Viếng Lăng Bác - Bài giảng
Tâm Lý Học Tội Phạm Tập 1 - Stanton E. Samenow

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 19h:35' 09-03-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 19h:35' 09-03-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
THÔNG TIN EBOOK
Tên sách
Tâm Lý Học Tội Phạm - Tập 1
Nguyên tác
Inside the Criminal Mind
Tác giả
Stanton E. Samenow
Dịch giả
Huy Nguyễn
Thể loại
Khoa Học, Hành Vi
Phát hành
1980 Books
Nhà Xuất Bản
NXB Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Ebook
2021 kindlekobovn
—★—
LỜI GIỚI THIỆU
Hai năm sau khi ra trường, thời điểm tôi mới 28 tuổi, trong
suốt tháng 1 năm 1971 tôi cùng với Tiến sĩ Samuel Yochelson
đảm nhận vai trò chuyên gia tâm lý nghiên cứu lâm sàng trong
Chương trình Điều tra Hành vi Tội phạm tại Bệnh viện St.
Elizabeths tại Washington, D.C. Khi ấy tôi gần như không
nhận ra rằng mình đã bắt đầu con đường sự nghiệp mà bản
thân sẽ theo đuổi cho đến tận những năm 70 tuổi. Tiến sĩ
Yochelson khởi động chương trình này năm 1961 và đây vẫn
là chương trình điều trị nghiên cứu chuyên sâu về tội phạm dài
nhất được thực hiện tại Bắc Mỹ. Khi ông qua đời vào ngày 12
tháng 11 năm 1976, tôi trở thành người kế tục chương trình
đột phá này và tiếp tục công việc đánh giá cũng như làm việc
với tội phạm, từ những tên trộm cắp vặt cho tới những kẻ đam
mê giết người.
Trong nhiều thập kỷ qua, những hiểu biết thông thường
phổ biến về hoạt động phạm tội đã coi kẻ phạm tội là nạn nhân
của những tác động mà người đó gần như không hoặc không
thể kiểm soát được. Hầu như mọi thứ có thể nghĩ tới đều được
xác định là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội, bao gồm
nghèo đói, sự yếu kém trong việc nuôi dạy con cái, áp lực từ
bạn bè, bạo lực trên các phương tiện truyền thông và nhiều
loại bệnh khác nhau về tinh thần. Tiến sĩ Yochelson và tôi
cùng chung quan điểm về giả thuyết tiền đề này khi bắt đầu
chương trình. Chúng tôi đã dành hàng nghìn giờ đồng hồ để
phỏng vấn những tội phạm và những người khác hiểu rõ về tội
phạm trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1978. Chúng tôi
nhận ra rằng, những cá nhân này không phải do môi trường
của họ không may nhào nặn nên và điều này trái ngược với
những gì chúng tôi tin tưởng ban đầu. Không có nguyên nhân
phạm tội nào được chấp nhận rộng rãi có thể lý giải phù hợp
khi xem xét kỹ lưỡng. Ngoài ra, những người phạm tội chúng
tôi làm việc cùng đã khai thác việc tìm kiếm nguyên nhân của
chúng tôi để đưa ra nhiều lời bào chữa hơn cho tội ác của
mình. Khi đề cập đến hoạt động điều trị tâm thần trong nhiều
tháng, một người đàn ông nói với Tiến sĩ Yochelson trong một
khoảnh khắc trải lòng hiếm hoi, “Thưa Tiến sĩ, nếu tôi đưa ra
quá nhiều lời bào chữa cho hành vi phạm tội của mình trước
khi điều trị tâm thần thì bây giờ tôi đã có thể sở hữu cả một gia
tài sau ngần ấy năm”. Khi chúng tôi giúp bản thân thoát khỏi
vấn đề tìm kiếm “nguyên nhân của hành vi tội phạm”, chúng
tôi có thể nâng cao hiểu biết về cách thức tư duy của tội phạm
trong mọi khía cạnh của cuộc sống cũng như phát triển một
quy trình nhằm giúp một số tội phạm thay đổi. Hành vi là sản
phẩm của tư duy, và do đó, bất cứ ai hoạch định chính sách
hoặc làm việc với người phạm tội đều có trách nhiệm phải
hiểu được cách thức tư duy của tội phạm.
Sau khi công việc của chúng tôi tại Bệnh viện St.
Elizabeths được giới thiệu trong một phân đoạn của chương
trình 60 Minutes trên đài CBS News vào ngày 17 tháng 2 năm
1977, tôi bắt đầu nhận được những lời mời đến trò chuyện với
các nhóm chuyên gia về hoạt động cải huấn, sức khỏe tinh
thần, công tác xã hội, tư vấn về việc làm dụng các chất, thực
thi pháp luật, và bộ máy tư pháp. Những phản hồi từ khán giả
có cả những vụ tấn công cá nhân (thậm chí tôi còn bị cáo buộc
là gây nguy hiểm) vì tôi không thừa nhận những học thuyết
gần như quan trọng nhất về nguyên nhân gây ra hành vi phạm
tội, và hơn nữa tôi còn khẳng định sự tồn tại thực sự của “tính
cách tội phạm”. Dường như có sự khác biệt về quan điểm giữa
những “người theo thuyết ghế bành” rất ít hoặc không có sự
liên hệ trực tiếp với tội phạm và những người tương tác hằng
ngày với những đối tượng đó. Nhóm thứ hai - cán bộ cải huấn,
cố vấn, quan chức thực thi pháp luật, và các nhà tâm lý học chấp nhận công việc của chúng tôi bởi vì nó phù hợp với
những gì họ gặp phải hằng ngày trong công việc và vì nó đưa
ra những góc nhìn chuyên sâu giúp họ thực hiện công việc
hiệu quả hơn.
Ấn bản đầu tiên của cuốn sách Tâm lý học tội phạm được
xuất bản năm 1984, và ấn bản thứ hai xuất bản năm 2004. Sau
một thập kỷ, hiện đã đến lúc bổ sung thêm các thông tin cho
cuốn sách này. Trong ấn bản này, bạn sẽ hiểu chi tiết về các
quá trình tư duy và chiến thuật phổ biến đối với những kẻ
phạm tội, bất kể lý lịch hay tội ác của chúng.
Bản chất con người không thay đổi, và do đó tư duy tội
phạm mà tôi mô tả trong các ấn bản trước của cuốn sách này
cũng không thay đổi. Tuy nhiên, một xã hội liên tục thay đổi
đã tạo ra những con đường mới để tư duy tội phạm thể hiện
vai trò của mình. Ví dụ, hành vi bắt nạt không phải là mới
nhưng bắt nạt trên không gian mạng thì lại mới mẻ và nó tạo
ra cho những thanh thiếu niên và người trưởng thành có
khuynh hướng phạm tội một đấu trường mới rộng lớn hơn, gây
ra nhiều đau khổ hơn.
Internet là một phương tiện nhanh chóng và hiệu quả để
tiến hành nghiên cứu, mua sắm, lập kế hoạch du lịch và giao
tiếp với những người khác. Công nghệ đã mở ra một thế giới
tương tự cho tội phạm để chúng có thể tiến hành “nghiên cứu”
và thực hiện các kế hoạch. Với Internet, tội phạm có quyền
truy cập ngay lập tức để làm những gì chúng vẫn luôn làm gian lận, lừa đảo, ăn cắp và đe dọa. Tội phạm mạng ngày càng
trở thành mối đe dọa đối với các cá nhân, doanh nghiệp và
chính phủ. Những kẻ phạm tội cách xa những nạn nhân hàng
ngàn dặm và nằm ngoài phạm vi của các cơ quan thực thi pháp
luật vẫn có thể xâm nhập vào các hệ thống máy tính của chính
phủ, đánh cắp thông tin cá nhân, ăn cắp mã nhận dạng và tiêu
diệt các phần mềm hoặc hồ sơ kinh doanh có giá trị của công
ty.
Ấn bản năm 2004 của cuốn sách Tâm lý học tội phạm
bao gồm một chương về sự tham gia của tội phạm trong thế
giới ma túy. Ấn bản này mở rộng cuộc thảo luận đó để đưa vào
tình trạng lạm dụng thuốc kê đơn đáng báo động, việc sản xuất
và sử dụng các loại ma túy tổng hợp mới bổ sung thêm vào
vấn đề xã hội vốn đã rất nghiêm trọng này. Sản xuất, phân
phối và sử dụng ma túy tạo ra những âm mưu phạm tội, cảm
giác phấn khích và lợi nhuận về tài chính.
Cùng với việc cung cấp những thông tin chi tiết hơn về
các phương thức tư duy và hành động của tội phạm (và ít
thông tin hơn về những nguyên nhân được viện dẫn trong hành
vi phạm tội), tôi dành một chương cho hai trường hợp, trong
đó hai thanh niên có hoàn cảnh rất khác nhau phạm tội giết
người. Bạn sẽ thấy rằng, các quá trình tư duy của thanh niên
xuất thân từ một gia đình giàu có và thanh niên lớn lên trong
một ngôi nhà nội đô hỗn loạn là hoàn toàn giống nhau. Trong
toàn bộ cuốn sách này, bạn sẽ thấy được sự giống nhau trong
cách thức tư duy giữa những tên tội phạm cổ cồn trắng phạm
tội chiếm đoạt hàng triệu đô la và những tên côn đồ đường phố
đe dọa một người già bằng dao chỉ để cướp lấy 20 đô la.
Tôi đã bổ sung một chương về vấn đề tình dục trong cuộc
đời của kẻ phạm tội. Việc theo đuổi vấn đề tình dục và thực
hiện các hành vi phạm tội tình dục gần như không liên quan
đến việc thỏa mãn tình dục. Thay vào đó, thông qua hoạt động
tình dục, tội phạm thể hiện sức mạnh, nuôi dưỡng bản ngã và
khẳng định anh ta là người khó có thể cưỡng lại được. Quan
niệm này đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu được tâm lý
của các giáo sĩ, huấn luyện viên, cố vấn và những nhà giáo
dục, những người có thể thao túng người khác để lấy lòng tin
và sau đó lợi dụng vị trí của họ để dụ dỗ trẻ em trở thành nạn
nhân tình dục.
