BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Viếng Lăng Bác - Bài giảng

    Tâm Lý Học Tội Phạm Tập 1 - Stanton E. Samenow

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 19h:35' 09-03-2024
    Dung lượng: 1.3 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    THÔNG TIN EBOOK
    Tên sách
    Tâm Lý Học Tội Phạm - Tập 1
    Nguyên tác
    Inside the Criminal Mind
    Tác giả
    Stanton E. Samenow
    Dịch giả
    Huy Nguyễn
    Thể loại
    Khoa Học, Hành Vi
    Phát hành
    1980 Books
    Nhà Xuất Bản
    NXB Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
    Ebook
    2021 kindlekobovn
    —★—

    LỜI GIỚI THIỆU
    Hai năm sau khi ra trường, thời điểm tôi mới 28 tuổi, trong
    suốt tháng 1 năm 1971 tôi cùng với Tiến sĩ Samuel Yochelson
    đảm nhận vai trò chuyên gia tâm lý nghiên cứu lâm sàng trong
    Chương trình Điều tra Hành vi Tội phạm tại Bệnh viện St.
    Elizabeths tại Washington, D.C. Khi ấy tôi gần như không
    nhận ra rằng mình đã bắt đầu con đường sự nghiệp mà bản
    thân sẽ theo đuổi cho đến tận những năm 70 tuổi. Tiến sĩ
    Yochelson khởi động chương trình này năm 1961 và đây vẫn
    là chương trình điều trị nghiên cứu chuyên sâu về tội phạm dài
    nhất được thực hiện tại Bắc Mỹ. Khi ông qua đời vào ngày 12
    tháng 11 năm 1976, tôi trở thành người kế tục chương trình
    đột phá này và tiếp tục công việc đánh giá cũng như làm việc
    với tội phạm, từ những tên trộm cắp vặt cho tới những kẻ đam
    mê giết người.
    Trong nhiều thập kỷ qua, những hiểu biết thông thường
    phổ biến về hoạt động phạm tội đã coi kẻ phạm tội là nạn nhân
    của những tác động mà người đó gần như không hoặc không
    thể kiểm soát được. Hầu như mọi thứ có thể nghĩ tới đều được
    xác định là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội, bao gồm
    nghèo đói, sự yếu kém trong việc nuôi dạy con cái, áp lực từ
    bạn bè, bạo lực trên các phương tiện truyền thông và nhiều
    loại bệnh khác nhau về tinh thần. Tiến sĩ Yochelson và tôi
    cùng chung quan điểm về giả thuyết tiền đề này khi bắt đầu
    chương trình. Chúng tôi đã dành hàng nghìn giờ đồng hồ để
    phỏng vấn những tội phạm và những người khác hiểu rõ về tội
    phạm trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1978. Chúng tôi
    nhận ra rằng, những cá nhân này không phải do môi trường
    của họ không may nhào nặn nên và điều này trái ngược với
    những gì chúng tôi tin tưởng ban đầu. Không có nguyên nhân
    phạm tội nào được chấp nhận rộng rãi có thể lý giải phù hợp
    khi xem xét kỹ lưỡng. Ngoài ra, những người phạm tội chúng
    tôi làm việc cùng đã khai thác việc tìm kiếm nguyên nhân của
    chúng tôi để đưa ra nhiều lời bào chữa hơn cho tội ác của
    mình. Khi đề cập đến hoạt động điều trị tâm thần trong nhiều

    tháng, một người đàn ông nói với Tiến sĩ Yochelson trong một
    khoảnh khắc trải lòng hiếm hoi, “Thưa Tiến sĩ, nếu tôi đưa ra
    quá nhiều lời bào chữa cho hành vi phạm tội của mình trước
    khi điều trị tâm thần thì bây giờ tôi đã có thể sở hữu cả một gia
    tài sau ngần ấy năm”. Khi chúng tôi giúp bản thân thoát khỏi
    vấn đề tìm kiếm “nguyên nhân của hành vi tội phạm”, chúng
    tôi có thể nâng cao hiểu biết về cách thức tư duy của tội phạm
    trong mọi khía cạnh của cuộc sống cũng như phát triển một
    quy trình nhằm giúp một số tội phạm thay đổi. Hành vi là sản
    phẩm của tư duy, và do đó, bất cứ ai hoạch định chính sách
    hoặc làm việc với người phạm tội đều có trách nhiệm phải
    hiểu được cách thức tư duy của tội phạm.
    Sau khi công việc của chúng tôi tại Bệnh viện St.
    Elizabeths được giới thiệu trong một phân đoạn của chương
    trình 60 Minutes trên đài CBS News vào ngày 17 tháng 2 năm
    1977, tôi bắt đầu nhận được những lời mời đến trò chuyện với
    các nhóm chuyên gia về hoạt động cải huấn, sức khỏe tinh
    thần, công tác xã hội, tư vấn về việc làm dụng các chất, thực
    thi pháp luật, và bộ máy tư pháp. Những phản hồi từ khán giả
    có cả những vụ tấn công cá nhân (thậm chí tôi còn bị cáo buộc
    là gây nguy hiểm) vì tôi không thừa nhận những học thuyết
    gần như quan trọng nhất về nguyên nhân gây ra hành vi phạm
    tội, và hơn nữa tôi còn khẳng định sự tồn tại thực sự của “tính
    cách tội phạm”. Dường như có sự khác biệt về quan điểm giữa
    những “người theo thuyết ghế bành” rất ít hoặc không có sự
    liên hệ trực tiếp với tội phạm và những người tương tác hằng
    ngày với những đối tượng đó. Nhóm thứ hai - cán bộ cải huấn,
    cố vấn, quan chức thực thi pháp luật, và các nhà tâm lý học chấp nhận công việc của chúng tôi bởi vì nó phù hợp với
    những gì họ gặp phải hằng ngày trong công việc và vì nó đưa
    ra những góc nhìn chuyên sâu giúp họ thực hiện công việc
    hiệu quả hơn.
    Ấn bản đầu tiên của cuốn sách Tâm lý học tội phạm được
    xuất bản năm 1984, và ấn bản thứ hai xuất bản năm 2004. Sau
    một thập kỷ, hiện đã đến lúc bổ sung thêm các thông tin cho
    cuốn sách này. Trong ấn bản này, bạn sẽ hiểu chi tiết về các

