết
học chung. Nếu việc cải cách mỹ học từ trên tỏ ra ít nhiều rõ
ràng trên những đường nét chung và được ghi nhận trong một
loạt công trình, chí ít ở mức độ cho phép tiếp tục nghiên cứu
các vấn đề ấy theo tinh thần chủ nghĩa duy vật lịch sử, thì
trong các lĩnh vực giáp ranh – lĩnh vực nghiên cứu tâm lý học
nghệ thuật – tình hình lại hoàn toàn khác. Đang nảy sinh hàng
loạt những khó khăn và những vấn đề chưa từng gặp đối với
phương pháp luận trước đây của mỹ học tâm lý nói chung. Và
điều quan trọng nhất trong số các khó khăn mới này là vấn đề
phân định tâm lý xã hội và tâm lý cá nhân trong khi nghiên
cứu những vấn đề của nghệ thuật. Hoàn toàn rõ ràng là giờ dây
phai được xem xét lại một cách cơ bản cái cách nhìn trước kia
vốn thường không cho phép có những nghi ngờ trong vấn đề
phân định giới hạn giữa hai quan điểm tâm lý ấy. Tôi nghĩ
rằng cái quan niệm thông thường về đối tượng và tài liệu của
tâm lý học xã hội đã tỏ ra không đúng từ gốc khi kiểm nghiệm
nó với quan điểm mới. Trên thực tế, quan điểm tâm lý học xã
hội hay quan điểm tâm lý dân tộc, như Vunt hiểu, đã chọn khối
lượng nghiên cứu của mình là ngôn ngữ, huyền thoại, phong
tục, nghệ thuật, các hệ thống tôn giáo, các mực thước pháp lý
và đạo lý. Hoàn toàn rõ ràng là, xét theo quan điểm vừa nói
trên thì tất cả những cái đó đều không phải là tâm lý: đấy là
những sự kết đọng của hệ tư tưởng, những tinh thể. Còn nhiệm
vụ của tâm lý học là phải làm sao để nghiên cứu cho được: bản
thân dung dịch, bản thân tâm lý xã hội, chứ không phải hệ tư
tưởng. Ngôn ngữ, phong tục, huyền thoại tất cả những cái đó
là kết quả hoạt động của tâm lý xã hội, chứ không phải quá
trình của nó. Vậy nên khi Tâm lý học xã hội nghiên cứu các
đối tượng đó, thì nó đã đem hệ tư tưởng thay vào tâm lý. Rõ
ràng là tiền đề cơ bản của tâm lý học xã hội trước đây và của
phản xạ học tập thể mới xuất hiện lại tuồng như tâm lý
của con người riêng lẻ là vô ích đối với giải thích tâm lý xã
hội đang bị chao đảo bởi khuyết điểm mới về mặt phương
pháp luận.
Bêctêrep khẳng định: “… rõ ràng là tâm lý của những cá
nhân riêng lẻ là vô ích đối với việc giải thích các vận động xã
hội…” (18, trang 14). Cùng đi theo quan điểm này còn có
những nhà tâm lý học xã hội khác, như Mac – Đaogôn, Lebon,
Frơt và những người khác; họ nhìn nhận tâm lý xã hội như là
một cái gì có sau, nảy sinh từ tâm lý cá nhân. Hơn nữa họ còn
cho rằng có một tâm lý cá nhân đặc biệt, và từ sự tác động lẫn
nhau sau đó của hai thứ tâm lý cá nhân ấy mới nảy sinh tâm lý
tập thể chung cho tất cả các cá thể nhất định nào đó. Ở đây
tâm lý học xã hội xuất hiện như một thứ tâm lý học về cá nhân
tố hợp, theo kiểu như một đám đông được tập hợp từ những
con người riêng lẻ, tuy đám đông này cũng có một thứ là tâm
lý siêu cá nhân của nó. Như vậy, tâm lý học xã hội phi mácxít
quan niệm yếu tố xã hội theo kiểu kinh nghiệm thô thiển nhất
thiết cứ phải là một đám đông, một tập thể, một mối quan hệ
với những người khác. Xã hội, được hiểu như một liên hợp
của nhiều người, như một điều kiện thêm vào cho sự hoạt
động của một con người. Những nhà tâm lý học này không thể
nghĩ được rằng: trong sự vận động cá nhân riêng tư nhất của tư
tưởng, của tình cảm, vv…, tâm lý của một cá nhân riêng lẻ dẫu
sao vẫn mang tính chất xã hội và bị chi phối bởi xã hội. Rất dễ
vạch ra rằng chính tâm lý của con người riêng lẻ là đối tượng
của tâm lý học xã hội. Thật là sai lầm cái ý kiến của G.