Tội phạm cảm thấy tức giận vì mọi người không đáp ứng
được mong đợi của anh ta. Họ không thừa nhận nhận thức của
anh ta về bản thân là một người quyền lực, độc nhất và vượt
trội. Những gì hầu hết chúng ta cho là những rắc rối thường
ngày lại được tội phạm coi như những mối đe dọa đối với sự
tự nhận thức về bản thân anh ta. Tôi dành ra một chương để
thảo luận về sự tức giận ở một tên tội phạm giống như một căn
bệnh ung thư di căn khiến bất cứ ai hoặc bất cứ thứ gì trên con
đường của hắn đều có thể trở thành mục tiêu.
Bất kể những tổn thương về thể xác, tình cảm hay tổn thất
về tài chính có lớn đến đâu, kẻ phạm tội đều tin rằng anh ta là
người tốt. Những cảm xúc ủy mị và sự tàn bạo dã man luôn
tồn tại song song trong cùng một cá thể. Một tội phạm hung
bạo chia sẻ: “Tôi có thể thay đổi từ trạng thái khóc lóc thành
lạnh lùng và ngược lại”. Điều quan trọng là phải hiểu được
cách thức một tội phạm củng cố quan điểm tốt đẹp về bản thân
khiến anh ta làm một việc tử tế cho ai đó nhưng ngay sau đó
lại làm hại người đó. Quan điểm của tội phạm cho rằng bản
thân là một người tử tế gây ra một rào cản lớn để thay đổi.
Các chuyên gia sức khỏe tinh thần đã tổng hợp các thông
tin nhằm hiểu về thủ phạm của các vụ xả súng hàng loạt và các
tội ác kinh hoàng khác. Trong một số trường hợp, những kẻ
phạm tội này đã tiếp xúc từ trước đó với các chuyên gia sức
khỏe tinh thần, những người cố gắng đánh giá, tìm hiểu và
điều trị cho họ một cách vô ích. Tuy nhiên, những tội phạm
như vậy rất khéo léo trong việc đánh lừa và không muốn
người khác biết họ là ai. Họ thường không tiết lộ ý định thực
sự của mình. Mặc dù có thể lý giải các hành vi khó hiểu và cực
đoan về bệnh tâm thần, nhưng các bác sĩ tâm thần và nhà tâm
lý học có trình độ thường không nhận ra rằng họ đang đối phó
với kiểu tính cách được mô tả trong cuốn sách này. Bạn sẽ
hiểu được nguyên nhân tại sao lại dẫn đến như vậy.
Khi các chuyên gia không thể xác định động cơ phạm tội,
họ có thể kết luận rằng, về mặt pháp lý, thủ phạm bị tâm thần,
không phân biệt được đúng sai, hoặc hành động mất kiểm
soát. Kể từ sau ấn bản năm 2004 của cuốn sách này, tôi làm
việc với tư cách là nhân chứng chuyên môn trong các vụ án
với những sự biện hộ khó tin. Điều này xảy ra trong phiên tòa
xét xử Lee Boyd Malvo, người ít tuổi hơn trong hai tay súng
bắn tỉa khét tiếng tại Washington, DC. Trái ngược với suy nghĩ
của nhiều người, việc tuyên bố trắng án với lý do biện hộ tâm
thần rất hiếm gặp, và có lý do chính đáng cho điều này. Tôi sẽ
thảo luận về một vụ án trong đó tôi thực sự nhận thấy bị cáo bị
tâm thần, một trường hợp rất khác với các trường hợp tâm thần
khác mà tôi tham gia.
Cũng có nhiều người cho rằng những người dường như
có trách nhiệm và năng lực đánh giá thường bị hoàn cảnh áp
lực đẩy họ đến mức “sa lưới” và phạm phải tội hoàn toàn khác
biệt. Tôi chưa bao giờ thấy sự chính xác từ lời giải thích này
và bạn sẽ hiểu tại sao.
Các hành động khủng bố tại Newtown, Connecticut;
Aurora, Colorado; Washington, D.C., Navy Yard; và Cuộc thi
Marathon Boston 2013 hẳn vẫn còn hằn sâu trong ký ức nhiều
người. Cho dù hành vi giết người xảy ra ở nước ngoài hay
trong nước thì một số hoạt động khủng bố nên được xem xét
trong bối cảnh những người hiểu được nguyên nhân và sử
dụng chúng làm phương tiện để thể hiện tính cách tội phạm đã
tồn tại trước đó. Chúng tôi đã đọc những lời khai của nam
giới, phụ nữ và những đứa trẻ đang trở nên “cực đoan hóa” về
mặt chính trị. Để hiểu đầy đủ những gì thực sự xảy ra trong
cuộc sống của họ, việc xem xét tính cách trước đó của những
người tự khiến mình bị lôi kéo vào quá trình này sau đó thực
hiện hành vi khủng bố là điều hết sức cần thiết.
Một cuộc thảo luận về suy nghĩ và hành vi của phạm
nhân khi họ thụ án trong các cơ sở giam giữ và cải huấn sẽ đưa
ra một bức tranh sống động về những gì mà nhân viên ở đó
phải đối mặt hàng ngày. Ấn bản này giúp độc giả có cái nhìn
sâu hơn về thế giới đó, bao gồm cách thức hoạt động của các
băng đảng trong các nhà tù, trong đó những thủ lĩnh của chúng
không chỉ có tầm ảnh hưởng rộng lớn bên trong nhà tù mà còn
cả bên ngoài cơ Sở cải huấn.
Hiểu biết thông thường về nguyên nhân phạm tội hiện
vẫn là kim chỉ nam cho nhiều người vạch ra các chính sách
phòng chống tội phạm. Các nhà hoạch định chính sách lãng
phí hàng tỷ đô la khi họ ngây thơ tìm cách chống lại hành vi
tội phạm bằng cách loại bỏ cái gọi là “nguyên nhân gốc rễ” về
môi trường xung quanh. Các chương trình sử dụng các phương
pháp tiếp cận tâm lý truyền thống vẫn không đem lại hiệu quả.
Ví dụ, các chương trình “kiểm soát cơn giận” được sử dụng
rộng rãi nhằm giúp người phạm tội thay đổi. Tuy nhiên, những
nỗ lực như vậy đều thất bại do chúng thực sự hợp pháp hóa sự
tức giận. Tôi sẽ đề xuất một cách tiếp cận thay thế.
Không hề ngạc nhiên khi cuộc tranh luận về những nỗ lực
giúp người phạm tội thay đổi vẫn tiếp tục căng thẳng ở Mỹ.
Nhiều cơ sở đã áp dụng các khía cạnh của phương pháp mà
Tiến sĩ Yochelson và tôi đưa ra cách đây nhiều thập kỷ tại
bệnh viện St. Elizabeths. Quá trình này đòi hỏi phải giúp
người phạm tội xác định “sai sót” trong suy nghĩ của họ, giải
quyết những hậu quả nghiêm trọng do suy nghĩ đó gây ra, sau
đó học hỏi và thực hiện các khái niệm mang tính sửa đổi. Với
những hạn chế về ngân sách ngày càng tăng, các nguồn lực
dành cho các chương trình nhằm thay đổi trong các cơ sở cải
huấn tại Mỹ càng trở nên hết sức eo hẹp. Tuy nhiên, một sự
thật là hầu hết đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị giam giữ hiện nay
- trong đó một số ít ngoại lệ là những người đang thi hành án
chung thân không được ân xá hoặc tử hình - sẽ được thả ra
đường phố Mỹ ở một thời điểm nào đó. Mặc dù một số nhỏ có
thể tự thay đổi sau khi ngồi tù nhưng hầu hết sẽ không thay
đổi, trong đó nhiều người sẽ bị bắt giam trở lại. Khi tìm hiểu
thêm về tư duy tội phạm, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về họ và có
thể giúp một số người phạm tội thay đổi để có một cuộc sống
có ích và có trách nhiệm.
MỞ ĐẦU
LOẠI BỎ RÀO CẢN VỚI HOẠT ĐỘNG
NẮM BẮT TƯ DUY TỘI PHẠM
Mục đích chính của cuốn sách này là nhằm giúp bạn hiểu
được tư duy tội phạm Chương “Cha mẹ không hề biến con cái
thành tội phạm” giới thiệu các phương thức tư duy và chiến
thuật của những cá nhân ngày càng vô trách nhiệm và thực
hiện các hoạt động phạm tội trước khi đến tuổi vị thành niên.
Các chương sau bộc lộ các phương thức tư duy ở người trưởng
thành khi chúng trở thành thói quen và gây ra tổn thương lớn
cho người khác. Nguy cơ phát triển “căn bệnh của sinh viên y
khoa” luôn tồn tại, trong đó bạn bắt đầu nghĩ rằng, “Chồng tôi
làm một số việc này. Con trai tôi cũng làm như vậy. Và tôi
nghĩ một số điều này cũng áp dụng cho tôi”. Bạn có thể bắt
đầu nhìn thấy tội phạm ở khắp mọi nơi.
Hãy nhớ rằng, hầu hết các mặt của tính cách luôn có sự
chuyển biến không ngừng. Ví dụ như đối với sự lo lắng. Một
người cảm thấy lo lắng khi dự đoán kết quả xét nghiệm y tế
chẩn đoán là điều bình thường. Ở một khía cạnh khác, một
người có thể không hoạt động bình thường vì lo lắng đến mức
anh ta chỉ ở trong nhà và sợ đi ra ngoài. Chỉ cần cân nhắc việc
đi đến cửa hàng tạp hóa cũng có thể gây ra một cơn hoảng
loạn toàn diện.
Để hiểu được cấu tạo tinh thần của những cá nhân có tính
cách tội phạm thì việc nắm được khái niệm về sự liên tục cũng
là điều cần thiết. Nói dối là một trường hợp điển hình. Gần
như tất cả chúng ta đều nói dối. Một đứa trẻ hai tuổi làm đổ ly
sữa và chỉ vào con mèo để bảo con mèo là thủ phạm. Bạn của
bạn hỏi bạn có thích kiểu tóc mới của cô ấy không và để tránh
làm tổn thương cảm xúc của cô ấy, bạn tuyên bố nó tuyệt đẹp
mặc dù bạn cho rằng nó không phù hợp với cô ấy. Quá mệt
mỏi và muốn có một ngày nghỉ, bạn gọi điện đến nơi làm việc
để xin nghỉ ốm mặc dù bạn không thực sự ốm.
