BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Viếng Lăng Bác - Bài giảng

    Thế thứ các triều vua Việt Nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 18h:01' 07-04-2024
    Dung lượng: 588.8 KB
    Số lượt tải: 5
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Thế Thứ Các Triều Vua Việt Nam
    Nguyễn Khắc Thuần
    Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động

    Nguồn: http://vnthuquan.net

    Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.


    https://thuviensach.vn

    Mục lục
    Lời nói đầu


    Lời đề tựa của giáo sư Trần Văn Giàu


    Thư ngỏ của tác giả viết nhân dịp sách được tái bản


    Chương I


    Chương 2


    Chương 3


    Chương 4


    Chương 5
    Chương 6


    Chương 7


    Chương 8


    Chương 9


    Chương 10


    Chương 11


    https://thuviensach.vn

    Nguyễn Khắc Thuần
    Thế Thứ Các Triều Vua Việt Nam
    Lời nói đầu
    Thư ngỏ của tác giả viết nhân dịp sách được tái bản
    Bạn đọc yêu quý!

    Thế là hơn một năm, kể từ ngày Thế thứ các triều vua Việt Nam may mắn được
    có mặt, dẫu chỉ là một vị trí hết sức khiêm nhượng trong tủ sách tra cứu của bạn.
    Với tác giả, đó là một hạnh phúc lớn. Và cũng tròn một năm qua, tác giả đã hân
    hạnh nhận được hàng loạt những bức thư của bạn đọc từ bốn phương gởi về.
    Bên cạnh những lời khen, lời động viên khích lệ là những ý kiến đóng góp rất
    chân tình. Tác giả đã nghiêm cẩn đọc và trả lời bằng thư riêng cho từng độc giả
    – những người vì giàu lòng ngưỡng mộ và tôn kính sử sách của cha ông mà ân
    cần viết thư trao đổi với tâm thành ngời sáng là: Làm sao để Thế thứ các triều
    vua Việt Nam tránh được những khiếm khuyết. Nay, nhân dịp sách được tái bản,
    tác giả xin được một lần nữa bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với tất cả
    bạn đọc gần xa.

    Bạn đọc yêu quý!

    Tác giả đã thận trọng suy xét từng lời của bạn đọc trước khi sửa chữa và bổ
    sung cuốn sách nhỏ này. Phần lớn những góp ý của bạn đọc đều đã được tác giả
    tiếp thu để sửa chữa. Sở dĩ nói là phần lớn mà không nói là tất cả, bởi lẽ cũng có
    những ý kiến tuy rất đúng, nhưng không thể bổ sung cho sách, vì như thế, sách
    sẽ quá dày, khó lòng đến được với lực lượng bạn đọc đông đảo là học sinh và
    sinh viên.

    Tác giả đã cố gắng sửa chữa và bổ sung. song. điều ấy không có nghĩa là sách
    đã tránh được hết mọi khiếm khuyết của nó. xin bạn đọc gần xa hãy ân cần như
    đã từng ân cần chỉ bảo cho tác giả khi sách vừa được xuất bản lần đầu

    Lời cuối cùng, tác giả xin được chân thành cảm ơn Nhà xuất bản Giáo dục và
    những người làm công tác phát hành – chiếc cầu nối tin cậy và rất đáng yêu giữa
    tác giả và bạn đoc.


    https://thuviensach.vn

    Thành phố Hồ Chí Minh 1995

    NGUYỄN KHẮC THUẦN

    https://thuviensach.vn

    Nguyễn Khắc Thuần
    Thế Thứ Các Triều Vua Việt Nam
    Lời đề tựa của giáo sư Trần Văn Giàu
    Một dân tộc mà đời đời tồn tại và phát triển, một dân tộc mà nở mày nở mặt
    được với các dân tộc khác trên thế giới, trước hết là nhờ cái quốc học của mình.
    Quốc học của một dân tộc, dầu nhỏ dầu lớn, đều luôn luôn gồm có lịch sử, văn
    chương, tư tưởng (tín ngưỡng) của riêng mình. Ba bộ phận ấy của quốc học như
    cái thế chân vạc, đỡ chiếc đỉnh mãi mãi không dứt khói hương. Chúng ta có thể
    tự hào mà nói rằng, những sáng tác mang tính văn học đầu tiên của người Việt
    Nam là sáng tác về đề tài lịch sử, thấm nhuần tư tưởng yêu nước thương nòi.
    Đọc các truyền thuyết, thần thoại, cổ tích thì rõ. Và xưa nay, ông bà ta luôn luôn
    cho rằng, để giáo dục các thế hệ con cháu, không gì hơn là dạy lịch sử: lịch sử
    dân tộc, lịch sử quê hương, lịch sử gia đình, lịch sử các vị anh hùng, nam và nữ.