    quá trình tư duy và chiến thuật phổ biến đối với những kẻ
    phạm tội, bất kể lý lịch hay tội ác của chúng.
    Bản chất con người không thay đổi, và do đó tư duy tội
    phạm mà tôi mô tả trong các ấn bản trước của cuốn sách này
    cũng không thay đổi. Tuy nhiên, một xã hội liên tục thay đổi
    đã tạo ra những con đường mới để tư duy tội phạm thể hiện
    vai trò của mình. Ví dụ, hành vi bắt nạt không phải là mới
    nhưng bắt nạt trên không gian mạng thì lại mới mẻ và nó tạo
    ra cho những thanh thiếu niên và người trưởng thành có
    khuynh hướng phạm tội một đấu trường mới rộng lớn hơn, gây
    ra nhiều đau khổ hơn.
    Internet là một phương tiện nhanh chóng và hiệu quả để
    tiến hành nghiên cứu, mua sắm, lập kế hoạch du lịch và giao
    tiếp với những người khác. Công nghệ đã mở ra một thế giới
    tương tự cho tội phạm để chúng có thể tiến hành “nghiên cứu”
    và thực hiện các kế hoạch. Với Internet, tội phạm có quyền
    truy cập ngay lập tức để làm những gì chúng vẫn luôn làm gian lận, lừa đảo, ăn cắp và đe dọa. Tội phạm mạng ngày càng
    trở thành mối đe dọa đối với các cá nhân, doanh nghiệp và
    chính phủ. Những kẻ phạm tội cách xa những nạn nhân hàng
    ngàn dặm và nằm ngoài phạm vi của các cơ quan thực thi pháp
    luật vẫn có thể xâm nhập vào các hệ thống máy tính của chính
    phủ, đánh cắp thông tin cá nhân, ăn cắp mã nhận dạng và tiêu
    diệt các phần mềm hoặc hồ sơ kinh doanh có giá trị của công
    ty.
    Ấn bản năm 2004 của cuốn sách Tâm lý học tội phạm
    bao gồm một chương về sự tham gia của tội phạm trong thế
    giới ma túy. Ấn bản này mở rộng cuộc thảo luận đó để đưa vào
    tình trạng lạm dụng thuốc kê đơn đáng báo động, việc sản xuất
    và sử dụng các loại ma túy tổng hợp mới bổ sung thêm vào
    vấn đề xã hội vốn đã rất nghiêm trọng này. Sản xuất, phân
    phối và sử dụng ma túy tạo ra những âm mưu phạm tội, cảm
    giác phấn khích và lợi nhuận về tài chính.
    Cùng với việc cung cấp những thông tin chi tiết hơn về
    các phương thức tư duy và hành động của tội phạm (và ít
    thông tin hơn về những nguyên nhân được viện dẫn trong hành
    vi phạm tội), tôi dành một chương cho hai trường hợp, trong

    đó hai thanh niên có hoàn cảnh rất khác nhau phạm tội giết
    người. Bạn sẽ thấy rằng, các quá trình tư duy của thanh niên
    xuất thân từ một gia đình giàu có và thanh niên lớn lên trong
    một ngôi nhà nội đô hỗn loạn là hoàn toàn giống nhau. Trong
    toàn bộ cuốn sách này, bạn sẽ thấy được sự giống nhau trong
    cách thức tư duy giữa những tên tội phạm cổ cồn trắng phạm
    tội chiếm đoạt hàng triệu đô la và những tên côn đồ đường phố
    đe dọa một người già bằng dao chỉ để cướp lấy 20 đô la.
    Tôi đã bổ sung một chương về vấn đề tình dục trong cuộc
    đời của kẻ phạm tội. Việc theo đuổi vấn đề tình dục và thực
    hiện các hành vi phạm tội tình dục gần như không liên quan
    đến việc thỏa mãn tình dục. Thay vào đó, thông qua hoạt động
    tình dục, tội phạm thể hiện sức mạnh, nuôi dưỡng bản ngã và
    khẳng định anh ta là người khó có thể cưỡng lại được. Quan
    niệm này đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu được tâm lý
    của các giáo sĩ, huấn luyện viên, cố vấn và những nhà giáo
    dục, những người có thể thao túng người khác để lấy lòng tin
    và sau đó lợi dụng vị trí của họ để dụ dỗ trẻ em trở thành nạn
    nhân tình dục.
    Tội phạm cảm thấy tức giận vì mọi người không đáp ứng
    được mong đợi của anh ta. Họ không thừa nhận nhận thức của
    anh ta về bản thân là một người quyền lực, độc nhất và vượt
    trội. Những gì hầu hết chúng ta cho là những rắc rối thường
    ngày lại được tội phạm coi như những mối đe dọa đối với sự
    tự nhận thức về bản thân anh ta. Tôi dành ra một chương để
    thảo luận về sự tức giận ở một tên tội phạm giống như một căn
    bệnh ung thư di căn khiến bất cứ ai hoặc bất cứ thứ gì trên con
    đường của hắn đều có thể trở thành mục tiêu.
    Bất kể những tổn thương về thể xác, tình cảm hay tổn thất
    về tài chính có lớn đến đâu, kẻ phạm tội đều tin rằng anh ta là
    người tốt. Những cảm xúc ủy mị và sự tàn bạo dã man luôn
    tồn tại song song trong cùng một cá thể. Một tội phạm hung
    bạo chia sẻ: “Tôi có thể thay đổi từ trạng thái khóc lóc thành
    lạnh lùng và ngược lại”. Điều quan trọng là phải hiểu được
    cách thức một tội phạm củng cố quan điểm tốt đẹp về bản thân
    khiến anh ta làm một việc tử tế cho ai đó nhưng ngay sau đó