Bạn đảm bảo với con mình rằng thuốc sẽ không có vị khó
chịu để thuyết phục con uống thuốc mặc dù bạn biết nó rất
đắng. Nhưng có một sự khác biệt đáng kể giữa một người nói
dối vô hại để tránh xấu hổ hoặc làm tổn thương ai đó, và một
người nói dối giống như một lối sống. Tội phạm nói dối để che
giấu dấu vết (anh ta có rất nhiều thứ cần che giấu) và thoát
khỏi sự bế tắc anh ta đã tạo ra cho chính bản thân. Anh ta nói
dối nhằm bảo vệ quan điểm bản thân đặc biệt và mạnh mẽ,
một sự tự nhận thức về bản thân được củng cố mỗi lần anh ta
lừa dối người khác thành công. Trong các chương sau sẽ trình
bày chi tiết hơn về hành vi nói dối kinh niên của tội phạm.
Hãy cân nhắc bỏ qua những cảm xúc của người khác. Đôi
khi chúng ta gây ra đau khổ cho người khác khi quyết tâm
theo đuổi những gì chúng ta mong muốn. Chúng ta có thể cắt
ngang cuộc trò chuyện của ai đó hoặc vô tình coi thường tầm
quan trọng trong thành tích gần đây của một người bằng lời
phát biểu tùy tiện. Nhưng khi nhận ra những gì mình đã làm,
chúng ta sẽ hối hận về những tổn hại đã gây ra. Ngược lại, tội
phạm rất cương quyết. Khi theo đuổi một mục tiêu, chúng
không để ý đến các tác động xung quanh từ hành vi của bản
thân.
Chúng coi người khác như những con tốt có thể thao
túng. Chúng có thể sử dụng mọi thủ đoạn để đạt được mục
đích. Một phạm nhân nghiêm túc đưa ra nhận xét với cán bộ
quản chế của mình, “Sự đồng cảm này; vậy có gì trong đó là
dành cho tôi?”
Khái niệm về sự liên tục cũng áp dụng cho sự tức giận.
Một số người thường thể hiện sự vui vẻ và ít khi nổi nóng. Họ
duy trì sự bình tĩnh ngay cả khi đối mặt với những thách thức
và thất vọng to lớn. Ở một thái cực khác, tội phạm sẽ âm ỉ tức
giận trong suốt cuộc đời mình. Khi mọi người không thực hiện
được những kỳ vọng không thực tế của anh ta, anh ta sẽ phản
ứng như thể toàn bộ sự tự nhận thức về bản thân đang bị đe
dọa. Trong suốt cuộc đời, anh ta tức giận vì mọi người không
làm theo những gì anh ta muốn và anh ta không thể kiểm soát
họ.
Bộ môn tâm lý học và xã hội học từ lâu đã đưa ra quan
điểm tội phạm về cơ bản giống như mọi người khác, nhưng trở
nên gây hại cho người khác vì người đó bị tổn thương hoặc bị
cản trở trong việc thực hiện nguyện vọng của mình. Một thiếu
niên “rơi” nhầm vào một nhóm người và gia nhập một băng
đảng nào đó vì anh ta chưa bao giờ có một cuộc sống gia đình
tốt đẹp. Hoặc một kẻ buôn ma túy bắt đầu công việc này vì
những kỹ năng của anh ta chỉ đủ để làm những công việc với
mức lương tối thiểu. Do đó, cả hai đều bị coi là những người
chịu tác động của những yếu tố bên ngoài mà họ không thể
kiểm soát, bất chấp thực tế rằng, hầu hết thanh niên xuất thân
từ các gia đình xảy ra lục đục lại không tham gia các băng
nhóm, và việc thiếu giáo dục và kỹ năng làm việc của kẻ buôn
ma túy là một sự thất bại mang tính cá nhân chứ không thuộc
về xã hội. Trong nhiều phạm vi khác nhau, tội phạm được coi
là nạn nhân chứ không phải thủ phạm.
Những người theo quan điểm này thậm chí còn khẳng
định rằng theo một nghĩa nào đó, tất cả chúng ta đều là “tội
phạm” bởi vì chúng ta đều nói dối, ham muốn và khuất phục
trước sự cám dỗ. Nhưng thật vô lý nếu đánh đồng lời nói dối
nhỏ nhặt hiếm hoi của người có trách nhiệm với hàng tá những
lời nói dối của tội phạm. Một điều cũng vô lý không kém là
đánh đồng việc đứa trẻ ăn cắp một món đồ chơi nhỏ với việc
kẻ phạm tội ăn cắp mọi thứ mà không được làm sáng tỏ. Việc
cho rằng tội phạm muốn những gì mà người có trách nhiệm
muốn, rằng anh ta cũng coi trọng những thứ mà người có trách
nhiệm coi trọng là một điều sai lầm.
Cả hai đều có thể mong muốn sự giàu có, nhưng chỉ có
một người làm việc kiên trì và trung thực để đạt được nó. Tội
phạm tin rằng anh ta có quyền sở hữu nó bằng mọi cách,
không quan tâm đến việc ai bị tổn thương và sau đó anh ta
muốn sở hữu nhiều hơn nữa. Cả hai đều có thể mong muốn
một cuộc sống gia đình, nhưng người có trách nhiệm biết cho
đi và nhận lại, biết thể hiện sự chu đáo và quan tâm mà điều
đó đòi hỏi. Trong khi đó, tội phạm thường nói lời đãi bôi trước
những công việc nặng nhọc, sự liêm chính và trách nhiệm,
nhưng hành động lại chứng tỏ điều ngược lại với những quan
niệm này.
Khi thảo luận về các phương thức tư duy và chiến thuật
của tội phạm, cần phải tránh phân chia mọi người thành thiện
hay ác một cách đơn giản. Trong một cuộc phỏng vấn công
khai đăng trên tạp chí Playboy số tháng 11 năm 1976, cựu
Tổng thống Jimmy Carter đã tuyên bố: “Tôi cố gắng không
phạm tội có chủ ý… Tôi đã ngoại tình tư tưởng nhiều lần”.
Giống như Tổng thống Carter, chúng ta thường có suy nghĩ
rằng, nếu hành động, điều đó sẽ gây tổn hại cho người khác
hoặc chính chúng ta. Những suy nghĩ tội lỗi (thuật ngữ của
Tổng thống Carter) sẽ lướt qua tâm trí, và chúng ta sẽ dễ dàng
và nhanh chóng gạt chúng sang một bên. Chúng biến mất và
không tái diễn nữa. Nhưng chúng ta có thể phải đấu tranh với
những suy nghĩ khác bởi vì chúng lặp đi lặp lại. Tuy nhiên,
gần như chắc chắn là chúng ta không nuôi dưỡng những ý
nghĩ phạm các tội nghiêm trọng như cướp của, gây hỏa hoạn,
hiếp dâm hoặc giết người.
Tội phạm thường phản ứng với những thất bại và nỗi thất
vọng hàng ngày theo những cách khác hẳn với những người
bình thường. Một người lái xe ô tô cắt ngang qua đầu xe chúng
tôi trên đường cao tốc. Hầu hết mọi người đều bỏ qua và tiếp
tục hành trình của mình. Tuy nhiên, người có tư duy tội phạm
có thể truy đuổi người lái xe vi phạm, biến mâu thuẫn đó trở
thành cơn thịnh nộ dữ dội trên đường. Khi bị nhân viên trong
cửa hàng đối xử thô lỗ, hầu hết mọi người chỉ đơn giản là phớt
lờ hành vi xấu đó. Tuy nhiên, người có tư duy tội phạm có thể
lao vào lăng mạ tục tĩu và thậm chí đánh người. Để đối phó
với bất cứ điều gì xảy ra trong cuộc sống, chúng ta cần suy
nghĩ và đưa ra những lựa chọn quan trọng về việc cần phải
làm với những suy nghĩ đó. Người chịu trách nhiệm sẽ nghĩ
đến hậu quả và lương tâm của mình. Do đó, anh ta làm những
gì mà Tổng thống Carter đã nói - anh ta cố gắng “không phạm
tội có chủ ý”.
Nếu ai đó tin vào số liệu thống kê thì gần một nửa số
cuộc hôn nhân ở Mỹ rơi vào bế tắc, dẫn đến ly thân và ly hôn.
Có nhiều cách phản hồi khác nhau về vấn đề hôn nhân. Nếu
một người ngoại tình, những người khác ngoài vợ hoặc chồng
và con cái của người đó có thể bị gài bẫy, bao gồm cả đại gia
đình, hàng xóm, đồng nghiệp và bạn bè. Nói dối và sống cuộc
sống hai mặt là nét đặc trưng của sự không chung thủy cũng
có mức độ tương tự với hành vi của tội phạm. Tuy nhiên, trong
các khía cạnh khác của cuộc sống, người có hành vi ngoại tình
có thể là người trung thực, thấu cảm và có trách nhiệm.
Bạn có thể tranh luận rằng, hoạt động tội phạm chỉ mang
tính chất tương đối. Những gì cấu thành tội phạm ngày hôm
nay có thể không cấu thành nên tội phạm vào ngày mai nếu
luật thay đổi. Trường hợp này xảy ra khi Lệnh cấm được bãi
bỏ. Một số hành vi có thể gây tổn hại nghiêm trọng nhưng
không phạm pháp. Có những cá nhân bị coi là “tội phạm,”
theo cách sử dụng thuật ngữ này của tôi, bất kể luật pháp gì.
Hãy xem lời tuyên bố của một kẻ hiếp dâm: “Nếu hiện nay
hiếp dâm được hợp pháp hóa, tôi sẽ không hiếp dâm. Nhưng
tôi sẽ làm một cái gì đó khác đi”. Đối với người này và những
người khác như anh ta, làm bất cứ điều gì bị cấm là chìa khóa
thể hiện hình ảnh bản thân.
Ngoài ra còn có “tội phạm không thể bắt giữ” và có thể
bạn sẽ biết một số người. Đây là những người cực kỳ tự cao tự
đại, luôn luôn nói dối, phản bội lòng tin, xây dựng bản thân
bằng cách vùi dập người khác, cố gắng kiểm soát người khác,
phớt lờ các nghĩa vụ cá nhân và tài chính và đổ lỗi cho người
khác vì những hành vi sai trái. Họ có thể không thực hiện các
hành vi có thể bị bắt (hoặc đủ khôn khéo để không bị bắt)
nhưng lại rất nhẫn tâm phá hoại gia đình, đồng nghiệp và bất
kỳ ai khác họ thường xuyên liên hệ.