    Nay Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành thêm một quyển sử, như quyển sử ta đang
    có trong tay, thì tôi hoan nghênh lắm. Sách này tôi đặc biệt hoan nghênh, chính
    vì nó đi vào một đề tài lịch sử không thể khô khan hơn được nữa! Thế thứ các
    triều vua Việt Nam chẳng phải là một đề tài khô khan sao? Khô khan quá đi
    chứ. Nhưng lại cần thiết biết mấy. Chỉ tiếc rằng mãi đến hôm nay mới có.

    Trước kia ở thời phong kiến, ở nước Nam cũng như ở nước Bắc, các sử quan có
    lệ chép sử theo đời vua, vua này kế vua kia, đời này sang đời nọ. Sau này, vào
    thời cận và hiện đại, sử không còn là sử riêng của các vua chúa và hoàng hậu
    nữa. Khoa học lịch sử ngay trên đất nước Việt Nam, từ mấy mươi năm nay, đã
    phát triển đến một trình độ có thể tự hào. Nhưng cũng chính vì nó phát triển
    mạnh trong nghiên cứu cũng như trong giáo dục, cho nên, rất cần đến dăm ba
    quyển sử mang tính chất công cụ. Quyển Thế thứ các triều vua Việt Nam của
    Nguyễn Khắc Thuần là một quyển sách công cụ cần thiết đó.

    Bất kì ai cầm bút đứng giảng đều cần loại sách công cụ này để tránh vô số cái
    sai bất ngờ trong nghề viết và nói. Nguyễn Khắc Thuần có lần tâm sự với tôi
    rằng:

    - Nếu lấy việc của nhà Đinh đem gán cho nhà Trần, lấy việc của nhà Lý đem
    gán cho nhà Hồ, hoặc giả là lấy việc của nhà Lê đem gán cho nhà Nguyễn… thì
    dẫu là vô tình hay cố ý, đều không khỏi mang tội với tổ tiên.


    https://thuviensach.vn

    Có lẽ tổ tiên không nỡ bắt tội con cháu gì cả, nhưng mà con cháu phải biết trân
    trọng lịch sử dân tộc mình. Sử mênh mông như rừng, biển, trí nhớ của một nhà
    giáo, nhà văn làm sao có thể bảo đảm là luôn luôn đặt mọi sự kiện vào đúng với
    khung thời gian lịch sử của nó được? Mà đặt sai khung thời gian thì còn hiểu và
    nói được gì? Trí nhớ của ai cũng có hạn. Khi nghi ngờ, khi chưa chắc, thì ta đem
    sách công cụ ra mà tra cứu. Quyển Thế thứ các triều vua Việt Nam là một “bộ
    nhớ” không tốn điện của mọi người. Nó khô khan thật, mà nhà giáo, nhà văn,
    người làm công tác văn hoá nào cũng cần có. Tôi chợt nghĩ rằng, nếu Nhà xuất
    bản Giáo dục cho ra đời sớm mấy quyển sách công cụ nữa của ngành lịch sử thì
    hay biết mấy, ví dụ như một quyển họa đồ cương vực Việt Nam qua các thời đại,
    hoặc như quyển tuyển tập các bài thi nổi tiếng của sĩ tử thời Lê, thời Nguyễn 
    v.v…

    Tôi rất hoan nghênh nỗ lực của Nguyễn Khắc Thuần, vì đó là sự đáp ứng khá
    kịp thời cho một nhu cầu phổ biến. Tôi càng hoan nghênh Nhà xuất bản Giáo
    dục, lần này cũng như nhiều lần khác, đã đặt lợi ích văn hoá dân tộc lên trên sự
    tính toán vốn có của thị trường sách vở.


