BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Viếng Lăng Bác - Bài giảng

    Tâm Lý Học Nghệ Thuật - Lev Vygotsky

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 19h:34' 09-03-2024
    Dung lượng: 1.7 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    TÂM LÝ HỌC NGHỆ THUẬT
    TÁC GIẢ: L. X. VƯGÔTXKI
    NGƯỜI DỊCH: HOÀI LAM
    NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
    HÀ NỘI – 1981
    ĐÁNH MÁY & SOÁT LỖI: anhanh1310

    TVE-4U

    Thể xác có được những khả năng gì, điều đó cho đến nay chưa một ai xác định
    nổi…
    Nhưng, người ta nói rằng, do tự nhiên chỉ được nhìn nhận hoàn toàn là thể xác
    nên chỉ từ độc những quy luật tự nhiên thì chẳng thể nào rút ra được các nguyên
    nhân của những lâu đài kiến trúc, những tác phẩm hội họa và những gì tương tự mà
    duy chỉ nghệ thuật nhân loại tạo nên, và thể xác con người chẳng thể xây dựng nổi
    một đền đài nào nếu như nó không được quy định và chỉ đạo bởi tâm hồn. song tôi
    đã chỉ ra rằng họ không biết thể xác có được những khả năng gì và cái gì có thể rút
    ra từ nguyên một việc nhìn nhận mặt tự nhiên của nó…
    BÊNÊĐIC XPINNÔZA
    Luân lý, phần III,
    định lý 2, chú giải

    LỜI NÓI ĐẦU
    Cuốn sách này được viết ra như là kết quả của một loạt – những công trình lớn,
    nhỏ trong lĩnh vực nghệ thuật và tâm lý học. Ba công trình nghiên cứu văn học – về
    Krư–lốp, về Hămlét và về bố cục truyện – làm nền tảng cho những phân tích của
    tôi, cũng như cả một loạt bài viết ngắn, dài trên báo. Ở đây, trong các chương liên
    quan, chỉ có những đoạn đúc kết, phác tả ngắn gọn, những nhận định tổng quát của
    các công trình ấy, bởi lẽ trong mỗi chương chẳng thể nào trình bày nổi một sự phân
    tích đầy đủ về Hămlét. Phải dành cho công việc này một cuốn sách riêng. Việc tìm
    kiếm một lối thoát ra khỏi những giới hạn mong manh của chủ nghĩa chủ quan cũng
    qui định ở mức như nhau cả số phận nghệ thuật học Nga lẫn số phận tâm lý học
    Nga trong những năm này. Cái khuynh hướng muốn vươn tới chủ nghĩa khách
    quan, tới tri thức khoa học tự nhiên chính xác theo kiều duy vật chủ nghĩa trên cả
    hai lĩnh vực ấy đã tạo nên cuốn sách này. Một mặt, nghệ thuật học đã bắt đầu thấy
    ngày càng cần hơn phải có những căn cứ tâm lý học. Mặt khác, cả tâm lý học, khi
    cố gắng lý giải hành vi ứng xử nói chung, cũng đã không thì không hướng tới
    những vấn đề phức tạp của phản ứng thầm mỹ. Nếu tính thêm vào đó cái bước
    nhích lên mà hiện nay cả hai môn khoa học ấy đang có được và sự khủng hoảng của
    chủ nghĩa khách quan đang bao trùm cả hai thứ đó, thì chính điều này sẽ quy định
    đến cùng độ nhọn sắc của đề tài chúng ta. Trên thực tế, dù có ý thức hay không có ý
    thức, nghệ thuật học truyền thống, xét trên nền tảng của nó, bao giờ cũng có những
    tiền đề tâm lý, thế nhưng thứ tâm lý học thông thường cũ kỹ đã không còn đáp ứng
    được do hai nguyên nhân. Thứ nhất, nó đã được sử dụng đủ nuôi dưỡng mọi thứ
    chủ nghĩa chủ quan trọng mỹ học, trong các trào lưu khách quan lại cần có những
    tiền đề khách quan. Thứ hai, đang hình thành một thứ tâm lý học mới và đang xây
    dựng lại nền tảng của mọi cái được gọi là “khoa học về tinh thần” đã cũ kỹ. Vậy
    nên, nhiệm vụ công trình nghiên cứu của chúng tôi là xem xét lại môn tâm lý học
    nghệ thuật truyền thống và cố gắng nêu lên một lĩnh vực nghiên cứu đa cho tâm lý
    học khách quan – đặt vấn đề, nêu ra phương pháp và nguyên tắc lý giải tâm lý cơ
    bản, chỉ thế thôi.
    Gọi cuốn sách này là “Tâm lý học nghệ thuật”, tác giả không hề muốn nói riêng
    trong cuốn sách sẽ có trình bày cả hệ thống các vấn đề, sẽ có giới thiệu đầy đủ toàn
    bộ các mục và sự kiện. Mục đích của chúng tôi khác hẳn: không phải một hệ thống,
    mà là một chương trình, không phải toàn bộ mọi vấn đề, mà chỉ một vấn đề trung
    tâm được chúng tôi ghi nhận suốt bấy nay và theo đuổi như là mục đích.
    Thế nên chúng tôi sẽ gác sang một bên cuộc tranh luận về quan điểm tâm lý
    trong mỹ học và về những ranh giới phân chia mỹ học với nghệ thuật học đơn
    thuần. Cùng với Lipx, chúng tôi nghĩ rằng có thể xác định mỹ học như một bộ môn
    tâm lý ứng dụng, song nói chung chúng tôi sẽ không đặt ra vấn đề này, chúng tôi