Khi bạn thâm nhập vào tâm trí của tội phạm, cần phải
nhớ rằng, các phương thức tư duy và chiến thuật được mô tả
tồn tại ở một mức độ nào đó. Trong quá trình thực hiện phỏng
vấn tội phạm suốt 44 năm, tôi đã gặp hàng trăm trường hợp có
thể chọn ra khi viết cuốn sách này. Tôi muốn chọn những
người cả nam và nữ ở mức độ cao nhất của việc liên tục phạm
tội làm ví dụ. Khi bạn hiểu được biểu hiện cực đoan của một
hình thức, bạn sẽ dễ dàng nhận ra khi nó ở trạng thái ít cực
đoan hơn.
Nếu một người đàn ông, phụ nữ hoặc trẻ em thể hiện sự
cực đoan ở mọi đặc điểm mà tôi mô tả - tự cao tự đại, kiểm
soát, không trung thực, VÔ trách nhiệm và nhẫn tâm - thì tổng
thể sẽ ở mức độ lớn hơn so với từng khía cạnh gộp lại. Kết quả
là một người có cái nhìn hoàn toàn khác về bản thân[1] và thế
giới so với một người sống có trách nhiệm. Nói cách khác, cá
nhân đó có tính cách tội phạm.
1. THẤT BẠI TRONG NGUYÊN
NHÂN DẪN ĐẾN TỘI PHẠM
Khi bắt đầu công việc của một nhà tâm lý học nghiên cứu lâm
sàng, tôi tin rằng mọi người trở thành tội phạm phần lớn là do
các yếu tố bên ngoài bản thân họ tác động. Tôi chủ yếu coi tội
phạm như những nạn nhân. Khi làm việc với người thầy của
mình, Tiến sĩ Yochelson, chúng tôi nhận ra quan điểm này
hoàn toàn sai lầm. Chúng tôi ngày càng nghi ngờ những câu
chuyện tự thỏa mãn bản thân, trong đó tội phạm biện minh cho
những gì chúng đã làm bằng cách đổ lỗi cho người khác. Khi
tiến hành kiểm nghiệm những lời khai của chúng và phỏng
vấn những người biết rõ về chúng, chúng càng sẵn sàng hơn.
Chúng tôi đã chỉnh sửa một số quan niệm, loại bỏ hoàn toàn
những quan niệm khác và khám phá các chủ đề mới. Những
bằng chứng mà chúng tôi đã tích lũy được sau hàng nghìn giờ
phỏng vấn những tên tội phạm thuộc nhiều hoàn cảnh khác
nhau đã buộc chúng tôi phải đưa những “con bò lý thuyết
thiêng liêng” của mình ra đồng cỏ và giết thịt chúng. Chúng
tôi tự gọi mình là “những người cải đạo bất đắc dĩ” bởi vì
chúng tôi quá do dự khi từ bỏ những học thuyết, niềm tin và
những gì chúng tôi học được trong khóa đào tạo chuyên môn
về lý do tại sao mọi người lại trở thành tội phạm. Khi chúng
tôi không còn coi tội phạm là nạn nhân, một không gian mới
đã mở ra. Khi ấy, chúng tôi không còn bị ràng buộc bởi những
câu hỏi “tại sao và có thể tập trung tìm hiểu sâu hơn về cách
thức tư duy của tội phạm.
Chúng tôi áp dụng cách tiếp cận “vết xước trên bàn”. Bạn
không cần phải biết tại sao chiếc bàn bị xước. Thay vì lo lắng
về việc nó bị hư hại như thế nào, bạn cần kiểm tra chiếc bàn để
xác định nó được làm bằng gì và đánh giá tình trạng xem có
thể sửa chữa được hay không. Tên tội phạm đã đưa ra quyết
định bằng cách nào? Kỳ vọng của anh ta về bản thân và những
người khác là gì? Làm thế nào mà anh ta có thể cầu nguyện
trong nhà thờ lúc 10 giờ nhưng hai giờ sau đó lại tiến hành
khủng bố một chủ nhà khi đột nhập? Hành vi là sản phẩm của
tư duy. Và sau nhiều nỗ lực, chúng tôi đã đặt nền móng cho
phương pháp giúp người phạm tội thay đổi suy nghĩ và hành vi
bằng cách tập trung vào các phương thức tư duy thay vì
nguyên nhân.
Việc tìm kiếm nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội
chưa có hồi kết và phần nào có thể so sánh với nỗ lực của các
nhà khoa học đang tìm hiểu nguyên nhân của bệnh ung thư.
Nếu chúng ta phát hiện ra nguyên nhân dẫn đến thất bại và
hoảng sợ, thì bất kể tai họa là gì cũng đều có thể loại trừ.
Không giống như ung thư, chúng ta không nên kỳ vọng có thể
tìm ra cách chữa trị ngay cả khi xác định được “nguyên nhân
gốc rễ” của tội phạm. Thay vì vạch ra các chiến lược hiệu quả
để đối phó với tội phạm, việc tập trung tìm kiếm nguyên nhân
đã làm xao nhãng việc tìm hiểu những kẻ phạm tội thực sự là
người như thế nào.
Một quan điểm đã tồn tại trong hơn một thế kỷ qua cho
rằng tội phạm là nạn nhân của các yếu tố xã hội học, tâm lý
học hoặc sinh học mà họ gần như không thể hoặc không kiểm
soát được. Một số nhà xã hội học cho rằng, tội phạm là một sự
phản ứng có thể lý giải nhằm thích nghi và thậm chí là bình
thường trước hoàn cảnh nghèo đói khắc nghiệt đã tước đi cơ
hội và hy vọng của con người. Họ cũng chỉ ra cuộc sống căng
thẳng và đầy cạnh tranh ở vùng ngoại ô cũng góp phần tạo nên
tội phạm. Một số người quy kết tội phạm là do những giá trị
trong xã hội bị đặt nhầm chỗ khiến công dân xa lánh cộng
đồng, nơi làm việc và chính quyền. Các nhà tâm lý học nhấn
mạnh vai trò của trải nghiệm ban đầu trong gia đình và chỉ ra
những khiếm khuyết của cha mẹ là nguyên nhân dẫn đến hành
vi phạm tội. Giả thuyết này được đưa ra vào thế kỷ 19 và cho
rằng tội phạm mắc chứng “rối loạn nhân cách chống đối xã
hội” từ khi sinh ra. Hiện tại ở thế kỷ 21, các nhà khoa học
đang quay trở lại với ý tưởng đó khi các phát hiện nghiên cứu
chỉ ra cơ sở sinh học cho hành vi phạm tội.
Trong vở nhạc kịch West Side Story (tạm dịch: Câu
chuyện phía Tây) năm 1957, Stephen Sondheim đã nhại lại
những suy nghĩ hiện tại về nguyên nhân trẻ vị thành niên
phạm pháp trong bài hát Gee, Officer Krupke. Trong bài hát
đó, những kẻ phạm pháp đã bị hiểu lầm chứ không phải là
không có gì tốt đẹp. Họ mắc phải một “căn bệnh xã hội” và xã
hội đã “chơi [cho] một vố đau đớn”. Lời bài hát này thể hiện
quan điểm rằng tội ác của họ là triệu chứng của bệnh lý tâm
thần sâu sắc hoặc thiếu thốn điều kiện kinh tế xã hội. Trong
một bài báo năm 1964, nhà tâm lý học nổi tiếng O. Hobart
Moorer đã đặt câu hỏi liệu phân tâm học có thực sự khuyến
khích “bệnh xã hội” (hiện nay chính thức được gọi là “rối loạn
nhân cách chống xã hội”) bằng cách đưa ra thêm lý do cho tội
phạm hay không[2]. Ông đưa ra vấn đề này trong một bài ca
dân gian về tâm thần như sau:
Lúc ba tuổi, tôi không chắc về những cảm nhận với anh
em của mình
Và thế là tự nhiên tôi đầu độc tất cả những người yêu
thương tôi
Và bây giờ tôi cảm thấy hạnh phúc khi học được bài học
từ điều đó:
Rằng mọi thứ tôi làm sai đều là lỗi của người khác.
Hoạt động tìm hiểu nguyên nhân của tội phạm bị châm
biếm trong những năm 1950 và 1960 vẫn còn tồn tại cho đến
ngày nay. Các tiêu đề mới xuất hiện trên các tạp chí hay các
phương tiện truyền thông mỗi ngày đều chỉ ra một nguyên
nhân khác bị cáo buộc gây ra tội phạm:
* Thanh niên bất mãn đồng cảm với Kẻ bỉ ổi?[3] Hội
chứng nô lệ gây ra trong Boy's Death[4] Trò chơi bạo lực gây
ra Bạo lực[5]
* Sự liên quan giữa tức giận bộc phát với tổn thương trên
cơ thể[6]
+ Rối loạn giấc ngủ có thể tạo tiền đề dẫn đến hung
hăng[7]
* Sự liên quan giữa soda với các vấn đề hành vi ở trẻ
nhỏ?[8]
* Tội phạm đang già hóa ở Nhật Bản… Cô đơn chính là
thủ phạm[9]
+ Kẹo gây ra bạo lực khi trưởng thành[10]
* Tội phạm bạo lực và cholesterol[11]
Nhiệm vụ xác định nguyên nhân của tội phạm trong môi
trường vẫn còn đó. Tờ St. Louis PostDispatch số ra ngày 10
tháng 6 năm 2008, viết rằng, “Tội phạm có thể đã giảm trong
những năm 1990 vì chì đã được loại bỏ khỏi xăng 20 năm
trước đó”.[12] Trên tờ USA Today, một bài báo số ra ngày 17
tháng 7 năm 2009 có tiêu đề “10 tên em bé xấu nhất”.[13] Và
một bài báo trên Science Neos ngày 2 tháng 8 năm 2013 đã
trích dẫn những thay đổi trong biến đổi khí hậu có liên quan
chặt chẽ đến các hành vi bạo lực trên toàn cầu.[14]
Mặc dù có vô số khía cạnh thuộc về môi trường được xác
định khiến con người có hành vi phạm tội, nhưng một trong
những khía cạnh tiếp tục thu hú...