    Thành phố Hồ Chí Minh.

    tháng 7-1993

    GS. TRẦN VĂN GIÀU

     

    https://thuviensach.vn

    Nguyễn Khắc Thuần
    Thế Thứ Các Triều Vua Việt Nam
    Thư ngỏ của tác giả viết nhân dịp sách được tái bản
    Năm Nhâm Thân, niên hiệu Thiệu Long thứ 15 (1272), quan giữ chức Quốc sử
    viện giám tu, tước Nhân Uyên Hầu là bảng nhãn Lê Văn Hưu (1230-1322) đã
    hoàn tất bộ chính sử đầu tiên của nước nhà là Đại Việt sử kí gồm tất cả 30
    quyển. Sách dâng lên, vua Trần Thánh Tông (1258-1278) xuống chiếu đặc biệt
    khen ngợi. Đại Việt sử kí nay đã thất truyền, nhưng ở thời Lê Sơ, sách vẫn còn
    và được Ngô Sĩ Liên cùng các sử gia xuất chúng đương thời đánh giá rất cao.
    Bởi được sự trân trọng và đánh giá cao như vậy, Đại Việt sử kí đã hoá thân, trở
    thành một bộ phận của Đại Việt sử kí toàn thư.

    Từ ấy, hơn bảy thế kỉ đã trôi qua…

    Cùng với sự tiến bộ không ngừng của khoa học và cùng với sự nghiêm cẩn tích
    luỹ kinh nghiệm trong nhiều đời, lịch sử sử học Việt Nam đã liên tục tiến được
    những bước rất xa. Hàng ngàn công trình lớn nhỏ đã được biên soạn, hàng loạt
    các dòng phát triển khác nhau của lịch sử đã được tập trung nghiên cứu… Ngày
    nay, bên cạnh những bộ chính sử của quốc gia, chúng ta còn có lịch sử của các
    địa phương, lịch sử của các ngành, lịch sử của các thành phần dân tộc… và cả
    lịch sử sử học nữa. Sự phát triển mau chóng và mạnh mẽ đó đã từng bước đáp
    ứng nhu cầu củng cố và nâng cao hiểu biết lịch sử của mỗi chúng ta.

    Thói thường, trước bất cứ một vấn đề hay một sự kiện nào của lịch sử, ai ai
    cũng có quyền đòi hỏi được cung cấp những thông tin thiết yếu như: ở đâu? lúc
    nào? sự thể ra sao? Trả lời ở đâu, cũng có nghĩa là nói đến không gian của sự
    kiện và vấn đề. Trả lời lúc nào, cũng có nghĩa là nói đến thời gian của sự kiện và
    vấn đề. Trả lời sự thể ra sao, cũng có nghĩa là nói đến diễn biến cũng như nội
    dung căn bản của sự kiện và vấn đề. Trong ba thông tin thiết yếu nói trên, thông
    tin thứ hai thoạt trông ngỡ như rất đơn giản mà thực thì lại rất phức tạp.

    Chúng ta đã quá quen với cách tính thời gian theo lịch: âm lịch và dương lịch,
    phật lịch hoặc giả là lịch riêng của một số thành phần dân tộc ít người khác.
    Nhưng, trong quá khứ, cha ông ta lại quen xác định thời điểm của các sự kiện và
    vấn đề theo thế thứ và niên hiệu của các đời vua chính thống. Không ai viết là
    năm 1010 mà lại viết là đời Lý Thái Tổ, năm Thuận Thiên nguyên niên, cũng

    https://thuviensach.vn

    không ai viết là năm 1472 mà lại viết là đời Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ
    3 v.v… Tất nhiên, phép viết sử theo lối biên niên cũng bắt buộc sử gia phải kê ra
    đầy đủ cả tên năm theo can, chi của âm lịch nữa, nhưng tên năm theo can, chi
    của âm lịch chỉ có 60 tên riêng biệt mà lịch sử thì lại đằng đẵng hàng ngàn năm,
    cho nên, sự trùng lặp của tên năm theo can, chi của âm lịch rất dễ gây ra sự
    nhầm lẫn. Nếu không nắm được thế thứ trước sau của các triều vua, thì dù có
    nắm được tên năm theo can, chi của âm lịch, chúng ta cũng không dễ gì xác
    định thời gian diễn ra của các sự kiện và vấn đề. Từ thực tế này, một vấn đề
    quan trọng khác đã nảy sinh, đó là làm sao để có thể tra cứu một cách dễ dàng
    và nhanh chóng về thế thứ cũng như niên hiệu cụ thể của các triều vua Việt
    Nam?