    chỉ dừng lại ở mức là: bảo vệ tính chất chính đáng về phương pháp và nguyên tắc
    trong việc xem xét tâm lý về nghệ thuật…, chỉ ra được tầm quan trọng thực chất
    của nó, tìm ra vị trí của nó trong hệ thống khoa học mácxít về nghệ thuật. Ở đây,
    đối với chúng tôi sợi, chỉ quán xuyến là luận điểm mọi người đều biết của chủ
    nghĩa Mác: sự xem xét xã hội học về nghệ thuật không thay thế và gạt bỏ sự xem
    xét mỹ học, mà, ngược lại, mở rộng cửa trước nó và đón mời nó, như là một sự bổ
    sung cho mình, nói theo lời Plêkhanôp. Còn sự thảo luận mỹ học về nghệ thuật, do
    không muốn đứt đoạn với xã hội học mác xít, nhất thiết phải có những căn cứ tâm
    lý học – xã hội. Có thể dễ dàng chỉ ra rằng ngay những nhà nghệ thuật học từng
    giới định một cách hoàn toàn chính đáng lĩnh vực của mình khỏi mỹ học, cũng đều
    không tránh khỏi ra những tiền đề tâm lý học tùy tiện và mong manh, thiếu phê
    phán vào việc nghiên cứu các khái niệm và vấn đề cơ bản của nghệ thuật. Chúng tôi
    chia sẻ với quan điểm của Utix cho rằng nghệ thuật vượt ra khỏi ra ranh giới của
    mỹ học và thậm chí còn có những đặc điểm khác biệt về nguyên tắc với các giá trị
    thẩm mỹ, nghệ thuật được bắt đầu từ trong môi trường thẩm mỹ, song không hòa
    tan trong đó đến cùng. Vậy nếu chúng ta thấy rõ rằng tâm lý học nghệ thuật phải có
    quan hệ với chính mỹ học, tuy không được quên mất những ranh giới phân biệt hai
    lĩnh vực đó.
    Cần nói rằng cả trong lĩnh vực nghệ thuật học mới, lẫn trong lĩnh vực tâm lý học
    khách quan, hiện nay người ta hay còn đang nghiên cứu các khái niệm cơ bản, về
    các nguyên lý nền tảng, chỉ mới tiến hành những bước đi ban đầu. Đấy, vì sao một
    công trình nảy sinh ở chỗ giáp ranh của hai môn khoa học này, một công trình
    muốn bằng ngôn ngữ của tâm lý học khách quan bàn về các sự kiện khách quan của
    nghệ thuật, lại nhất thiết phải luôn luôn dừng lại ở trước cửa vấn đề, chứ không đi
    sâu vào và cũng không mở rộng nhiều. Chúng tôi chỉ muốn phát triển cho được sự
    độc đáo của cái nhìn tâm lý học về nghệ thuật và nêu ra một tư tưởng trung tâm,
    nêu ra các phương pháp nghiên cứu nó và nội dung vấn đề. Nếu ở chỗ gặp gỡ của
    ba ý đồ này có xuất hiện một thứ tâm lý học khách quan về nghệ thuật thì công
    trình này sẽ chính là cái hạt mầm mà từ đó nó sẽ mọc lên.
    Chúng tôi coi tư tưởng trung tâm của tâm lý học nghệ thuật là: thừa nhận sự
    khắc phục của hình thức nghệ thuật đối với tài liệu hay là thừa nhận rằng nghệ
    thuật là kỹ thuật xã hội của tình cảm. Chúng tôi coi phương pháp nghiên cứu vấn
    đề này là phương pháp phân tích khách quan, xuất phát từ việc phân tích nghệ thuật
    để đi tới một sự tổng hợp tâm lý học, – phương pháp phân tích các hệ thống kích
    thích nghệ thuật. Cùng với Geneken, chúng tôi nhìn vào tác phẩm nghệ thuật như
    nhìn vào “một tổng hòa các ký hiệu thẩm mỹ nhằm thức tỉnh các cảm xúc ở con
    người”, và trên cơ sở phân tích các ký hiệu này, chúng tôi cố gắng tạo dựng lại
    những cảm xúc tương ứng với chúng. Thế nhưng phương pháp của chúng tôi khác
    biệt với phương pháp estopsychologique ở chỗ: chúng tôi không nhìn nhận các ký
    hiệu này như là những biểu hiện của tổ chức tâm hồn của tác giả hay của các độc