Tên sách
Tâm Lý Học Tội Phạm - Tập 1
Nguyên tác
Inside the Criminal Mind
Tác giả
Stanton E. Samenow
Dịch giả
Huy Nguyễn
Thể loại
Khoa Học, Hành Vi
Phát hành
1980 Books
Nhà Xuất Bản
NXB Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Ebook
2021 kindlekobovn
—★—
LỜI GIỚI THIỆU
Hai năm sau khi ra trường, thời điểm tôi mới 28 tuổi, trong
suốt tháng 1 năm 1971 tôi cùng với Tiến sĩ Samuel Yochelson
đảm nhận vai trò chuyên gia tâm lý nghiên cứu lâm sàng trong
Chương trình Điều tra Hành vi Tội phạm tại Bệnh viện St.
Elizabeths tại Washington, D.C. Khi ấy tôi gần như không
nhận ra rằng mình đã bắt đầu con đường sự nghiệp mà bản
thân sẽ theo đuổi cho đến tận những năm 70 tuổi. Tiến sĩ
Yochelson khởi động chương trình này năm 1961 và đây vẫn
là chương trình điều trị nghiên cứu chuyên sâu về tội phạm dài
nhất được thực hiện tại Bắc Mỹ. Khi ông qua đời vào ngày 12
tháng 11 năm 1976, tôi trở thành người kế tục chương trình
đột phá này và tiếp tục công việc đánh giá cũng như làm việc
với tội phạm, từ những tên trộm cắp vặt cho tới những kẻ đam
mê giết người.
Trong nhiều thập kỷ qua, những hiểu biết thông thường
phổ biến về hoạt động phạm tội đã coi kẻ phạm tội là nạn nhân
của những tác động mà người đó gần như không hoặc không
thể kiểm soát được. Hầu như mọi thứ có thể nghĩ tới đều được
xác định là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội, bao gồm
nghèo đói, sự yếu kém trong việc nuôi dạy con cái, áp lực từ
bạn bè, bạo lực trên các phương tiện truyền thông và nhiều
loại bệnh khác nhau về tinh thần. Tiến sĩ Yochelson và tôi
cùng chung quan điểm về giả thuyết tiền đề này khi bắt đầu
chương trình. Chúng tôi đã dành hàng nghìn giờ đồng hồ để
phỏng vấn những tội phạm và những người khác hiểu rõ về tội
phạm trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1978. Chúng tôi
nhận ra rằng, những cá nhân này không phải do môi trường
của họ không may nhào nặn nên và điều này trái ngược với
những gì chúng tôi tin tưởng ban đầu. Không có nguyên nhân
phạm tội nào được chấp nhận rộng rãi có thể lý giải phù hợp
khi xem xét kỹ lưỡng. Ngoài ra, những người phạm tội chúng
tôi làm việc cùng đã khai thác việc tìm kiếm nguyên nhân của
chúng tôi để đưa ra nhiều lời bào chữa hơn cho tội ác của
mình. Khi đề cập đến hoạt động điều trị tâm thần trong nhiều
tháng, một người đàn ông nói với Tiến sĩ Yochelson trong một
khoảnh khắc trải lòng hiếm hoi, “Thưa Tiến sĩ, nếu tôi đưa ra
quá nhiều lời bào chữa cho hành vi phạm tội của mình trước
khi điều trị tâm thần thì bây giờ tôi đã có thể sở hữu cả một gia
tài sau ngần ấy năm”. Khi chúng tôi giúp bản thân thoát khỏi
vấn đề tìm kiếm “nguyên nhân của hành vi tội phạm”, chúng
tôi có thể nâng cao hiểu biết về cách thức tư duy của tội phạm
trong mọi khía cạnh của cuộc sống cũng như phát triển một
quy trình nhằm giúp một số tội phạm thay đổi. Hành vi là sản
phẩm của tư duy, và do đó, bất cứ ai hoạch định chính sách
hoặc làm việc với người phạm tội đều có trách nhiệm phải
hiểu được cách thức tư duy của tội phạm.
Sau khi công việc của chúng tôi tại Bệnh viện St.
Elizabeths được giới thiệu trong một phân đoạn của chương
trình 60 Minutes trên đài CBS News vào ngày 17 tháng 2 năm
1977, tôi bắt đầu nhận được những lời mời đến trò chuyện với
các nhóm chuyên gia về hoạt động cải huấn, sức khỏe tinh
thần, công tác xã hội, tư vấn về việc làm dụng các chất, thực
thi pháp luật, và bộ máy tư pháp. Những phản hồi từ khán giả
có cả những vụ tấn công cá nhân (thậm chí tôi còn bị cáo buộc
là gây nguy hiểm) vì tôi không thừa nhận những học thuyết
gần như quan trọng nhất về nguyên nhân gây ra hành vi phạm
tội, và hơn nữa tôi còn khẳng định sự tồn tại thực sự của “tính
cách tội phạm”. Dường như có sự khác biệt về quan điểm giữa
những “người theo thuyết ghế bành” rất ít hoặc không có sự
liên hệ trực tiếp với tội phạm và những người tương tác hằng
ngày với những đối tượng đó. Nhóm thứ hai - cán bộ cải huấn,
cố vấn, quan chức thực thi pháp luật, và các nhà tâm lý học chấp nhận công việc của chúng tôi bởi vì nó phù hợp với
những gì họ gặp phải hằng ngày trong công việc và vì nó đưa
ra những góc nhìn chuyên sâu giúp họ thực hiện công việc
hiệu quả hơn.
Ấn bản đầu tiên của cuốn sách Tâm lý học tội phạm được
xuất bản năm 1984, và ấn bản thứ hai xuất bản năm 2004. Sau
một thập kỷ, hiện đã đến lúc bổ sung thêm các thông tin cho
cuốn sách này. Trong ấn bản này, bạn sẽ hiểu chi tiết về các
quá trình tư duy và chiến thuật phổ biến đối với những kẻ
phạm tội, bất kể lý lịch hay tội ác của chúng.
Bản chất con người không thay đổi, và do đó tư duy tội
phạm mà tôi mô tả trong các ấn bản trước của cuốn sách này
cũng không thay đổi. Tuy nhiên, một xã hội liên tục thay đổi
đã tạo ra những con đường mới để tư duy tội phạm thể hiện
vai trò của mình. Ví dụ, hành vi bắt nạt không phải là mới
nhưng bắt nạt trên không gian mạng thì lại mới mẻ và nó tạo
ra cho những thanh thiếu niên và người trưởng thành có
khuynh hướng phạm tội một đấu trường mới rộng lớn hơn, gây
ra nhiều đau khổ hơn.
Internet là một phương tiện nhanh chóng và hiệu quả để
tiến hành nghiên cứu, mua sắm, lập kế hoạch du lịch và giao
tiếp với những người khác. Công nghệ đã mở ra một thế giới
tương tự cho tội phạm để chúng có thể tiến hành “nghiên cứu”
và thực hiện các kế hoạch. Với Internet, tội phạm có quyền
truy cập ngay lập tức để làm những gì chúng vẫn luôn làm gian lận, lừa đảo, ăn cắp và đe dọa. Tội phạm mạng ngày càng
trở thành mối đe dọa đối với các cá nhân, doanh nghiệp và
chính phủ. Những kẻ phạm tội cách xa những nạn nhân hàng
ngàn dặm và nằm ngoài phạm vi của các cơ quan thực thi pháp
luật vẫn có thể xâm nhập vào các hệ thống máy tính của chính
phủ, đánh cắp thông tin cá nhân, ăn cắp mã nhận dạng và tiêu
diệt các phần mềm hoặc hồ sơ kinh doanh có giá trị của công
ty.
Ấn bản năm 2004 của cuốn sách Tâm lý học tội phạm
bao gồm một chương về sự tham gia của tội phạm trong thế
giới ma túy. Ấn bản này mở rộng cuộc thảo luận đó để đưa vào
tình trạng lạm dụng thuốc kê đơn đáng báo động, việc sản xuất
và sử dụng các loại ma túy tổng hợp mới bổ sung thêm vào
vấn đề xã hội vốn đã rất nghiêm trọng này. Sản xuất, phân
phối và sử dụng ma túy tạo ra những âm mưu phạm tội, cảm
giác phấn khích và lợi nhuận về tài chính.
Cùng với việc cung cấp những thông tin chi tiết hơn về
các phương thức tư duy và hành động của tội phạm (và ít
thông tin hơn về những nguyên nhân được viện dẫn trong hành
vi phạm tội), tôi dành một chương cho hai trường hợp, trong
đó hai thanh niên có hoàn cảnh rất khác nhau phạm tội giết
người. Bạn sẽ thấy rằng, các quá trình tư duy của thanh niên
xuất thân từ một gia đình giàu có và thanh niên lớn lên trong
một ngôi nhà nội đô hỗn loạn là hoàn toàn giống nhau. Trong
toàn bộ cuốn sách này, bạn sẽ thấy được sự giống nhau trong
cách thức tư duy giữa những tên tội phạm cổ cồn trắng phạm
tội chiếm đoạt hàng triệu đô la và những tên côn đồ đường phố
đe dọa một người già bằng dao chỉ để cướp lấy 20 đô la.
Tôi đã bổ sung một chương về vấn đề tình dục trong cuộc
đời của kẻ phạm tội. Việc theo đuổi vấn đề tình dục và thực
hiện các hành vi phạm tội tình dục gần như không liên quan
đến việc thỏa mãn tình dục. Thay vào đó, thông qua hoạt động
tình dục, tội phạm thể hiện sức mạnh, nuôi dưỡng bản ngã và
khẳng định anh ta là người khó có thể cưỡng lại được. Quan
niệm này đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu được tâm lý
của các giáo sĩ, huấn luyện viên, cố vấn và những nhà giáo
dục, những người có thể thao túng người khác để lấy lòng tin
và sau đó lợi dụng vị trí của họ để dụ dỗ trẻ em trở thành nạn
nhân tình dục.