    lại làm hại người đó. Quan điểm của tội phạm cho rằng bản
    thân là một người tử tế gây ra một rào cản lớn để thay đổi.
    Các chuyên gia sức khỏe tinh thần đã tổng hợp các thông
    tin nhằm hiểu về thủ phạm của các vụ xả súng hàng loạt và các
    tội ác kinh hoàng khác. Trong một số trường hợp, những kẻ
    phạm tội này đã tiếp xúc từ trước đó với các chuyên gia sức
    khỏe tinh thần, những người cố gắng đánh giá, tìm hiểu và
    điều trị cho họ một cách vô ích. Tuy nhiên, những tội phạm
    như vậy rất khéo léo trong việc đánh lừa và không muốn
    người khác biết họ là ai. Họ thường không tiết lộ ý định thực
    sự của mình. Mặc dù có thể lý giải các hành vi khó hiểu và cực
    đoan về bệnh tâm thần, nhưng các bác sĩ tâm thần và nhà tâm
    lý học có trình độ thường không nhận ra rằng họ đang đối phó
    với kiểu tính cách được mô tả trong cuốn sách này. Bạn sẽ
    hiểu được nguyên nhân tại sao lại dẫn đến như vậy.
    Khi các chuyên gia không thể xác định động cơ phạm tội,
    họ có thể kết luận rằng, về mặt pháp lý, thủ phạm bị tâm thần,
    không phân biệt được đúng sai, hoặc hành động mất kiểm
    soát. Kể từ sau ấn bản năm 2004 của cuốn sách này, tôi làm
    việc với tư cách là nhân chứng chuyên môn trong các vụ án
    với những sự biện hộ khó tin. Điều này xảy ra trong phiên tòa
    xét xử Lee Boyd Malvo, người ít tuổi hơn trong hai tay súng
    bắn tỉa khét tiếng tại Washington, DC. Trái ngược với suy nghĩ
    của nhiều người, việc tuyên bố trắng án với lý do biện hộ tâm
    thần rất hiếm gặp, và có lý do chính đáng cho điều này. Tôi sẽ
    thảo luận về một vụ án trong đó tôi thực sự nhận thấy bị cáo bị
    tâm thần, một trường hợp rất khác với các trường hợp tâm thần
    khác mà tôi tham gia.
    Cũng có nhiều người cho rằng những người dường như
    có trách nhiệm và năng lực đánh giá thường bị hoàn cảnh áp
    lực đẩy họ đến mức “sa lưới” và phạm phải tội hoàn toàn khác
    biệt. Tôi chưa bao giờ thấy sự chính xác từ lời giải thích này
    và bạn sẽ hiểu tại sao.
    Các hành động khủng bố tại Newtown, Connecticut;
    Aurora, Colorado; Washington, D.C., Navy Yard; và Cuộc thi
    Marathon Boston 2013 hẳn vẫn còn hằn sâu trong ký ức nhiều
    người. Cho dù hành vi giết người xảy ra ở nước ngoài hay