    giả. Chúng tôi không đi từ nghệ thuật tới tâm lý của tác giả hay của độc giả, bởi vì
    chúng tôi hiểu rằng chẳng thể làm được điều đó trên cơ sở lý giải các ký hiệu.
    Chúng tôi cố gắng nghiên cứu thử tâm lý học nghệ thuật đơn thuần và vô nhân
    xưng, bất kể đối với tác giả hay độc giả, vì chúng tôi chỉ dựa vào hình thức và tài
    liệu của nghệ thuật. Nói rõ hơn: chỉ dựa vào các bài ngụ ngôn của Krưlốp, chúng
    tôi chẳng bao giờ dựng lại nổi tâm lý Ông ta; còn tâm lý các độc giả của ông lại rất
    khác nhau – ở những con người của thế kỷ thứ XIX và thế kỷ thứ XX và ngay ở
    những nhóm, những giai cấp, những lứa tuổi, những con người khác nhau. Song khi
    phân tích một bài thơ ngụ ngôn, chúng tôi lại có thể phát hiện được cái qui luật tâm
    lý làm nền tảng cho nó, cái cơ chế tác động của nó, – và chính cái đó chúng tôi gọi
    là tâm lý của bài thơ ngụ ngôn. Trên thực tế quy luật ấy và cơ chế ấy không hề tác
    động trong cái dạng thuần túy của nó, mà bị phức tạp hóa bởi một loạt hiện tượng
    và quá trình chúng đã sa vào; thế nhưng chúng tôi vẫn có quyền tách cái tâm lý của
    bài thơ ngụ ngôn ấy ra khỏi tác động cụ thể của nó, như nhà tâm lý học vẫn thường
    tách riêng ra một phản ứng thuần túy (một phản ứng cảm tính hay động cơ) của sự
    lựa chọn hay phân biệt, để nghiên cứu nó như là một phản ứng vô nhân xưng.
    Cuối cùng, chúng tôi thấy nội dung của vấn đề là làm sao đề tâm lý học nghệ
    thuật, cả lý thuyết và ứng dụng, phát hiện ra được tất thảy những cơ chế vận hành
    của nghệ thuật và cùng với xã hội học nghệ thuật sẽ tạo ra được nền tảng cho mọi
    bộ môn khoa học chuyên biệt về nghệ thuật.
    Nhiệm vụ của công trình này mang một tính chất tổng hợp thực sự. Muyler –
    Freenfenx đã nói rất đúng rằng nhà tâm lý học nghệ thuật chẳng khác nào một nhà
    sinh vật học biết tiến hành một sự phân tích đầy đủ về vật chất sống, phân tách nó
    ra thành những bộ phận cấu thành, song lại không biết là các bộ phận này mà tạo
    dựng lại cái toàn bộ và phát hiện ra các quy luật của cái toàn bộ ấy. Có một loạt
    những công trình bàn về sự phân tích có hệ thống như vậy của tâm lý học nghệ
    thuật, song tôi chưa thấy một công trình nào đã đặt và giải quyết một cách khách
    quan vấn đề tổng hợp tâm lý của nghệ thuật. Xét trên ý nghĩa đó, thiết tưởng, cố
    gắng này của chúng tôi là tiến hành một bước mới và dám mạnh dạn nêu ra một số
    suy nghĩ mới, chưa hề một ai phát biểu trước sự thảo luận khoa học. Những điều
    mới mẻ mà tác giả xem là của mình trong cuốn sách này, tất nhiên, cần được kiểm
    nghiệm và phê phán, cần được thử thách bằng cả suy tư lẫn sự kiện thực tế. Dẫu sao
    thì những điều đó ngày giờ đây đã được tác giả cảm thấy là xác đáng và chín muồi
    tới mức dám gói thẳng ra trong cuốn sách này.
    Khuynh hướng chung của công trình này là cố gắng có được một sự tỉnh táo
    khoa học trong tâm lý học nghệ thuật, trong cái lĩnh vực tư biện nhất và đầy mơ hồ
    bí hiểm của nhà tâm lý học. Sự suy nghĩ của tôi được biểu thị qua câu nói của Xpi–
    nôza đã dẫn làm đề từ và tiếp bước theo ông, cũng sẽ cố gắng không cho phép mình
    ngạc nhiên, không cười, không khóc – nhưng phải hiểu.

    VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VẤN
    ĐỀ

    CHƯƠNG I

    VẤN ĐỀ TÂM LÝ HỌC NGHỆ THUẬT
    “Mỹ học từ trên” và “mỹ học từ dưới” Lý luận nghệ thuật mácxít và tâm
    lý học. Tâm lý học – nghệ thuật xã hội và tâm lý học – nghệ thuật cá nhân.
    Tâm lý học – nghệ thuật chủ quan và tâm lý học – nghệ thuật khách quan
    trong nghệ thuật. Phương pháp phân tích khách quan và việc vận dụng nó.

    Nếu cần gọi tên cái biên vực đã phân chia mọi trào lưu mỹ
    học hiện nay ra thành hai hướng lớn, thì đấy chính là tâm lý
    học. Hai lĩnh vực của mỹ học hiện nay – mỹ học tâm lý và mỹ
    học phi tâm lý – bao trùm hầu như tất cả những gì sống động
    trong môn khoa học này. Fêcner đã phân định rất đúng hai
    hướng này khi ông gọi một hướng là “mỹ học từ trên” và
    hướng kia là “mỹ học từ dưới”.
    Có thể dễ dàng tưởng rằng ở đây đang nói tới không chỉ hai
    lĩnh vực của một môn khoa học duy nhất mà thậm chí còn nói
    về việc xây dựng hai bộ môn độc lập mà mỗi bộ môn đều có
    một đối tượng và một phương pháp nghiên cứu riêng. Trong
    khi đó đối với một số người, mỹ học vẫn hãy còn là một thứ
    khoa học mang nặng tính chất tư biện. Một số người khác, ví
    như O. Kuynpe, lại thiên về phía khẳng định rằng “ở thời gian
    hiện nay, mỹ học đang nằm trong giai đoạn quá độ… Phương
    pháp tư biện của chủ nghĩa duy tâm hậu Căng hầu như bị hoàn
    toàn bác bỏ. Còn lỗi nghiên cứu mang tính chất kinh
    nghiệm… thì đang chịu ảnh hưởng của tâm lý học… Chúng
    tôi nghĩ, mỹ học là học thuyết về hành vi ứng xử thẩm mỹ
    Verhalten, tức là về cái trạng thái chung đang thâm nhập và
    bao trùm toàn bộ con người và có điểm xuất phát và chỗ tập
    trung là ấn tượng thẩm mỹ… Mỹ học phải được nhìn nhận như
    là tâm lý học về khoái cảm thẩm mỹ và sáng tạo nghệ thuật
    (64, trang 98)1.