Tội phạm cảm thấy tức giận vì mọi người không đáp ứng
được mong đợi của anh ta. Họ không thừa nhận nhận thức của
anh ta về bản thân là một người quyền lực, độc nhất và vượt
trội. Những gì hầu hết chúng ta cho là những rắc rối thường
ngày lại được tội phạm coi như những mối đe dọa đối với sự
tự nhận thức về bản thân anh ta. Tôi dành ra một chương để
thảo luận về sự tức giận ở một tên tội phạm giống như một căn
bệnh ung thư di căn khiến bất cứ ai hoặc bất cứ thứ gì trên con
đường của hắn đều có thể trở thành mục tiêu.
Bất kể những tổn thương về thể xác, tình cảm hay tổn thất
về tài chính có lớn đến đâu, kẻ phạm tội đều tin rằng anh ta là
người tốt. Những cảm xúc ủy mị và sự tàn bạo dã man luôn
tồn tại song song trong cùng một cá thể. Một tội phạm hung
bạo chia sẻ: “Tôi có thể thay đổi từ trạng thái khóc lóc thành
lạnh lùng và ngược lại”. Điều quan trọng là phải hiểu được
cách thức một tội phạm củng cố quan điểm tốt đẹp về bản thân
khiến anh ta làm một việc tử tế cho ai đó nhưng ngay sau đó
lại làm hại người đó. Quan điểm của tội phạm cho rằng bản
thân là một người tử tế gây ra một rào cản lớn để thay đổi.
Các chuyên gia sức khỏe tinh thần đã tổng hợp các thông
tin nhằm hiểu về thủ phạm của các vụ xả súng hàng loạt và các
tội ác kinh hoàng khác. Trong một số trường hợp, những kẻ
phạm tội này đã tiếp xúc từ trước đó với các chuyên gia sức
khỏe tinh thần, những người cố gắng đánh giá, tìm hiểu và
điều trị cho họ một cách vô ích. Tuy nhiên, những tội phạm
như vậy rất khéo léo trong việc đánh lừa và không muốn
người khác biết họ là ai. Họ thường không tiết lộ ý định thực
sự của mình. Mặc dù có thể lý giải các hành vi khó hiểu và cực
đoan về bệnh tâm thần, nhưng các bác sĩ tâm thần và nhà tâm
lý học có trình độ thường không nhận ra rằng họ đang đối phó
với kiểu tính cách được mô tả trong cuốn sách này. Bạn sẽ
hiểu được nguyên nhân tại sao lại dẫn đến như vậy.
Khi các chuyên gia không thể xác định động cơ phạm tội,
họ có thể kết luận rằng, về mặt pháp lý, thủ phạm bị tâm thần,
không phân biệt được đúng sai, hoặc hành động mất kiểm
soát. Kể từ sau ấn bản năm 2004 của cuốn sách này, tôi làm
việc với tư cách là nhân chứng chuyên môn trong các vụ án
với những sự biện hộ khó tin. Điều này xảy ra trong phiên tòa
xét xử Lee Boyd Malvo, người ít tuổi hơn trong hai tay súng
bắn tỉa khét tiếng tại Washington, DC. Trái ngược với suy nghĩ
của nhiều người, việc tuyên bố trắng án với lý do biện hộ tâm
thần rất hiếm gặp, và có lý do chính đáng cho điều này. Tôi sẽ
thảo luận về một vụ án trong đó tôi thực sự nhận thấy bị cáo bị
tâm thần, một trường hợp rất khác với các trường hợp tâm thần
khác mà tôi tham gia.
Cũng có nhiều người cho rằng những người dường như
có trách nhiệm và năng lực đánh giá thường bị hoàn cảnh áp
lực đẩy họ đến mức “sa lưới” và phạm phải tội hoàn toàn khác
biệt. Tôi chưa bao giờ thấy sự chính xác từ lời giải thích này
và bạn sẽ hiểu tại sao.
Các hành động khủng bố tại Newtown, Connecticut;
Aurora, Colorado; Washington, D.C., Navy Yard; và Cuộc thi
Marathon Boston 2013 hẳn vẫn còn hằn sâu trong ký ức nhiều
người. Cho dù hành vi giết người xảy ra ở nước ngoài hay
trong nước thì một số hoạt động khủng bố nên được xem xét
trong bối cảnh những người hiểu được nguyên nhân và sử
dụng chúng làm phương tiện để thể hiện tính cách tội phạm đã
tồn tại trước đó. Chúng tôi đã đọc những lời khai của nam
giới, phụ nữ và những đứa trẻ đang trở nên “cực đoan hóa” về
mặt chính trị. Để hiểu đầy đủ những gì thực sự xảy ra trong
cuộc sống của họ, việc xem xét tính cách trước đó của những
người tự khiến mình bị lôi kéo vào quá trình này sau đó thực
hiện hành vi khủng bố là điều hết sức cần thiết.
Một cuộc thảo luận về suy nghĩ và hành vi của phạm
nhân khi họ thụ án trong các cơ sở giam giữ và cải huấn sẽ đưa
ra một bức tranh sống động về những gì mà nhân viên ở đó
phải đối mặt hàng ngày. Ấn bản này giúp độc giả có cái nhìn
sâu hơn về thế giới đó, bao gồm cách thức hoạt động của các
băng đảng trong các nhà tù, trong đó những thủ lĩnh của chúng
không chỉ có tầm ảnh hưởng rộng lớn bên trong nhà tù mà còn
cả bên ngoài cơ Sở cải huấn.
Hiểu biết thông thường về nguyên nhân phạm tội hiện
vẫn là kim chỉ nam cho nhiều người vạch ra các chính sách
phòng chống tội phạm. Các nhà hoạch định chính sách lãng
phí hàng tỷ đô la khi họ ngây thơ tìm cách chống lại hành vi
tội phạm bằng cách loại bỏ cái gọi là “nguyên nhân gốc rễ” về
môi trường xung quanh. Các chương trình sử dụng các phương
pháp tiếp cận tâm lý truyền thống vẫn không đem lại hiệu quả.
Ví dụ, các chương trình “kiểm soát cơn giận” được sử dụng
rộng rãi nhằm giúp người phạm tội thay đổi. Tuy nhiên, những
nỗ lực như vậy đều thất bại do chúng thực sự hợp pháp hóa sự
tức giận. Tôi sẽ đề xuất một cách tiếp cận thay thế.
Không hề ngạc nhiên khi cuộc tranh luận về những nỗ lực
giúp người phạm tội thay đổi vẫn tiếp tục căng thẳng ở Mỹ.
Nhiều cơ sở đã áp dụng các khía cạnh của phương pháp mà
Tiến sĩ Yochelson và tôi đưa ra cách đây nhiều thập kỷ tại
bệnh viện St. Elizabeths. Quá trình này đòi hỏi phải giúp
người phạm tội xác định “sai sót” trong suy nghĩ của họ, giải
quyết những hậu quả nghiêm trọng do suy nghĩ đó gây ra, sau
đó học hỏi và thực hiện các khái niệm mang tính sửa đổi. Với
những hạn chế về ngân sách ngày càng tăng, các nguồn lực
dành cho các chương trình nhằm thay đổi trong các cơ sở cải
huấn tại Mỹ càng trở nên hết sức eo hẹp. Tuy nhiên, một sự
thật là hầu hết đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị giam giữ hiện nay
- trong đó một số ít ngoại lệ là những người đang thi hành án
chung thân không được ân xá hoặc tử hình - sẽ được thả ra
đường phố Mỹ ở một thời điểm nào đó. Mặc dù một số nhỏ có
thể tự thay đổi sau khi ngồi tù nhưng hầu hết sẽ không thay
đổi, trong đó nhiều người sẽ bị bắt giam trở lại. Khi tìm hiểu
thêm về tư duy tội phạm, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về họ và có
thể giúp một số người phạm tội thay đổi để có một cuộc sống
có ích và có trách nhiệm.
MỞ ĐẦU
LOẠI BỎ RÀO CẢN VỚI HOẠT ĐỘNG
NẮM BẮT TƯ DUY TỘI PHẠM
Mục đích chính của cuốn sách này là nhằm giúp bạn hiểu
được tư duy tội phạm Chương “Cha mẹ không hề biến con cái
thành tội phạm” giới thiệu các phương thức tư duy và chiến
thuật của những cá nhân ngày càng vô trách nhiệm và thực
hiện các hoạt động phạm tội trước khi đến tuổi vị thành niên.
Các chương sau bộc lộ các phương thức tư duy ở người trưởng
thành khi chúng trở thành thói quen và gây ra tổn thương lớn
cho người khác. Nguy cơ phát triển “căn bệnh của sinh viên y
khoa” luôn tồn tại, trong đó bạn bắt đầu nghĩ rằng, “Chồng tôi
làm một số việc này. Con trai tôi cũng làm như vậy. Và tôi
nghĩ một số điều này cũng áp dụng cho tôi”. Bạn có thể bắt
đầu nhìn thấy tội phạm ở khắp mọi nơi.
Hãy nhớ rằng, hầu hết các mặt của tính cách luôn có sự
chuyển biến không ngừng. Ví dụ như đối với sự lo lắng. Một
người cảm thấy lo lắng khi dự đoán kết quả xét nghiệm y tế
chẩn đoán là điều bình thường. Ở một khía cạnh khác, một
người có thể không hoạt động bình thường vì lo lắng đến mức
anh ta chỉ ở trong nhà và sợ đi ra ngoài. Chỉ cần cân nhắc việc
đi đến cửa hàng tạp hóa cũng có thể gây ra một cơn hoảng
loạn toàn diện.
Để hiểu được cấu tạo tinh thần của những cá nhân có tính
cách tội phạm thì việc nắm được khái niệm về sự liên tục cũng
là điều cần thiết. Nói dối là một trường hợp điển hình. Gần
như tất cả chúng ta đều nói dối. Một đứa trẻ hai tuổi làm đổ ly
sữa và chỉ vào con mèo để bảo con mèo là thủ phạm. Bạn của
bạn hỏi bạn có thích kiểu tóc mới của cô ấy không và để tránh
làm tổn thương cảm xúc của cô ấy, bạn tuyên bố nó tuyệt đẹp
mặc dù bạn cho rằng nó không phù hợp với cô ấy. Quá mệt
mỏi và muốn có một ngày nghỉ, bạn gọi điện đến nơi làm việc
để xin nghỉ ốm mặc dù bạn không thực sự ốm.