Tsenpanôp thường hay được những người khác nhắc lại, cái ý
kiến cho rằng tâm lý học thuần mácxít là tâm lý học xã hội
chuyên nghiên cứu sự phát sinh của các hình thái tư tưởng
theo phương pháp thuần mácxít (nghiên cứu nguồn gốc các
hình thái nói trên trong sự lệ thuộc vào việc nghiên cứu kinh tế
xã hội) và cho rằng tâm lý học kinh nghiệm và thực nghiệm
chẳng thể nào trở thành mácxít được, cũng như khoáng sản
học, vật lý học, hóa học, v.v… không thể trở thành mácxít. Để
khẳng định điều đó Tsenpanôp đã dựa vào chương thứ 8.
“Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác” của Tsenpanôp, ở
đây có nói rất rõ về nguồn gốc của hệ tư tưởng, Có chăng phải
nghĩ ngược lại thì mới đúng, tức là tâm lý học cá nhân (kinh
nghiệm và thực nghiệm) mới có thể và phải trở thành mácxít.
Trên thực tế, một khi chúng ta phủ nhận sự tồn tại của tâm hồn
nhân dân, của tinh thần nhân dân, v.v…, thì làm sao chúng ta
có thể phân biệt được tâm lý học xã hội với tâm lý học cá
nhân. Chính tâm lý học về mỗi con người riêng lẻ, chính
những gì có trong đầu óc nó mới là cái tâm lý mà tâm lý học
xã hội cần nghiên cứu. Ngoài ra không còn một thứ tâm lý nào
khác. Tất cả những cái khác đều hoặc là siêu hình học, hoặc là
hệ tư tưởng, vậy nên khẳng định rằng tâm lý học về mỗi con
người riêng lẻ không thể trở thành mácxít tức là không thể trở
thành tâm lý học xã hội kiểu như khoáng sản học, hóa học,
v.v…, thì như vậy có nghĩa là đã không hiểu được lời khẳng
định cơ bản của Mác cho rằng “con người theo nghĩa gốc của
từ chính là con vật xã hội, không chỉ là con vật vốn ưa tiếp xúc
mà là con vật chỉ trong xã hội mới có thể được nổi bật lên” (1,
trang 710). Xem tâm lý của một con người riêng lẻ, tức là đối
tượng của tâm lý học thực nghiệm và kinh nghiệm, cũng là phi
xã hội như đối tượng của khoáng sản học – có nghĩa là đứng
trên một lập trường trực tiếp đối lập với chủ nghĩa Mác. Ấy là
chưa nói tới chuyện ngay cả vật lý học, hóa học, khoáng sản
học, tất nhiên, đều có thể là mácxít hay phản mácxít, nếu như
chúng ta hiểu khoa học không phải là một bản danh sách trần
trụi các sự kiện và các danh mục những sự phụ thuộc, mà là
một lĩnh vực nhận thức được hệ thống hóa một cách rộng lớn
hơn về cả một bộ phận của thế giới.
Vấn đề cuối cùng, còn lại là sự phát sinh của các hình thái
tư tưởng. Có đích thực đối tượng của tâm lý học xã hội là
nghiên cứu sự phụ thuộc của các hình thái tư tưởng vào kinh tế
xã hội? Tôi nghĩ rằng hoàn toàn không phải thế. Đấy là nhiệm
vụ chung của mỗi môn khoa học bộ phận, như của mỗi nhánh
của xã hội học tổng quát. Lịch sử tôn giáo và pháp quyền, lịch
sử nghệ thuật và khoa học đều luôn luôn phải giải thích nhiệm
vụ này đối với lĩnh vực của mình.
Thế nhưng không phải chỉ từ các suy nghĩ lý luận mà làm
sáng tỏ tính chất không đúng đắn của quan điểm trước đây;
tính chất không đúng đắn này được bộc lộ rõ ràng hơn nhiều
qua kinh nghiệm thực tế của bản thân tâm lý học xã hội...
 