    Fônkent cũng có ý kiến tương tự như vậy: “khách thể thẩm
    mỹ… chỉ trở nên có được tính chất thẩm mỹ đặc trưng thông
    qua cảm thụ, cảm xúc và tưởng tượng của chủ thể đang cảm
    thụ” (161, trang 5).
    Trong thời gian gần đây, ngay cả những nhà nghiên cứu như
    Vêxêlốpxki (26, trang 222) cũng đã bắt đầu ngả về phía
    phương pháp tâm lý. Và Fônkent đã bày tỏ được khá đúng đắn
    cái tư tưởng chung: “Tâm lý học phải được đặt làm nền tảng
    cho mỹ học” (117, trang 192). “… Nhiệm vụ gần gũi nhất, cấp
    thiết nhất của mỹ học trong thời gian hiện nay tất nhiên không
    phải là những kết cấu siêu hình, mà là một sự phân tích tâm lý
    nghệ thuật một cách tỉ mỉ và tinh vi” (117, trang 208).
    Ý kiến ngược lại là thuộc những trào lưu chống tâm lý mới
    nổi lên độ một chục năm nay trong triết học Đức, lập luận
    chung của những trào lưu ấy ta có thể thấy trong bài viết của
    Gh. Spet (xem tài liệu số 136). Cuộc tranh cãi giữa những
    người thuộc hai quan điểm đó đã diễn ra chủ yếu dựa vào các
    luận chứng phủ định. Mỗi tư tưởng đều được biện hộ bằng tính
    chất mong manh của tư tưởng đối lập, và cái tính chất thực sự
    vô hiệu của cả tuyến này lẫn tuyến kia đã làm cho cuộc tranh
    cãi phải kéo dài và cản trở việc giải quyết thực tế.
    Mỹ học từ trên đã khai thác các quy luật và các chứng minh
    của mình từ “bản tính của tâm hồn”, từ những tiền đề siêu hình
    hay những lập luận suy diễn. Khi làm điều đó nó đã sử dụng
    cái thẩm mỹ như là một phạm trù đặc biệt nào đấy của tồn tại,
    và ngay cả những nhà tâm lý học lớn, như Lips, cũng đã không
    tránh được mối tại hại chung ấy. Trong khi đó, mỹ học từ dưới
    sau khi đã tự biến mình thành một loạt những thí nghiệm hết
    sức ngây ngô, lại muốn bằng mọi cách cho phép mình lý giải
    các quan hệ thẩm mỹ sơ đẳng nhất và đã tỏ ra bất lực, chẳng

    thể cất mình cao hơn những sự việc sơ khai mà về thực chất
    chẳng nói lên được gì. Như vậy, sự khủng hoảng sâu sắc ở cả
    hai lĩnh vực mỹ học ấy ngày càng trở nên rõ ràng hơn, và
    nhiều tác giả đã ý thức được nội dung và tính chất cuộc khủng
    hoảng đó như một cuộc khủng hoảng mang tính chất toàn cục
    hơn là cuộc khủng hoảng ở mỗi trào lưu riêng lẻ. Bản thân các
    tiền đề xuất phát, các căn cứ và phương pháp nghiên cứu của
    cả hai trường phái ấy đều tỏ ra là sai lầm. Điều này được bộc
    lộ hoàn toàn rõ khi cuộc khủng hoảng lan sang tâm lý học kinh
    nghiệm trong toàn bộ dung lượng của nó ở phía này, còn ở
    phía kia là sang triết học duy tâm Đức mấy chục năm gần đây.
    Lối thoát ở đây chỉ có thể là thay đổi tận gốc các nguyên tắc
    nghiên cứu cơ bản, đặt lại hoàn toàn các nhiệm vụ và lựa chọn
    các phương pháp mới. Trong lĩnh vực mỹ học từ trên đã bắt
    đầu được khẳng định ngày càng mạnh mẽ hơn cái thức về sự
    tất yếu phải có hạ tầng xã hội – lịch sử đối với việc xây dựng
    bất kỳ một lý thuyết mỹ học nào. Đã bắt đầu thấy ngày càng rõ
    hơn: nghệ thuật chỉ có thể trở thành đối tượng của nghiên cứu
    khoa học, khi nó được nhìn nhận như là một trong những chức
    năng sống còn của xã hội trong mối liên hệ khăng khít với mọi
    lĩnh vực còn lại của đời sống xã hội, trong những điều kiện
    lịch sử cụ thể của nó. Trong số các trường phái xã hội học
    trong lý luận nghệ thuật, lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử
    là triệt để và đi xa hơn cả, nó đang cố gắng xây dựng một cách
    nhìn nhận khoa học và nghệ thuật trên cơ sở bản thân các
    nguyên lý thường được vận dụng để nghiên cứu mọi hình thái
    và hiện tượng đời sống xã hội. Xét trên quan điểm này nghệ
    thuật thường được nhìn nhận như là một trong những hình thái
    của hệ tư tưởng và cũng như mọi hình thái khác còn lại, nó
    xuất hiện như một kiến trúc thượng tầng trên cơ sở hạ tầng của