Bạn đảm bảo với con mình rằng thuốc sẽ không có vị khó
chịu để thuyết phục con uống thuốc mặc dù bạn biết nó rất
đắng. Nhưng có một sự khác biệt đáng kể giữa một người nói
dối vô hại để tránh xấu hổ hoặc làm tổn thương ai đó, và một
người nói dối giống như một lối sống. Tội phạm nói dối để che
giấu dấu vết (anh ta có rất nhiều thứ cần che giấu) và thoát
khỏi sự bế tắc anh ta đã tạo ra cho chính bản thân. Anh ta nói
dối nhằm bảo vệ quan điểm bản thân đặc biệt và mạnh mẽ,
một sự tự nhận thức về bản thân được củng cố mỗi lần anh ta
lừa dối người khác thành công. Trong các chương sau sẽ trình
bày chi tiết hơn về hành vi nói dối kinh niên của tội phạm.
Hãy cân nhắc bỏ qua những cảm xúc của người khác. Đôi
khi chúng ta gây ra đau khổ cho người khác khi quyết tâm
theo đuổi những gì chúng ta mong muốn. Chúng ta có thể cắt
ngang cuộc trò chuyện của ai đó hoặc vô tình coi thường tầm
quan trọng trong thành tích gần đây của một người bằng lời
phát biểu tùy tiện. Nhưng khi nhận ra những gì mình đã làm,
chúng ta sẽ hối hận về những tổn hại đã gây ra. Ngược lại, tội
phạm rất cương quyết. Khi theo đuổi một mục tiêu, chúng
không để ý đến các tác động xung quanh từ hành vi của bản
thân.
Chúng coi người khác như những con tốt có thể thao
túng. Chúng có thể sử dụng mọi thủ đoạn để đạt được mục
đích. Một phạm nhân nghiêm túc đưa ra nhận xét với cán bộ
quản chế của mình, “Sự đồng cảm này; vậy có gì trong đó là
dành cho tôi?”
Khái niệm về sự liên tục cũng áp dụng cho sự tức giận.
Một số người thường thể hiện sự vui vẻ và ít khi nổi nóng. Họ
duy trì sự bình tĩnh ngay cả khi đối mặt với những thách thức
và thất vọng to lớn. Ở một thái cực khác, tội phạm sẽ âm ỉ tức
giận trong suốt cuộc đời mình. Khi mọi người không thực hiện
được những kỳ vọng không thực tế của anh ta, anh ta sẽ phản
ứng như thể toàn bộ sự tự nhận thức về bản thân đang bị đe
dọa. Trong suốt cuộc đời, anh ta tức giận vì mọi người không
làm theo những gì anh ta muốn và anh ta không thể kiểm soát
họ.
Bộ môn tâm lý học và xã hội học từ lâu đã đưa ra quan
điểm tội phạm về cơ bản giống như mọi người khác, nhưng trở
nên gây hại cho người khác vì người đó bị tổn thương hoặc bị
cản trở trong việc thực hiện nguyện vọng của mình. Một thiếu
niên “rơi” nhầm vào một nhóm người và gia nhập một băng
đảng nào đó vì anh ta chưa bao giờ có một cuộc sống gia đình
tốt đẹp. Hoặc một kẻ buôn ma túy bắt đầu công việc này vì
những kỹ năng của anh ta chỉ đủ để làm những công việc với
mức lương tối thiểu. Do đó, cả hai đều bị coi là những người
chịu tác động của những yếu tố bên ngoài mà họ không thể
kiểm soát, bất chấp thực tế rằng, hầu hết thanh niên xuất thân
từ các gia đình xảy ra lục đục lại không tham gia các băng
nhóm, và việc thiếu giáo dục và kỹ năng làm việc của kẻ buôn
ma túy là một sự thất bại mang tính cá nhân chứ không thuộc
về xã hội. Trong nhiều phạm vi khác nhau, tội phạm được coi
là nạn nhân chứ không phải thủ phạm.
Những người theo quan điểm này thậm chí còn khẳng
định rằng theo một nghĩa nào đó, tất cả chúng ta đều là “tội
phạm” bởi vì chúng ta đều nói dối, ham muốn và khuất phục
trước sự cám dỗ. Nhưng thật vô lý nếu đánh đồng lời nói dối
nhỏ nhặt hiếm hoi của người có trách nhiệm với hàng tá những
lời nói dối của tội phạm. Một điều cũng vô lý không kém là
đánh đồng việc đứa trẻ ăn cắp một món đồ chơi nhỏ với việc
kẻ phạm tội ăn cắp mọi thứ mà không được làm sáng tỏ. Việc
cho rằng tội phạm muốn những gì mà người có trách nhiệm
muốn, rằng anh ta cũng coi trọng những thứ mà người có trách
nhiệm coi trọng là một điều sai lầm.
Cả hai đều có thể mong muốn sự giàu có, nhưng chỉ có
một người làm việc kiên trì và trung thực để đạt được nó. Tội
phạm tin rằng anh ta có quyền sở hữu nó bằng mọi cách,
không quan tâm đến việc ai bị tổn thương và sau đó anh ta
muốn sở hữu nhiều hơn nữa. Cả hai đều có thể mong muốn
một cuộc sống gia đình, nhưng người có trách nhiệm biết cho
đi và nhận lại, biết thể hiện sự chu đáo và quan tâm mà điều
đó đòi hỏi. Trong khi đó, tội phạm thường nói lời đãi bôi trước
những công việc nặng nhọc, sự liêm chính và trách nhiệm,
nhưng hành động lại chứng tỏ điều ngược lại với những quan
niệm này.
Khi thảo luận về các phương thức tư duy và chiến thuật
của tội phạm, cần phải tránh phân chia mọi người thành thiện
hay ác một cách đơn giản. Trong một cuộc phỏng vấn công
khai đăng trên tạp chí Playboy số tháng 11 năm 1976, cựu
Tổng thống Jimmy Carter đã tuyên bố: “Tôi cố gắng không
phạm tội có chủ ý… Tôi đã ngoại tình tư tưởng nhiều lần”.
Giống như Tổng thống Carter, chúng ta thường có suy nghĩ
rằng, nếu hành động, điều đó sẽ gây tổn hại cho người khác
hoặc chính chúng ta. Những suy nghĩ tội lỗi (thuật ngữ của
Tổng thống Carter) sẽ lướt qua tâm trí, và chúng ta sẽ dễ dàng
và nhanh chóng gạt chúng sang một bên. Chúng biến mất và
không tái diễn nữa. Nhưng chúng ta có thể phải đấu tranh với
những suy nghĩ khác bởi vì chúng lặp đi lặp lại. Tuy nhiên,
gần như chắc chắn là chúng ta không nuôi dưỡng những ý
nghĩ phạm các tội nghiêm trọng như cướp của, gây hỏa hoạn,
hiếp dâm hoặc giết người.
Tội phạm thường phản ứng với những thất bại và nỗi thất
vọng hàng ngày theo những cách khác hẳn với những người
bình thường. Một người lái xe ô tô cắt ngang qua đầu xe chúng
tôi trên đường cao tốc. Hầu hết mọi người đều bỏ qua và tiếp
tục hành trình của mình. Tuy nhiên, người có tư duy tội phạm
có thể truy đuổi người lái xe vi phạm, biến mâu thuẫn đó trở
thành cơn thịnh nộ dữ dội trên đường. Khi bị nhân viên trong
cửa hàng đối xử thô lỗ, hầu hết mọi người chỉ đơn giản là phớt
lờ hành vi xấu đó. Tuy nhiên, người có tư duy tội phạm có thể
lao vào lăng mạ tục tĩu và thậm chí đánh người. Để đối phó
với bất cứ điều gì xảy ra trong cuộc sống, chúng ta cần suy
nghĩ và đưa ra những lựa chọn quan trọng về việc cần phải
làm với những suy nghĩ đó. Người chịu trách nhiệm sẽ nghĩ
đến hậu quả và lương tâm của mình. Do đó, anh ta làm những
gì mà Tổng thống Carter đã nói - anh ta cố gắng “không phạm
tội có chủ ý”.
Nếu ai đó tin vào số liệu thống kê thì gần một nửa số
cuộc hôn nhân ở Mỹ rơi vào bế tắc, dẫn đến ly thân và ly hôn.
Có nhiều cách phản hồi khác nhau về vấn đề hôn nhân. Nếu
một người ngoại tình, những người khác ngoài vợ hoặc chồng
và con cái của người đó có thể bị gài bẫy, bao gồm cả đại gia
đình, hàng xóm, đồng nghiệp và bạn bè. Nói dối và sống cuộc
sống hai mặt là nét đặc trưng của sự không chung thủy cũng
có mức độ tương tự với hành vi của tội phạm. Tuy nhiên, trong
các khía cạnh khác của cuộc sống, người có hành vi ngoại tình
có thể là người trung thực, thấu cảm và có trách nhiệm.
Bạn có thể tranh luận rằng, hoạt động tội phạm chỉ mang
tính chất tương đối. Những gì cấu thành tội phạm ngày hôm
nay có thể không cấu thành nên tội phạm vào ngày mai nếu
luật thay đổi. Trường hợp này xảy ra khi Lệnh cấm được bãi
bỏ. Một số hành vi có thể gây tổn hại nghiêm trọng nhưng
không phạm pháp. Có những cá nhân bị coi là “tội phạm,”
theo cách sử dụng thuật ngữ này của tôi, bất kể luật pháp gì.
Hãy xem lời tuyên bố của một kẻ hiếp dâm: “Nếu hiện nay
hiếp dâm được hợp pháp hóa, tôi sẽ không hiếp dâm. Nhưng
tôi sẽ làm một cái gì đó khác đi”. Đối với người này và những
người khác như anh ta, làm bất cứ điều gì bị cấm là chìa khóa
thể hiện hình ảnh bản thân.
Ngoài ra còn có “tội phạm không thể bắt giữ” và có thể
bạn sẽ biết một số người. Đây là những người cực kỳ tự cao tự
đại, luôn luôn nói dối, phản bội lòng tin, xây dựng bản thân
bằng cách vùi dập người khác, cố gắng kiểm soát người khác,
phớt lờ các nghĩa vụ cá nhân và tài chính và đổ lỗi cho người
khác vì những hành vi sai trái. Họ có thể không thực hiện các
hành vi có thể bị bắt (hoặc đủ khôn khéo để không bị bắt)
nhưng lại rất nhẫn tâm phá hoại gia đình, đồng nghiệp và bất
kỳ ai khác họ thường xuyên liên hệ.