    trong nước thì một số hoạt động khủng bố nên được xem xét
    trong bối cảnh những người hiểu được nguyên nhân và sử
    dụng chúng làm phương tiện để thể hiện tính cách tội phạm đã
    tồn tại trước đó. Chúng tôi đã đọc những lời khai của nam
    giới, phụ nữ và những đứa trẻ đang trở nên “cực đoan hóa” về
    mặt chính trị. Để hiểu đầy đủ những gì thực sự xảy ra trong
    cuộc sống của họ, việc xem xét tính cách trước đó của những
    người tự khiến mình bị lôi kéo vào quá trình này sau đó thực
    hiện hành vi khủng bố là điều hết sức cần thiết.
    Một cuộc thảo luận về suy nghĩ và hành vi của phạm
    nhân khi họ thụ án trong các cơ sở giam giữ và cải huấn sẽ đưa
    ra một bức tranh sống động về những gì mà nhân viên ở đó
    phải đối mặt hàng ngày. Ấn bản này giúp độc giả có cái nhìn
    sâu hơn về thế giới đó, bao gồm cách thức hoạt động của các
    băng đảng trong các nhà tù, trong đó những thủ lĩnh của chúng
    không chỉ có tầm ảnh hưởng rộng lớn bên trong nhà tù mà còn
    cả bên ngoài cơ Sở cải huấn.
    Hiểu biết thông thường về nguyên nhân phạm tội hiện
    vẫn là kim chỉ nam cho nhiều người vạch ra các chính sách
    phòng chống tội phạm. Các nhà hoạch định chính sách lãng
    phí hàng tỷ đô la khi họ ngây thơ tìm cách chống lại hành vi
    tội phạm bằng cách loại bỏ cái gọi là “nguyên nhân gốc rễ” về
    môi trường xung quanh. Các chương trình sử dụng các phương
    pháp tiếp cận tâm lý truyền thống vẫn không đem lại hiệu quả.
    Ví dụ, các chương trình “kiểm soát cơn giận” được sử dụng
    rộng rãi nhằm giúp người phạm tội thay đổi. Tuy nhiên, những
    nỗ lực như vậy đều thất bại do chúng thực sự hợp pháp hóa sự
    tức giận. Tôi sẽ đề xuất một cách tiếp cận thay thế.
    Không hề ngạc nhiên khi cuộc tranh luận về những nỗ lực
    giúp người phạm tội thay đổi vẫn tiếp tục căng thẳng ở Mỹ.
    Nhiều cơ sở đã áp dụng các khía cạnh của phương pháp mà
    Tiến sĩ Yochelson và tôi đưa ra cách đây nhiều thập kỷ tại
    bệnh viện St. Elizabeths. Quá trình này đòi hỏi phải giúp
    người phạm tội xác định “sai sót” trong suy nghĩ của họ, giải
    quyết những hậu quả nghiêm trọng do suy nghĩ đó gây ra, sau
    đó học hỏi và thực hiện các khái niệm mang tính sửa đổi. Với
    những hạn chế về ngân sách ngày càng tăng, các nguồn lực

    dành cho các chương trình nhằm thay đổi trong các cơ sở cải
    huấn tại Mỹ càng trở nên hết sức eo hẹp. Tuy nhiên, một sự
    thật là hầu hết đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị giam giữ hiện nay
    - trong đó một số ít ngoại lệ là những người đang thi hành án
    chung thân không được ân xá hoặc tử hình - sẽ được thả ra
    đường phố Mỹ ở một thời điểm nào đó. Mặc dù một số nhỏ có
    thể tự thay đổi sau khi ngồi tù nhưng hầu hết sẽ không thay
    đổi, trong đó nhiều người sẽ bị bắt giam trở lại. Khi tìm hiểu
    thêm về tư duy tội phạm, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về họ và có
    thể giúp một số người phạm tội thay đổi để có một cuộc sống
    có ích và có trách nhiệm.

    MỞ ĐẦU
    LOẠI BỎ RÀO CẢN VỚI HOẠT ĐỘNG
    NẮM BẮT TƯ DUY TỘI PHẠM
    Mục đích chính của cuốn sách này là nhằm giúp bạn hiểu
    được tư duy tội phạm Chương “Cha mẹ không hề biến con cái
    thành tội phạm” giới thiệu các phương thức tư duy và chiến
    thuật của những cá nhân ngày càng vô trách nhiệm và thực
    hiện các hoạt động phạm tội trước khi đến tuổi vị thành niên.
    Các chương sau bộc lộ các phương thức tư duy ở người trưởng
    thành khi chúng trở thành thói quen và gây ra tổn thương lớn
    cho người khác. Nguy cơ phát triển “căn bệnh của sinh viên y
    khoa” luôn tồn tại, trong đó bạn bắt đầu nghĩ rằng, “Chồng tôi
    làm một số việc này. Con trai tôi cũng làm như vậy. Và tôi
    nghĩ một số điều này cũng áp dụng cho tôi”. Bạn có thể bắt
    đầu nhìn thấy tội phạm ở khắp mọi nơi.
    Hãy nhớ rằng, hầu hết các mặt của tính cách luôn có sự
    chuyển biến không ngừng. Ví dụ như đối với sự lo lắng. Một
    người cảm thấy lo lắng khi dự đoán kết quả xét nghiệm y tế
    chẩn đoán là điều bình thường. Ở một khía cạnh khác, một
    người có thể không hoạt động bình thường vì lo lắng đến mức
    anh ta chỉ ở trong nhà và sợ đi ra ngoài. Chỉ cần cân nhắc việc
    đi đến cửa hàng tạp hóa cũng có thể gây ra một cơn hoảng
    loạn toàn diện.
    Để hiểu được cấu tạo tinh thần của những cá nhân có tính
    cách tội phạm thì việc nắm được khái niệm về sự liên tục cũng
    là điều cần thiết. Nói dối là một trường hợp điển hình. Gần
    như tất cả chúng ta đều nói dối. Một đứa trẻ hai tuổi làm đổ ly
    sữa và chỉ vào con mèo để bảo con mèo là thủ phạm. Bạn của
    bạn hỏi bạn có thích kiểu tóc mới của cô ấy không và để tránh
    làm tổn thương cảm xúc của cô ấy, bạn tuyên bố nó tuyệt đẹp
    mặc dù bạn cho rằng nó không phù hợp với cô ấy. Quá mệt
    mỏi và muốn có một ngày nghỉ, bạn gọi điện đến nơi làm việc
    để xin nghỉ ốm mặc dù bạn không thực sự ốm.