    cái quan hệ kinh tế và sản xuất. Và rất dễ hiểu là, do chỗ mỹ
    học từ dưới luôn luôn là một thứ mỳ học mang tính chất kinh
    nghiệm và thực chứng, nên lý luận nghệ thuật mácxít đang
    phát lộ ra những khuynh hướng rõ ràng dẫn tới chỗ đem quy
    các vấn đề lý thuyết mỹ học thành tâm lý học. Đối với Luna–
    tsarxki, mỹ học chẳng qua chỉ vẻn vẹn là một trong những
    ngành của tâm lý học. Tuy nhiên, sẽ thật là nông cạn nếu
    khẳng định rằng nghệ thuật không có quy luật phát triển riêng
    của nó, Dòng nước chảy bị quy định bởi lòng sông và bờ sông:
    lúc thì nó trải rộng thành hồ, lúc lại lặng lờ trôi, khi thì sôi bọt
    và gầm lên trên những ghềnh đá, khi lại trút đồ xuống thành
    thác, hết quay sang phải lại sang trái, thậm chí còn quay ngoặt
    hẳn lại, song cho dù có rõ đến mấy là dòng nước bị quy định
    bởi tính tất yếu quyết liệt của các điều kiện bên ngoài, thì dẫu
    sao bản chất của nó vẫn được quy định bởi các quy luật vận
    động thủy năng, cái quy luật mà chúng ta chẳng thể hiểu được
    từ những điều kiện bên ngoài của dòng nước, mà phải từ sự
    tìm hiểu bản thân nước (70, trang 123 – 124).
    Đối với luận thuyết này cái tuyến trước đây đã từng phân
    định ranh giới giữa mỹ học từ trên và mỹ học từ dưới, giờ đây
    lại chuyển theo một hướng khác hẳn: giờ đây nó tách xã hội
    học nghệ thuật khỏi tâm lý học nghệ thuật và chỉ ra cho mỗi
    ngành ấy một quan điểm riêng về cùng một đối tượng nghiên
    cứu.
    Plekhanôp đã phân định hoàn toàn rõ ràng cả hai quan điểm
    trong các công trình nghiên cứu của mình về nghệ thuật, khi
    ông chỉ ra rằng các cơ chế tâm lý quy định hành vi ứng xử
    thẩm mỹ của con người là những cơ chế trong sự tác động của
    mình luôn luôn bị quy định bởi các nguyên nhân mang tính
    chất xã hội. Do đó hoàn toàn rõ ràng là, việc nghiên cứu sự tác

    động của những cơ chế ấy chính là đối tượng của tâm lý học,
    còn việc nghiên cứu các hoàn cảnh và điều kiện quy định
    chúng lại là đối tượng của công trình nghiên cứu xã hội học.
    “Tự nhiên của con người làm những gì mà ở nó có thể là các
    thị hiếu và khái niệm thẩm mỹ. Các điều kiện chung quanh nó
    quy định sự chuyển hóa của khả năng này thành hiện thực:
    chúng sẽ giải thích sự việc một con người xã hội cụ thể (tức là
    một xã hội nhất định, một dân tộc nhất định, một giai cấp nhất
    định) có chính những thị hiếu và khái niệm thẩm mỹ ấy, chứ
    không phải những thị hiếu và khái niệm khác…” (87, trang 6).
    Như vậy, ở những thời đại khác nhau của quá trình phát triển
    xã hội, con người nhận được từ tự nhiên những ấn tượng khác
    nhau, bởi vì nó nhìn vào tự nhiên từ những quan điểm khác
    nhau.
    Tất nhiên, tác động của các quy luật chung về tự nhiên tâm
    lý của con người không hề ngừng lại ở bất kỳ một thời đại nào.
    Nhưng do trong những thời đại khác nhau “có những tài liệu
    hoàn toàn không giống nhau rơi vào những đầu óc con người,
    nên chẳng có gì là lạ khi các kết quả chế biến tài liệu cũng
    hoàn toàn không giống nhau” (87, trang 56)… Ở một chừng
    mực nào đó các quy luật tâm lý có thể làm chìa khóa – để tiến
    tới việc lý giải lịch sử hệ tư tưởng nói chung và lịch sử nghệ
    thuật nói riêng. Trong tâm lý của những con người ở thế kỷ
    thứ mười bảy, sự mở đầu một phản đề đã từng đóng một vai
    trò cũng đúng như trong tâm lý những người đương thời của
    chúng ta. Vậy tại sao các thị hiếu thẩm mỹ của chúng ta lại đối
    lập với các thị hiếu của những người ở thế kỷ thứ mười bảy?
    Tại vì chúng ta đang ở trong một tình hình hoàn toàn khác.
    Thế nên, chúng ta đang đi tới một kết luận quen thuộc với
    chúng ta: tự nhiên tâm lý của con người làm cái mà ở nó có