    Công bằng mà xét, cách đây hơn hai chục năm, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
    cũng đã có cho ra mắt cuốn Niên biểu Việt Nam của tập thể nhóm nghiên cứu
    Văn Vật (Vụ Bảo tồn – Bảo tàng, bộ Văn hoá), do nhà nghiên cứu Lê Thước
    chủ biên. Sách ấy được bạn đọc nhiệt liệt hoan nghênh, và do đó, đã được tái
    bản vào năm 1970. Song, cũng công bằng mà xét Niên biểu Việt Nam có hai
    nhược điểm khá rõ. Một là xuất bản đã lâu, nay không phải ai cũng còn giữ
    được, và hai là phần niên biểu là phần chính thì viết quá sơ sài, trong khi đó,
    phần chuyển đổi âm dương lịch là phần phụ thì lại chiếm đến hơn hai phần ba số
    trang của sách. Đọc sách mà chỉ cốt tìm hạn chế của sách là điều tối kị, nhưng
    viết sách mà không thấy hạn chế của người đi trước để cố gắng tìm cách khắc
    phục cũng là điều không hay. Xuất phát từ nhận thức như vậy, chúng tôi mạnh
    dạn biên soạn cuốn sách này.

    Đúng như tên gọi của nó, sách này chủ yếu là giới thiệu thế thứ và niên hiệu
    trước sau của các triều vua Việt Nam. Mỗi một triều đại, chúng tôi lần lượt cung
    cấp cho bạn đọc các thông tin chính sau đây:

    - Họ và tên của các vua.

    - Thân sinh và thân mẫu của các vua.

    - Ngày, tháng, năm sinh của các vua.

    - Ngày, tháng, năm được lập làm thái tử (nếu có) và ngày, tháng, năm lên ngôi
    của các vua.

    - Ngày, tháng, năm làm thượng hoàng và tổng cộng thời gian làm thượng hoàng
    (nếu có).


    https://thuviensach.vn

    - Niên hiệu và thời gian sử dụng cụ thể của niên hiệu đó.

    - Tổng cộng thời gian ở ngôi.
    - Ngày, tháng, năm mất và tuổi thọ của từng vua.

    - v.v…

    Có một thực tế không thể phủ nhận trong lịch sử là không phải lúc nào ở nước ta
    cũng chỉ có một triều vua duy nhất, và trong nhiều thế kỉ, bên cạnh vua, triều
    đình còn có cả chúa nữa. Sách này không làm nhiệm vụ đánh giá mà chỉ làm
    nhiệm vụ thống kê. Bởi vậy, vua chúa các đời dẫu yếu hay mạnh, quản lí dân cư
    và đất đai ít hay nhiều, vị trí lịch sử thấp hay cao… chúng tôi đều cố gắng giới
    thiệu tất cả những gì liên quan đến thế thứ của họ mà chúng tôi đã thu thập
    được.

    Tất nhiên, tất cả mọi thông tin đều được khai thác trực tiếp từ nguyên bản chữ
    Hán của các bộ sử cũ. Chúng tôi cố gắng làm như vậy, chẳng qua cũng chỉ vì
    muốn tránh tình trạng “tam sao thất bản” hiện đang khá phổ biến mà thôi.

    Thư tịch cổ của ta là nguồn tư liệu chủ yếu nhất, nhưng cuốn Thế thứ các triều
    vua Việt Nam này không phải chỉ được viết trên cơ sở dịch và hệt thống những
    ghi chép trong thư tịch cổ của ta. Ở khá nhiều trường hợp, thư tịch cổ của ta
    cũng đã tự bộc lộ sự thiếu nhất quán, nhất là phần chép lịch sử từ thế kỉ thứ X
    trở về trước.