    Bạn đảm bảo với con mình rằng thuốc sẽ không có vị khó
    chịu để thuyết phục con uống thuốc mặc dù bạn biết nó rất
    đắng. Nhưng có một sự khác biệt đáng kể giữa một người nói
    dối vô hại để tránh xấu hổ hoặc làm tổn thương ai đó, và một
    người nói dối giống như một lối sống. Tội phạm nói dối để che
    giấu dấu vết (anh ta có rất nhiều thứ cần che giấu) và thoát
    khỏi sự bế tắc anh ta đã tạo ra cho chính bản thân. Anh ta nói
    dối nhằm bảo vệ quan điểm bản thân đặc biệt và mạnh mẽ,
    một sự tự nhận thức về bản thân được củng cố mỗi lần anh ta
    lừa dối người khác thành công. Trong các chương sau sẽ trình
    bày chi tiết hơn về hành vi nói dối kinh niên của tội phạm.
    Hãy cân nhắc bỏ qua những cảm xúc của người khác. Đôi
    khi chúng ta gây ra đau khổ cho người khác khi quyết tâm
    theo đuổi những gì chúng ta mong muốn. Chúng ta có thể cắt
    ngang cuộc trò chuyện của ai đó hoặc vô tình coi thường tầm
    quan trọng trong thành tích gần đây của một người bằng lời
    phát biểu tùy tiện. Nhưng khi nhận ra những gì mình đã làm,
    chúng ta sẽ hối hận về những tổn hại đã gây ra. Ngược lại, tội
    phạm rất cương quyết. Khi theo đuổi một mục tiêu, chúng
    không để ý đến các tác động xung quanh từ hành vi của bản
    thân.
    Chúng coi người khác như những con tốt có thể thao
    túng. Chúng có thể sử dụng mọi thủ đoạn để đạt được mục
    đích. Một phạm nhân nghiêm túc đưa ra nhận xét với cán bộ
    quản chế của mình, “Sự đồng cảm này; vậy có gì trong đó là
    dành cho tôi?”
    Khái niệm về sự liên tục cũng áp dụng cho sự tức giận.
    Một số người thường thể hiện sự vui vẻ và ít khi nổi nóng. Họ
    duy trì sự bình tĩnh ngay cả khi đối mặt với những thách thức
    và thất vọng to lớn. Ở một thái cực khác, tội phạm sẽ âm ỉ tức
    giận trong suốt cuộc đời mình. Khi mọi người không thực hiện
    được những kỳ vọng không thực tế của anh ta, anh ta sẽ phản
    ứng như thể toàn bộ sự tự nhận thức về bản thân đang bị đe
    dọa. Trong suốt cuộc đời, anh ta tức giận vì mọi người không
    làm theo những gì anh ta muốn và anh ta không thể kiểm soát
    họ.

    Bộ môn tâm lý học và xã hội học từ lâu đã đưa ra quan
    điểm tội phạm về cơ bản giống như mọi người khác, nhưng trở
    nên gây hại cho người khác vì người đó bị tổn thương hoặc bị
    cản trở trong việc thực hiện nguyện vọng của mình. Một thiếu
    niên “rơi” nhầm vào một nhóm người và gia nhập một băng
    đảng nào đó vì anh ta chưa bao giờ có một cuộc sống gia đình
    tốt đẹp. Hoặc một kẻ buôn ma túy bắt đầu công việc này vì
    những kỹ năng của anh ta chỉ đủ để làm những công việc với
    mức lương tối thiểu. Do đó, cả hai đều bị coi là những người
    chịu tác động của những yếu tố bên ngoài mà họ không thể
    kiểm soát, bất chấp thực tế rằng, hầu hết thanh niên xuất thân
    từ các gia đình xảy ra lục đục lại không tham gia các băng
    nhóm, và việc thiếu giáo dục và kỹ năng làm việc của kẻ buôn
    ma túy là một sự thất bại mang tính cá nhân chứ không thuộc
    về xã hội. Trong nhiều phạm vi khác nhau, tội phạm được coi
    là nạn nhân chứ không phải thủ phạm.
    Những người theo quan điểm này thậm chí còn khẳng
    định rằng theo một nghĩa nào đó, tất cả chúng ta đều là “tội
    phạm” bởi vì chúng ta đều nói dối, ham muốn và khuất phục
    trước sự cám dỗ. Nhưng thật vô lý nếu đánh đồng lời nói dối
    nhỏ nhặt hiếm hoi của người có trách nhiệm với hàng tá những
    lời nói dối của tội phạm. Một điều cũng vô lý không kém là
    đánh đồng việc đứa trẻ ăn cắp một món đồ chơi nhỏ với việc
    kẻ phạm tội ăn cắp mọi thứ mà không được làm sáng tỏ. Việc
    cho rằng tội phạm muốn những gì mà người có trách nhiệm
    muốn, rằng anh ta cũng coi trọng những thứ mà người có trách
    nhiệm coi trọng là một điều sai lầm.
    Cả hai đều có thể mong muốn sự giàu có, nhưng chỉ có
    một người làm việc kiên trì và trung thực để đạt được nó. Tội
    phạm tin rằng anh ta có quyền sở hữu nó bằng mọi cách,
    không quan tâm đến việc ai bị tổn thương và sau đó anh ta
    muốn sở hữu nhiều hơn nữa. Cả hai đều có thể mong muốn
    một cuộc sống gia đình, nhưng người có trách nhiệm biết cho
    đi và nhận lại, biết thể hiện sự chu đáo và quan tâm mà điều
    đó đòi hỏi. Trong khi đó, tội phạm thường nói lời đãi bôi trước
    những công việc nặng nhọc, sự liêm chính và trách nhiệm,