    thể là các khái niệm thẩm mỹ, và cái sự mở đầu phản đề kiểu
    Đacuyn (“mâu thuẫn” kiểu Hêgen) đang đóng một vai trò vô
    cùng quan trọng, mà đến nay vai trò này vẫn chưa được đánh
    giá đầy đủ, trong cơ chế của các khái niệm ấy. Nhưng tại sao
    một con người xã hội cụ thể lại có chính những thị hiếu ấy chứ
    không phải những thị hiếu khác, do đâu nó thích chính những
    thứ đồ vật ấy chứ không phải những thứ đồ vật khác, –điều
    này phụ thuộc vào các điều kiện chung quanh” (87, trang
    51).Không một ai đã giảng giải được rõ ràng, như Plêkhanốp,
    sự tất yếu, về mặt lý thuyết cũng như về mặt phương pháp,
    phải nghiên cứu tâm lý đối với lý luận nghệ thuật mácxít.
    Theo lời nói của ông, “mọi hệ tư tưởng đều có một cội rễ
    chung: tâm lý của một thời đại cụ thể nhất định” (89, 76).
    Lấy Huygo, Becliôzơ và Đơlacroa làm dẫn chứng, ông đã
    chỉ ra rằng chủ nghĩa lãng mạn tâm lý của thời đại đã sản sinh
    ra trong ba lĩnh vực khác loại – hội họa, thơ ca và âm nhạc –
    ba hình thức khác nhau của chủ nghĩa lãng mạn tư tưởng (89,
    trang 76 – 78). Theo cách trình bày của Plêkhanốp, để biểu thị
    mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng,
    chúng tôi phân biệt năm nhân tố kế tiếp:
    1. tình trạng lực lượng sản xuất,
    2. các quan hệ kinh tế;
    3. chế độ chính trị xã hội;
    4. tâm lý con người xã hội;..
    5. những hệ tư tưởng khác nhau có phản ánh trong
    mình các đặc điểm của tâm lý đó (89, trang 75),
    Như vậy, tâm lý của con người xã hội được nhìn nhận như
    là một nền móng chung của hệ tư tưởng ở mỗi thời đại nhất
    định, kể cả của nghệ thuật. Điều này nói lên rằng nghệ thuật bị

    qui định và chi phối một cách mật thiết nhất bởi tâm lý của
    con người xã hội.
    Như vậy, ở cái chỗ trước đây có sự thù nghịch chúng tôi tìm
    thấy một sự hòa giải và hòa hợp của các trường phái tâm lý và
    chống tâm lý trong mỹ học tìm thấy sự phân định ranh giới
    cho một lĩnh vực nghiên cứu dựa trên cơ sở xã hội học mácxít.
    Hệ thống xã hội học này – triết học của chủ nghĩa duy vật lịch
    sử – tất nhiên, rất ít thiên về việc lý giải một cái gì đó từ tâm lý
    con người như là từ nguyên nhân cuối cùng. Nhưng cũng ở
    mức độ đó nó không thiên về việc bác bỏ hay xem thường tâm
    lý này và tầm quan trọng của việc nghiên cứu nó như một cơ
    chế trung gian mà nhờ đó các quan hệ kinh tế và chế độ chính
    trị – xã hội tạo nên một hệ tư tưởng này hay hệ tư tưởng khác.
    Khi nghiên cứu các hình thức phức tạp nhiều hay ít của nghệ
    thuật, học thuyết này đều đòi hỏi một cách chính đáng sự nhất
    thiết phải nghiên cứu tâm lý, bởi vì cái khoảng cách giữa các
    quan hệ kinh tế với hình thái tư tưởng đang trở nên ngày càng
    lớn hơn và nghệ thuật đã chẳng thể được lý giải một cách trực
    diện từ các quan hệ kinh tế. Plêkhanốp đã lưu ý tới điều này
    khi ông so sánh điệu múa của những người phụ nữ châu Úc
    với cái menuét hồi thế kỷ thứ XVIII. “Để hiểu điệu múa của
    thổ dân châu Úc, chỉ cần biết ý nghĩa của việc những người
    phụ nữ lượm nhặt các rễ cây hoang dại trong đời sống của bộ
    lạc châu Úc. Còn dễ hiểu menuet, chẳng hạn, thì sẽ hoàn toàn
    chưa đủ nếu chỉ có các hiểu biết về kinh tế Pháp hồi thế kỷ thứ
    XVIII. Ở đây chúng ta đề cập tới một điệu múa biểu thị được
    tâm lý của một giai cấp phi sản xuất… Thế nên, “nhân tố”
    kinh tế ở đây đã nhường vị trí và vinh dự cho “nhân tố” tâm lý.
    Song đừng quên rằng bản thân sự xuất hiện của các giai cấp