    Xưa nay, các sách thường chỉ chủ yếu là giới thiệu thời gian trị vì của các đời
    vua. Chúng tôi cũng làm như vậy. Nhưng để bạn đọc dễ hình dung hơn, chúng
    tôi cung cấp thêm hai dạng thông tin khác, đó là phạm vi lãnh thổ và dân số của
    đất nước qua các đời. Những thông tin này nằm tản mạn trong sử cũ, việc thống
    kê rất khó khăn. Phần giới thiệu thêm của chúng tôi có thể là không cần thiết đối
    với tất cả bạn đọc, nhưng thiết nghĩ là với những bạn đọc ít có thời gian để đi tra
    cứu ở các thư viện, ắt cũng có chút ích lợi nhất định nào đó. Cuối sách, chúng
    tôi lập bảng hướng dẫn cách chuyển đổi âm dương lịch, và bảng tra niên hiệu
    các đời vua (có kèm chữ Hán) sắp xếp theo vần chữ cái của tiếng Việt.

    Quyển sách nhỏ này được biên soạn ngay trong quá trình biên soạn bộ Việt sử
    giai thoại (8 tập) và một số công trình khác. Nếu không có sự động viên chân
    tình và mạnh mẽ của Nhà xuất bản Giáo dục và sự cổ vũ của các bậc đồng
    nghiệp, chúng tôi khó có thể hoàn thành công việc đúng như dự kiến ban đầu.
    Nhân dịp sách đến được với bạn đọc gần xa, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn

    https://thuviensach.vn

    chân thành của mình đối với Nhà xuất bản Giáo dục và với các bậc đồng nghiệp,
    đặc biệt là hai nhà sử học lão thành: Giáo sư TRẦN VĂN GIÀU và Giáo sư LÊ
    VĂN SÁU. Chúng tôi cũng hi vọng là sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của
    bạn đọc, để khi có dịp tái bản, chúng tôi sẽ sửa chữa, làm cho cuốn sách này
    ngày một tốt hơn.


    Thành phố Hồ Chí Minh

    ngày 18-4-l993
    NGUYỄN KHẮC THUẦN


    https://thuviensach.vn

    Nguyễn Khắc Thuần
    Thế Thứ Các Triều Vua Việt Nam
    Chương I
    THẾ THỨ CÁC TRIỀU VUA

    THỜI SƠ SỬ Ở VIỆT NAM
     

    I – VÀI NIÊN ĐẠI CẦN BIẾT VỀ TIỀN SỬ Ở VIỆT NAM

    Trên đại thể, chúng ta có thể tạm chia lịch sử dân tộc ta thành mấy thời đại lớn
    sau đây:

    - Thời đại trước khi có nhà nước  (Tiền sử).

    - Thời đại Hùng Vương – An Dương Vương (Sơ sử).

    - Thời đại bị phong kiến Trung Quốc đô hộ (Bắc thuộc).

    - Thời đại độc lập và tự chủ.

    - Thời đại bị thực dân Pháp thống trị (Pháp thuộc).

    - Thời đại hiện đại (từ Cách mạng Tháng Tám đến nay).

    Chương này nói về thế thứ các triều vua thời sơ sử, nhưng để dễ hình dung về
    khung thời gian của thời sơ sử, chúng tôi cung cấp thêm vài niên đại cần biết về
    tiền sử ở Việt Nam như sau:

    1 - Cách đây khoảng 30 vạn năm: Người - vượn đá có mặt trên lãnh thổ nước
    ta. Họ để lại dấu tích ở các hang Thẩm Hai và Thẩm Khuyên (Lạng Sơn).

    2 - Thời kì đồ đá ở Việt Nam: Mở đầu cách nay khoảng 30 vạn năm và kết
    thúc cách nay khoảng 4 ngàn năm với các nền văn hoá tiêu biểu sau đây:

    - Đồ đá cũ: Chấm dứt cách nay khoảng trên một vạn năm. Hai nền văn hoá đồ
    đá cũ nổi bật nhất là Núi Đọ (Thanh Hoá) và Sơn Vi (Phú Thọ).

    - Đồ đá giữa: Bao hàm toàn bộ lịch sử phát triển của nền văn hoá Hoà Bình, mở
    đầu cách nay khoảng trên một vạn năm và kết thúc cách nay khoảng gần một
    vạn năm. Cũng có người gọi văn hoá Hoà Bình là văn hoá đồ đá mới trước gốm.