    nhưng hành động lại chứng tỏ điều ngược lại với những quan
    niệm này.
    Khi thảo luận về các phương thức tư duy và chiến thuật
    của tội phạm, cần phải tránh phân chia mọi người thành thiện
    hay ác một cách đơn giản. Trong một cuộc phỏng vấn công
    khai đăng trên tạp chí Playboy số tháng 11 năm 1976, cựu
    Tổng thống Jimmy Carter đã tuyên bố: “Tôi cố gắng không
    phạm tội có chủ ý… Tôi đã ngoại tình tư tưởng nhiều lần”.
    Giống như Tổng thống Carter, chúng ta thường có suy nghĩ
    rằng, nếu hành động, điều đó sẽ gây tổn hại cho người khác
    hoặc chính chúng ta. Những suy nghĩ tội lỗi (thuật ngữ của
    Tổng thống Carter) sẽ lướt qua tâm trí, và chúng ta sẽ dễ dàng
    và nhanh chóng gạt chúng sang một bên. Chúng biến mất và
    không tái diễn nữa. Nhưng chúng ta có thể phải đấu tranh với
    những suy nghĩ khác bởi vì chúng lặp đi lặp lại. Tuy nhiên,
    gần như chắc chắn là chúng ta không nuôi dưỡng những ý
    nghĩ phạm các tội nghiêm trọng như cướp của, gây hỏa hoạn,
    hiếp dâm hoặc giết người.
    Tội phạm thường phản ứng với những thất bại và nỗi thất
    vọng hàng ngày theo những cách khác hẳn với những người
    bình thường. Một người lái xe ô tô cắt ngang qua đầu xe chúng
    tôi trên đường cao tốc. Hầu hết mọi người đều bỏ qua và tiếp
    tục hành trình của mình. Tuy nhiên, người có tư duy tội phạm
    có thể truy đuổi người lái xe vi phạm, biến mâu thuẫn đó trở
    thành cơn thịnh nộ dữ dội trên đường. Khi bị nhân viên trong
    cửa hàng đối xử thô lỗ, hầu hết mọi người chỉ đơn giản là phớt
    lờ hành vi xấu đó. Tuy nhiên, người có tư duy tội phạm có thể
    lao vào lăng mạ tục tĩu và thậm chí đánh người. Để đối phó
    với bất cứ điều gì xảy ra trong cuộc sống, chúng ta cần suy
    nghĩ và đưa ra những lựa chọn quan trọng về việc cần phải
    làm với những suy nghĩ đó. Người chịu trách nhiệm sẽ nghĩ
    đến hậu quả và lương tâm của mình. Do đó, anh ta làm những
    gì mà Tổng thống Carter đã nói - anh ta cố gắng “không phạm
    tội có chủ ý”.
    Nếu ai đó tin vào số liệu thống kê thì gần một nửa số
    cuộc hôn nhân ở Mỹ rơi vào bế tắc, dẫn đến ly thân và ly hôn.
    Có nhiều cách phản hồi khác nhau về vấn đề hôn nhân. Nếu

    một người ngoại tình, những người khác ngoài vợ hoặc chồng
    và con cái của người đó có thể bị gài bẫy, bao gồm cả đại gia
    đình, hàng xóm, đồng nghiệp và bạn bè. Nói dối và sống cuộc
    sống hai mặt là nét đặc trưng của sự không chung thủy cũng
    có mức độ tương tự với hành vi của tội phạm. Tuy nhiên, trong
    các khía cạnh khác của cuộc sống, người có hành vi ngoại tình
    có thể là người trung thực, thấu cảm và có trách nhiệm.
    Bạn có thể tranh luận rằng, hoạt động tội phạm chỉ mang
    tính chất tương đối. Những gì cấu thành tội phạm ngày hôm
    nay có thể không cấu thành nên tội phạm vào ngày mai nếu
    luật thay đổi. Trường hợp này xảy ra khi Lệnh cấm được bãi
    bỏ. Một số hành vi có thể gây tổn hại nghiêm trọng nhưng
    không phạm pháp. Có những cá nhân bị coi là “tội phạm,”
    theo cách sử dụng thuật ngữ này của tôi, bất kể luật pháp gì.
    Hãy xem lời tuyên bố của một kẻ hiếp dâm: “Nếu hiện nay
    hiếp dâm được hợp pháp hóa, tôi sẽ không hiếp dâm. Nhưng
    tôi sẽ làm một cái gì đó khác đi”. Đối với người này và những
    người khác như anh ta, làm bất cứ điều gì bị cấm là chìa khóa
    thể hiện hình ảnh bản thân.
    Ngoài ra còn có “tội phạm không thể bắt giữ” và có thể
    bạn sẽ biết một số người. Đây là những người cực kỳ tự cao tự
    đại, luôn luôn nói dối, phản bội lòng tin, xây dựng bản thân
    bằng cách vùi dập người khác, cố gắng kiểm soát người khác,
    phớt lờ các nghĩa vụ cá nhân và tài chính và đổ lỗi cho người
    khác vì những hành vi sai trái. Họ có thể không thực hiện các
    hành vi có thể bị bắt (hoặc đủ khôn khéo để không bị bắt)
    nhưng lại rất nhẫn tâm phá hoại gia đình, đồng nghiệp và bất
    kỳ ai khác họ thường xuyên liên hệ.
    Khi bạn thâm nhập vào tâm trí của tội phạm, cần phải
    nhớ rằng, các phương thức tư duy và chiến thuật được mô tả
    tồn tại ở một mức độ nào đó. Trong quá trình thực hiện phỏng
    vấn tội phạm suốt 44 năm, tôi đã gặp hàng trăm trường hợp có
    thể chọn ra khi viết cuốn sách này. Tôi muốn chọn những
    người cả nam và nữ ở mức độ cao nhất của việc liên tục phạm
    tội làm ví dụ. Khi bạn hiểu được biểu hiện cực đoan của một
    hình thức, bạn sẽ dễ dàng nhận ra khi nó ở trạng thái ít cực
    đoan hơn.