    phí sản xuất trong xã hội là sản phẩm của sự phát triển kinh
    tế” (89, trang 65).
    Như vậy, cách xem xét mácxít đối với nghệ thuật, nhất là ở
    những hình thức hết sức phức tạp của nó, nhất thiết phải chứa
    đựng cả việc nghiên cứu sự tác động tâm – vật lý của tác phẩm
    nghệ thuật.
    Đối tượng của nghiên cứu xã hội học có thể hoặc là bản
    thân hệ tư tưởng, hoặc là sự phụ thuộc của hệ tư tưởng vào các
    hình thái này khác của sự phát triển xã hội, song một công
    trình nghiên cứu xã hội học mà không được bổ sung bởi công
    trình nghiên cứu tâm lý thì không bao giờ tự nó lại có thể phát
    hiện ra được cái nguyên nhân gần gũi nhất của hệ tư tưởng:
    tâm lý con người xã hội. Điều hết sức quan trọng và cơ bản để
    xác lập cái ranh giới phương pháp luận giữa hai quan điểm là
    làm sáng tỏ sự khác nhau giữa tâm lý với hệ tư tưởng.
    Theo cách nhìn này ta thấy hoàn toàn rõ ràng cái vai trò đặc
    biệt đã được đặt lên số phận của nghệ thuật với tư cách một
    hình thái tư tưởng hoàn toàn đặc biệt, một hình thái có liên
    quan tới một lĩnh vực hoàn toàn độc đáo của tâm lý con người.
    Và nếu chúng ta muốn làm sáng tỏ bản thân sự độc đáo này
    của nghệ thuật, làm sáng tỏ cái điều đã làm nổi bật nghệ thuật
    và tác động của nó trong tất thảy các hình thái tư tưởng còn
    lại, thì chúng ta nhất thiết phải cần đến một sự phân tích tâm
    lý. Toàn bộ vấn đề là ở chỗ, nghệ thuật hệ thống hóa một phạm
    vi hoàn toàn đặc biệt của tâm lý con người xã hội – cụ thể là
    phạm vi tình cảm của con người. Và tuy ở phía sau tất thảy các
    phạm vi tâm lý đều có cùng những nguyên nhân đã làm nảy
    sinh ra chúng, song khi tác động thông qua những Verhal–
    tensweisen tâm lý khác nhau, chúng lại dấy lên trong đời sống
    những hình thái tư tưởng khác nhau.

    Như vậy, sự thù nghịch trước đây nay được thay thế bằng
    một sự liên minh của hai trường phái trong mỹ học, và môi
    trường phái đều chỉ có được ý nghĩa trong một hệ thống triết
    học chung. Nếu việc cải cách mỹ học từ trên tỏ ra ít nhiều rõ
    ràng trên những đường nét chung và được ghi nhận trong một
    loạt công trình, chí ít ở mức độ cho phép tiếp tục nghiên cứu
    các vấn đề ấy theo tinh thần chủ nghĩa duy vật lịch sử, thì
    trong các lĩnh vực giáp ranh – lĩnh vực nghiên cứu tâm lý học
    nghệ thuật – tình hình lại hoàn toàn khác. Đang nảy sinh hàng
    loạt những khó khăn và những vấn đề chưa từng gặp đối với
    phương pháp luận trước đây của mỹ học tâm lý nói chung. Và
    điều quan trọng nhất trong số các khó khăn mới này là vấn đề
    phân định tâm lý xã hội và tâm lý cá nhân trong khi nghiên
    cứu những vấn đề của nghệ thuật. Hoàn toàn rõ ràng là giờ dây
    phai được xem xét lại một cách cơ bản cái cách nhìn trước kia
    vốn thường không cho phép có những nghi ngờ trong vấn đề
    phân định giới hạn giữa hai quan điểm tâm lý ấy. Tôi nghĩ
    rằng cái quan niệm thông thường về đối tượng và tài liệu của
    tâm lý học xã hội đã tỏ ra không đúng từ gốc khi kiểm nghiệm
    nó với quan điểm mới. Trên thực tế, quan điểm tâm lý học xã
    hội hay quan điểm tâm lý dân tộc, như Vunt hiểu, đã chọn khối
    lượng nghiên cứu của mình là ngôn ngữ, huyền thoại, phong
    tục, nghệ thuật, các hệ thống tôn giáo, các mực thước pháp lý
    và đạo lý. Hoàn toàn rõ ràng là, xét theo quan điểm vừa nói
    trên thì tất cả những cái đó đều không phải là tâm lý: đấy là
    những sự kết đọng của hệ tư tưởng, những tinh thể. Còn nhiệm
    vụ của tâm lý học là phải làm sao để nghiên cứu cho được: bản
    thân dung dịch, bản thân tâm lý xã hội, chứ không phải hệ tư
    tưởng. Ngôn ngữ, phong tục, huyền thoại tất cả những cái đó
    là kết quả hoạt động của tâm lý xã hội, chứ không phải quá
    trình của nó. Vậy nên khi Tâm lý học xã hội nghiên cứu các

    đối tượng đó, thì nó đã đem hệ tư tưởng thay vào tâm lý. Rõ
    ràng là tiền đề cơ bản của tâm lý học xã hội trước đây và của
    phản xạ học tập thể mới xuất hiện lại tuồng như tâm lý
    của con người riêng lẻ là vô ích đối với giải thích tâm lý xã
    hội đang bị chao đảo bởi khuyết điểm mới về mặt phương
    pháp luận.
    Bêctêrep khẳng định: “… rõ ràng là tâm lý của những cá
    nhân riêng lẻ là vô ích đối với việc giải thích các vận động xã
    hội…” (18, trang 14). Cùng đi theo quan điểm này còn có
    những nhà tâm lý học xã hội khác, như Mac – Đaogôn, Lebon,
    Frơt và những người khác; họ nhìn nhận tâm lý xã hội như là
    một cái gì có sau, nảy sinh từ tâm lý cá nhân. Hơn nữa họ còn
    cho rằng có một tâm lý cá nhân đặc biệt, và từ sự tác động lẫn
    nhau sau đó của hai thứ tâm lý cá nhân ấy mới nảy sinh tâm lý
    tập thể chung cho tất cả các cá thể nhất định nào đó. Ở đây
    tâm lý học xã hội xuất hiện như một thứ tâm lý học về cá nhân
    tố hợp, theo kiểu như một đám đông được tập hợp từ những
    con người riêng lẻ, tuy đám đông này cũng có một thứ là tâm
    lý siêu cá nhân của nó. Như vậy, tâm lý học xã hội phi mácxít
    quan niệm yếu tố xã hội theo kiểu kinh nghiệm thô thiển nhất
    thiết cứ phải là một đám đông, một tập thể, một mối quan hệ
    với những người khác. Xã hội, được hiểu như một liên hợp
    của nhiều người, như một điều kiện thêm vào cho sự hoạt
    động của một con người. Những nhà tâm lý học này không thể
    nghĩ được rằng: trong sự vận động cá nhân riêng tư nhất của tư
    tưởng, của tình cảm, vv…, tâm lý của một cá nhân riêng lẻ dẫu
    sao vẫn mang tính chất xã hội và bị chi phối bởi xã hội. Rất dễ
    vạch ra rằng chính tâm lý của con người riêng lẻ là đối tượng
    của tâm lý học xã hội. Thật là sai lầm cái ý kiến của G.
    Tsenpanôp thường hay được những người khác nhắc lại, cái ý