Khi bạn thâm nhập vào tâm trí của tội phạm, cần phải
nhớ rằng, các phương thức tư duy và chiến thuật được mô tả
tồn tại ở một mức độ nào đó. Trong quá trình thực hiện phỏng
vấn tội phạm suốt 44 năm, tôi đã gặp hàng trăm trường hợp có
thể chọn ra khi viết cuốn sách này. Tôi muốn chọn những
người cả nam và nữ ở mức độ cao nhất của việc liên tục phạm
tội làm ví dụ. Khi bạn hiểu được biểu hiện cực đoan của một
hình thức, bạn sẽ dễ dàng nhận ra khi nó ở trạng thái ít cực
đoan hơn.
Nếu một người đàn ông, phụ nữ hoặc trẻ em thể hiện sự
cực đoan ở mọi đặc điểm mà tôi mô tả - tự cao tự đại, kiểm
soát, không trung thực, VÔ trách nhiệm và nhẫn tâm - thì tổng
thể sẽ ở mức độ lớn hơn so với từng khía cạnh gộp lại. Kết quả
là một người có cái nhìn hoàn toàn khác về bản thân[1] và thế
giới so với một người sống có trách nhiệm. Nói cách khác, cá
nhân đó có tính cách tội phạm.
1. THẤT BẠI TRONG NGUYÊN
NHÂN DẪN ĐẾN TỘI PHẠM
Khi bắt đầu công việc của một nhà tâm lý học nghiên cứu lâm
sàng, tôi tin rằng mọi người trở thành tội phạm phần lớn là do
các yếu tố bên ngoài bản thân họ tác động. Tôi chủ yếu coi tội
phạm như những nạn nhân. Khi làm việc với người thầy của
mình, Tiến sĩ Yochelson, chúng tôi nhận ra quan điểm này
hoàn toàn sai lầm. Chúng tôi ngày càng nghi ngờ những câu
chuyện tự thỏa mãn bản thân, trong đó tội phạm biện minh cho
những gì chúng đã làm bằng cách đổ lỗi cho người khác. Khi
tiến hành kiểm nghiệm những lời khai của chúng và phỏng
vấn những người biết rõ về chúng, chúng càng sẵn sàng hơn.
Chúng tôi đã chỉnh sửa một số quan niệm, loại bỏ hoàn toàn
những quan niệm khác và khám phá các chủ đề mới. Những
bằng chứng mà chúng tôi đã tích lũy được sau hàng nghìn giờ
phỏng vấn những tên tội phạm thuộc nhiều hoàn cảnh khác
nhau đã buộc chúng tôi phải đưa những “con bò lý thuyết
thiêng liêng” của mình ra đồng cỏ và giết thịt chúng. Chúng
tôi tự gọi mình là “những người cải đạo bất đắc dĩ” bởi vì
chúng tôi quá do dự khi từ bỏ những học thuyết, niềm tin và
những gì chúng tôi học được trong khóa đào tạo chuyên môn
về lý do tại sao mọi người lại trở thành tội phạm. Khi chúng
tôi không còn coi tội phạm là nạn nhân, một không gian mới
đã mở ra. Khi ấy, chúng tôi không còn bị ràng buộc bởi những
câu hỏi “tại sao và có thể tập trung tìm hiểu sâu hơn về cách
thức tư duy của tội phạm.
Chúng tôi áp dụng cách tiếp cận “vết xước trên bàn”. Bạn
không cần phải biết tại sao chiếc bàn bị xước. Thay vì lo lắng
về việc nó bị hư hại như thế nào, bạn cần kiểm tra chiếc bàn để
xác định nó được làm bằng gì và đánh giá tình trạng xem có
thể sửa chữa được hay không. Tên tội phạm đã đưa ra quyết
định bằng cách nào? Kỳ vọng của anh ta về bản thân và những
người khác là gì? Làm thế nào mà anh ta có thể cầu nguyện
trong nhà thờ lúc 10 giờ nhưng hai giờ sau đó lại tiến hành
khủng bố một chủ nhà khi đột nhập? Hành vi là sản phẩm của
tư duy. Và sau nhiều nỗ lực, chúng tôi đã đặt nền móng cho
phương pháp giúp người phạm tội thay đổi suy nghĩ và hành vi
bằng cách tập trung vào các phương thức tư duy thay vì
nguyên nhân.
Việc tìm kiếm nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội
chưa có hồi kết và phần nào có thể so sánh với nỗ lực của các
nhà khoa học đang tìm hiểu nguyên nhân của bệnh ung thư.
Nếu chúng ta phát hiện ra nguyên nhân dẫn đến thất bại và
hoảng sợ, thì bất kể tai họa là gì cũng đều có thể loại trừ.
Không giống như ung thư, chúng ta không nên kỳ vọng có thể
tìm ra cách chữa trị ngay cả khi xác định được “nguyên nhân
gốc rễ” của tội phạm. Thay vì vạch ra các chiến lược hiệu quả
để đối phó với tội phạm, việc tập trung tìm kiếm nguyên nhân
đã làm xao nhãng việc tìm hiểu những kẻ phạm tội thực sự là
người như thế nào.
Một quan điểm đã tồn tại trong hơn một thế kỷ qua cho
rằng tội phạm là nạn nhân của các yếu tố xã hội học, tâm lý
học hoặc sinh học mà họ gần như không thể hoặc không kiểm
soát được. Một số nhà xã hội học cho rằng, tội phạm là một sự
phản ứng có thể lý giải nhằm thích nghi và thậm chí là bình
thường trước hoàn cảnh nghèo đói khắc nghiệt đã tước đi cơ
hội và hy vọng của con người. Họ cũng chỉ ra cuộc sống căng
thẳng và đầy cạnh tranh ở vùng ngoại ô cũng góp phần tạo nên
tội phạm. Một số người quy kết tội phạm là do những giá trị
trong xã hội bị đặt nhầm chỗ khiến công dân xa lánh cộng
đồng, nơi làm việc và chính quyền. Các nhà tâm lý học nhấn
mạnh vai trò của trải nghiệm ban đầu trong gia đình và chỉ ra
những khiếm khuyết của cha mẹ là nguyên nhân dẫn đến hành
vi phạm tội. Giả thuyết này được đưa ra vào thế kỷ 19 và cho
rằng tội phạm mắc chứng “rối loạn nhân cách chống đối xã
hội” từ khi sinh ra. Hiện tại ở thế kỷ 21, các nhà khoa học
đang quay trở lại với ý tưởng đó khi các phát hiện nghiên cứu
chỉ ra cơ sở sinh học cho hành vi phạm tội.
Trong vở nhạc kịch West Side Story (tạm dịch: Câu
chuyện phía Tây) năm 1957, Stephen Sondheim đã nhại lại
những suy nghĩ hiện tại về nguyên nhân trẻ vị thành niên
phạm pháp trong bài hát Gee, Officer Krupke. Trong bài hát
đó, những kẻ phạm pháp đã bị hiểu lầm chứ không phải là
không có gì tốt đẹp. Họ mắc phải một “căn bệnh xã hội” và xã
hội đã “chơi [cho] một vố đau đớn”. Lời bài hát này thể hiện
quan điểm rằng tội ác của họ là triệu chứng của bệnh lý tâm
thần sâu sắc hoặc thiếu thốn điều kiện kinh tế xã hội. Trong
một bài báo năm 1964, nhà tâm lý học nổi tiếng O. Hobart
Moorer đã đặt câu hỏi liệu phân tâm học có thực sự khuyến
khích “bệnh xã hội” (hiện nay chính thức được gọi là “rối loạn
nhân cách chống xã hội”) bằng cách đưa ra thêm lý do cho tội
phạm hay không[2]. Ông đưa ra vấn đề này trong một bài ca
dân gian về tâm thần như sau:
Lúc ba tuổi, tôi không chắc về những cảm nhận với anh
em của mình
Và thế là tự nhiên tôi đầu độc tất cả những người yêu
thương tôi
Và bây giờ tôi cảm thấy hạnh phúc khi học được bài học
từ điều đó:
Rằng mọi thứ tôi làm sai đều là lỗi của người khác.
Hoạt động tìm hiểu nguyên nhân của tội phạm bị châm
biếm trong những năm 1950 và 1960 vẫn còn tồn tại cho đến
ngày nay. Các tiêu đề mới xuất hiện trên các tạp chí hay các
phương tiện truyền thông mỗi ngày đều chỉ ra một nguyên
nhân khác bị cáo buộc gây ra tội phạm:
* Thanh niên bất mãn đồng cảm với Kẻ bỉ ổi?[3] Hội
chứng nô lệ gây ra trong Boy's Death[4] Trò chơi bạo lực gây
ra Bạo lực[5]
* Sự liên quan giữa tức giận bộc phát với tổn thương trên
cơ thể[6]
+ Rối loạn giấc ngủ có thể tạo tiền đề dẫn đến hung
hăng[7]
* Sự liên quan giữa soda với các vấn đề hành vi ở trẻ
nhỏ?[8]
* Tội phạm đang già hóa ở Nhật Bản… Cô đơn chính là
thủ phạm[9]
+ Kẹo gây ra bạo lực khi trưởng thành[10]
* Tội phạm bạo lực và cholesterol[11]
Nhiệm vụ xác định nguyên nhân của tội phạm trong môi
trường vẫn còn đó. Tờ St. Louis PostDispatch số ra ngày 10
tháng 6 năm 2008, viết rằng, “Tội phạm có thể đã giảm trong
những năm 1990 vì chì đã được loại bỏ khỏi xăng 20 năm
trước đó”.[12] Trên tờ USA Today, một bài báo số ra ngày 17
tháng 7 năm 2009 có tiêu đề “10 tên em bé xấu nhất”.[13] Và
một bài báo trên Science Neos ngày 2 tháng 8 năm 2013 đã
trích dẫn những thay đổi trong biến đổi khí hậu có liên quan
chặt chẽ đến các hành vi bạo lực trên toàn cầu.[14]
Mặc dù có vô số khía cạnh thuộc về môi trường được xác
định khiến con người có hành vi phạm tội, nhưng một trong
những khía cạnh tiếp tục thu hú...
 