    Nếu một người đàn ông, phụ nữ hoặc trẻ em thể hiện sự
    cực đoan ở mọi đặc điểm mà tôi mô tả - tự cao tự đại, kiểm
    soát, không trung thực, VÔ trách nhiệm và nhẫn tâm - thì tổng
    thể sẽ ở mức độ lớn hơn so với từng khía cạnh gộp lại. Kết quả
    là một người có cái nhìn hoàn toàn khác về bản thân[1] và thế
    giới so với một người sống có trách nhiệm. Nói cách khác, cá
    nhân đó có tính cách tội phạm.

    1. THẤT BẠI TRONG NGUYÊN
    NHÂN DẪN ĐẾN TỘI PHẠM
    Khi bắt đầu công việc của một nhà tâm lý học nghiên cứu lâm
    sàng, tôi tin rằng mọi người trở thành tội phạm phần lớn là do
    các yếu tố bên ngoài bản thân họ tác động. Tôi chủ yếu coi tội
    phạm như những nạn nhân. Khi làm việc với người thầy của
    mình, Tiến sĩ Yochelson, chúng tôi nhận ra quan điểm này
    hoàn toàn sai lầm. Chúng tôi ngày càng nghi ngờ những câu
    chuyện tự thỏa mãn bản thân, trong đó tội phạm biện minh cho
    những gì chúng đã làm bằng cách đổ lỗi cho người khác. Khi
    tiến hành kiểm nghiệm những lời khai của chúng và phỏng
    vấn những người biết rõ về chúng, chúng càng sẵn sàng hơn.
    Chúng tôi đã chỉnh sửa một số quan niệm, loại bỏ hoàn toàn
    những quan niệm khác và khám phá các chủ đề mới. Những
    bằng chứng mà chúng tôi đã tích lũy được sau hàng nghìn giờ
    phỏng vấn những tên tội phạm thuộc nhiều hoàn cảnh khác
    nhau đã buộc chúng tôi phải đưa những “con bò lý thuyết
    thiêng liêng” của mình ra đồng cỏ và giết thịt chúng. Chúng
    tôi tự gọi mình là “những người cải đạo bất đắc dĩ” bởi vì
    chúng tôi quá do dự khi từ bỏ những học thuyết, niềm tin và
    những gì chúng tôi học được trong khóa đào tạo chuyên môn
    về lý do tại sao mọi người lại trở thành tội phạm. Khi chúng
    tôi không còn coi tội phạm là nạn nhân, một không gian mới
    đã mở ra. Khi ấy, chúng tôi không còn bị ràng buộc bởi những
    câu hỏi “tại sao và có thể tập trung tìm hiểu sâu hơn về cách
    thức tư duy của tội phạm.
    Chúng tôi áp dụng cách tiếp cận “vết xước trên bàn”. Bạn
    không cần phải biết tại sao chiếc bàn bị xước. Thay vì lo lắng
    về việc nó bị hư hại như thế nào, bạn cần kiểm tra chiếc bàn để
    xác định nó được làm bằng gì và đánh giá tình trạng xem có
    thể sửa chữa được hay không. Tên tội phạm đã đưa ra quyết
    định bằng cách nào? Kỳ vọng của anh ta về bản thân và những
    người khác là gì? Làm thế nào mà anh ta có thể cầu nguyện
    trong nhà thờ lúc 10 giờ nhưng hai giờ sau đó lại tiến hành
    khủng bố một chủ nhà khi đột nhập? Hành vi là sản phẩm của