    kiến cho rằng tâm lý học thuần mácxít là tâm lý học xã hội
    chuyên nghiên cứu sự phát sinh của các hình thái tư tưởng
    theo phương pháp thuần mácxít (nghiên cứu nguồn gốc các
    hình thái nói trên trong sự lệ thuộc vào việc nghiên cứu kinh tế
    xã hội) và cho rằng tâm lý học kinh nghiệm và thực nghiệm
    chẳng thể nào trở thành mácxít được, cũng như khoáng sản
    học, vật lý học, hóa học, v.v… không thể trở thành mácxít. Để
    khẳng định điều đó Tsenpanôp đã dựa vào chương thứ 8.
    “Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác” của Tsenpanôp, ở
    đây có nói rất rõ về nguồn gốc của hệ tư tưởng, Có chăng phải
    nghĩ ngược lại thì mới đúng, tức là tâm lý học cá nhân (kinh
    nghiệm và thực nghiệm) mới có thể và phải trở thành mácxít.
    Trên thực tế, một khi chúng ta phủ nhận sự tồn tại của tâm hồn
    nhân dân, của tinh thần nhân dân, v.v…, thì làm sao chúng ta
    có thể phân biệt được tâm lý học xã hội với tâm lý học cá
    nhân. Chính tâm lý học về mỗi con người riêng lẻ, chính
    những gì có trong đầu óc nó mới là cái tâm lý mà tâm lý học
    xã hội cần nghiên cứu. Ngoài ra không còn một thứ tâm lý nào
    khác. Tất cả những cái khác đều hoặc là siêu hình học, hoặc là
    hệ tư tưởng, vậy nên khẳng định rằng tâm lý học về mỗi con
    người riêng lẻ không thể trở thành mácxít tức là không thể trở
    thành tâm lý học xã hội kiểu như khoáng sản học, hóa học,
    v.v…, thì như vậy có nghĩa là đã không hiểu được lời khẳng
    định cơ bản của Mác cho rằng “con người theo nghĩa gốc của
    từ chính là con vật xã hội, không chỉ là con vật vốn ưa tiếp xúc
    mà là con vật chỉ trong xã hội mới có thể được nổi bật lên” (1,
    trang 710). Xem tâm lý của một con người riêng lẻ, tức là đối
    tượng của tâm lý học thực nghiệm và kinh nghiệm, cũng là phi
    xã hội như đối tượng của khoáng sản học – có nghĩa là đứng
    trên một lập trường trực tiếp đối lập với chủ nghĩa Mác. Ấy là
    chưa nói tới chuyện ngay cả vật lý học, hóa học, khoáng sản

    học, tất nhiên, đều có thể là mácxít hay phản mácxít, nếu như
    chúng ta hiểu khoa học không phải là một bản danh sách trần
    trụi các sự kiện và các danh mục những sự phụ thuộc, mà là
    một lĩnh vực nhận thức được hệ thống hóa một cách rộng lớn
    hơn về cả một bộ phận của thế giới.
    Vấn đề cuối cùng, còn lại là sự phát sinh của các hình thái
    tư tưởng. Có đích thực đối tượng của tâm lý học xã hội là
    nghiên cứu sự phụ thuộc của các hình thái tư tưởng vào kinh tế
    xã hội? Tôi nghĩ rằng hoàn toàn không phải thế. Đấy là nhiệm
    vụ chung của mỗi môn khoa học bộ phận, như của mỗi nhánh
    của xã hội học tổng quát. Lịch sử tôn giáo và pháp quyền, lịch
    sử nghệ thuật và khoa học đều luôn luôn phải giải thích nhiệm
    vụ này đối với lĩnh vực của mình.
    Thế nhưng không phải chỉ từ các suy nghĩ lý luận mà làm
    sáng tỏ tính chất không đúng đắn của quan điểm trước đây;
    tính chất không đúng đắn này được bộc lộ rõ ràng hơn nhiều
    qua kinh nghiệm thực tế của bản thân tâm lý học xã hội...
     
    Gửi ý kiến

    “Nếu bạn muốn đạt được bất cứ điều gì trong cuộc sống, bạn phải đọc rất nhiều sách.” – Roald Dahl

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TRUNG HỌC THỰC HÀNH SÀI GÒN !