    tư duy. Và sau nhiều nỗ lực, chúng tôi đã đặt nền móng cho
    phương pháp giúp người phạm tội thay đổi suy nghĩ và hành vi
    bằng cách tập trung vào các phương thức tư duy thay vì
    nguyên nhân.
    Việc tìm kiếm nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội
    chưa có hồi kết và phần nào có thể so sánh với nỗ lực của các
    nhà khoa học đang tìm hiểu nguyên nhân của bệnh ung thư.
    Nếu chúng ta phát hiện ra nguyên nhân dẫn đến thất bại và
    hoảng sợ, thì bất kể tai họa là gì cũng đều có thể loại trừ.
    Không giống như ung thư, chúng ta không nên kỳ vọng có thể
    tìm ra cách chữa trị ngay cả khi xác định được “nguyên nhân
    gốc rễ” của tội phạm. Thay vì vạch ra các chiến lược hiệu quả
    để đối phó với tội phạm, việc tập trung tìm kiếm nguyên nhân
    đã làm xao nhãng việc tìm hiểu những kẻ phạm tội thực sự là
    người như thế nào.
    Một quan điểm đã tồn tại trong hơn một thế kỷ qua cho
    rằng tội phạm là nạn nhân của các yếu tố xã hội học, tâm lý
    học hoặc sinh học mà họ gần như không thể hoặc không kiểm
    soát được. Một số nhà xã hội học cho rằng, tội phạm là một sự
    phản ứng có thể lý giải nhằm thích nghi và thậm chí là bình
    thường trước hoàn cảnh nghèo đói khắc nghiệt đã tước đi cơ
    hội và hy vọng của con người. Họ cũng chỉ ra cuộc sống căng
    thẳng và đầy cạnh tranh ở vùng ngoại ô cũng góp phần tạo nên
    tội phạm. Một số người quy kết tội phạm là do những giá trị
    trong xã hội bị đặt nhầm chỗ khiến công dân xa lánh cộng
    đồng, nơi làm việc và chính quyền. Các nhà tâm lý học nhấn
    mạnh vai trò của trải nghiệm ban đầu trong gia đình và chỉ ra
    những khiếm khuyết của cha mẹ là nguyên nhân dẫn đến hành
    vi phạm tội. Giả thuyết này được đưa ra vào thế kỷ 19 và cho
    rằng tội phạm mắc chứng “rối loạn nhân cách chống đối xã
    hội” từ khi sinh ra. Hiện tại ở thế kỷ 21, các nhà khoa học
    đang quay trở lại với ý tưởng đó khi các phát hiện nghiên cứu
    chỉ ra cơ sở sinh học cho hành vi phạm tội.
    Trong vở nhạc kịch West Side Story (tạm dịch: Câu
    chuyện phía Tây) năm 1957, Stephen Sondheim đã nhại lại
    những suy nghĩ hiện tại về nguyên nhân trẻ vị thành niên
    phạm pháp trong bài hát Gee, Officer Krupke. Trong bài hát

    đó, những kẻ phạm pháp đã bị hiểu lầm chứ không phải là
    không có gì tốt đẹp. Họ mắc phải một “căn bệnh xã hội” và xã
    hội đã “chơi [cho] một vố đau đớn”. Lời bài hát này thể hiện
    quan điểm rằng tội ác của họ là triệu chứng của bệnh lý tâm
    thần sâu sắc hoặc thiếu thốn điều kiện kinh tế xã hội. Trong
    một bài báo năm 1964, nhà tâm lý học nổi tiếng O. Hobart
    Moorer đã đặt câu hỏi liệu phân tâm học có thực sự khuyến
    khích “bệnh xã hội” (hiện nay chính thức được gọi là “rối loạn
    nhân cách chống xã hội”) bằng cách đưa ra thêm lý do cho tội
    phạm hay không[2]. Ông đưa ra vấn đề này trong một bài ca
    dân gian về tâm thần như sau:
    Lúc ba tuổi, tôi không chắc về những cảm nhận với anh
    em của mình
    Và thế là tự nhiên tôi đầu độc tất cả những người yêu
    thương tôi
    Và bây giờ tôi cảm thấy hạnh phúc khi học được bài học
    từ điều đó:
    Rằng mọi thứ tôi làm sai đều là lỗi của người khác.
    Hoạt động tìm hiểu nguyên nhân của tội phạm bị châm
    biếm trong những năm 1950 và 1960 vẫn còn tồn tại cho đến
    ngày nay. Các tiêu đề mới xuất hiện trên các tạp chí hay các
    phương tiện truyền thông mỗi ngày đều chỉ ra một nguyên
    nhân khác bị cáo buộc gây ra tội phạm:
    * Thanh niên bất mãn đồng cảm với Kẻ bỉ ổi?[3] Hội
    chứng nô lệ gây ra trong Boy's Death[4] Trò chơi bạo lực gây
    ra Bạo lực[5]
    * Sự liên quan giữa tức giận bộc phát với tổn thương trên
    cơ thể[6]
    + Rối loạn giấc ngủ có thể tạo tiền đề dẫn đến hung
    hăng[7]
    * Sự liên quan giữa soda với các vấn đề hành vi ở trẻ
    nhỏ?[8]

    * Tội phạm đang già hóa ở Nhật Bản… Cô đơn chính là
    thủ phạm[9]
    + Kẹo gây ra bạo lực khi trưởng thành[10]
    * Tội phạm bạo lực và cholesterol[11]
    Nhiệm vụ xác định nguyên nhân của tội phạm trong môi
    trường vẫn còn đó. Tờ St. Louis PostDispatch số ra ngày 10
    tháng 6 năm 2008, viết rằng, “Tội phạm có thể đã giảm trong
    những năm 1990 vì chì đã được loại bỏ khỏi xăng 20 năm
    trước đó”.[12] Trên tờ USA Today, một bài báo số ra ngày 17
    tháng 7 năm 2009 có tiêu đề “10 tên em bé xấu nhất”.[13] Và
    một bài báo trên Science Neos ngày 2 tháng 8 năm 2013 đã
    trích dẫn những thay đổi trong biến đổi khí hậu có liên quan
    chặt chẽ đến các hành vi bạo lực trên toàn cầu.[14]
    Mặc dù có vô số khía cạnh thuộc về môi trường được xác
    định khiến con người có hành vi phạm tội, nhưng một trong
    những khía cạnh tiếp tục thu hú...
     
    Gửi ý kiến

    “Nếu bạn muốn đạt được bất cứ điều gì trong cuộc sống, bạn phải đọc rất nhiều sách.” – Roald Dahl

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TRUNG HỌC THỰC HÀNH SÀI GÒN !