    - Đồ đá mới: Mở đầu cách nay khoảng gần một vạn năm và kết thúc cách nay
    khoảng bốn ngàn năm, với các nền văn hoá quan trọng sau đây:

    • Văn hoá Bắc Sơn (Lạng Sơn): sơ kì.


    https://thuviensach.vn

    • Văn hoá Quỳnh Văn (Nghệ An): trung kì.

    • Văn hoá Hạ Long (Quảng Ninh): hậu kì.

    • Văn hoá Phùng Nguyên (Phú Thọ): đỉnh cao tột cùng của thời đại đồ đá và là
    sơ kì của thời dại đồ đồng.

    3 - Thời kì đồ đồng ở Việt Nam

    - Sơ kì: Văn hoá Phùng Nguyên (Phú Thọ), cách nay khoảng 4 ngàn năm.

    - Trung kì: Văn hoá Đồng Đậu (Phú Thọ), cách nay khoảng 3 ngàn năm.

    - Hậu kì: Văn hoá Gò Mun (Phú Thọ), cách nay gần 3 ngàn năm.

    Đỉnh cao tột cùng của thời kì đồ đồng ở Việt Nam là văn hoá Đông Sơn (Thanh
    Hoá), có niên đại cách nay khoảng hơn 2500 năm.Từ khi bước vào thời kì đồ
    đồng, xã hội nguyên thuỷ ở nước ta chuyển hoá ngày một mạnh mẽ, để rồi đến
    văn hoá Đông Sơn, nhà nước đã xuất hiện. Như vậy, có hai vấn đề quan trọng
    cần lưu ý: một là tiền sử Việt Nam bao hàm toàn bộ thời kì đồ đá cộng với toàn
    bộ thời kì đồ đồng; hai là cách đây bốn ngàn năm, với sự có mặt của đồ đồng, xã
    hội nguyên thuỷ ở nước ta đã chuyển hoá ngày càng mạnh mẽ, nhưng tiền sử ở
    nước ta chỉ thực sự cáo chung từ văn hoá Đông Sơn, cách nay khoảng 2500 năm
    mà thôi. Đây là điểm khác biệt căn bản nhất về niên đại, giữa ghi chép của sử cũ
    (trừ bộ Đại Việt sử lược) với kết quả nghiên cứu của giới sử học hiện nay.

    Nói khác hơn, sơ sử ở Việt Nam chỉ thực sự mở đầu từ văn hoá Đông Sn, cách
    ngày nay khoảng trên dưới 2500 năm mà thôi.


    II- THẾ THỨ THỜI HÙNG VƯƠNG

    1 - Lãnh thổ nước Văn Lang của các vua Hùng

    Nước Văn Lang của các vua Hùng là một sự thật của lịch sử Việt Nam. Sách
    Đại Việt sử kí toàn thư là bộ chính sử đầu tiên của nước ta chép về Văn Lang, và
    theo đó thì nước Văn Lang “Đông giáp Nam Hải, tây giáp Ba Thục, bắc giáp Hồ
    Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn” (1).

    Nam Hải tức biển Đông. Nước Ba Thục là một vương quốc cổ, có lãnh thổ nay
    là vùng tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc). Hồ Động Đình là một thắng cảnh nổi
    tiếng ở tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc). Và, cùng với Chăm-pa, Chiêm Thành, Hoàn
    Vương… Hồ Tôn là một trong những tên gọi quốc gia của người Chăm. Quốc

    https://thuviensach.vn

    gia này đại để, có lãnh thổ tương ứng với vùng từ Quảng Bình đến Bình Thuận
    của nước ta ngày nay.

    Giang sơn rộng lớn nói trên có lẽ không phải là của riêng Văn Lang mà là của
    chung các tộc người thuộc Bách Việt. Điều đáng lưu ý là sử cũ vừa phác họa
    một biên cương bao la cho Văn Lang, lại vừa thống kê được  15 bộ (2) mà địa
    chỉ của 15 bộ đó lại nằm rải rác trên vùng đất tương ứng với lãnh thổ của nước
    ta từ tỉnh Thừa Thiên – Huế trở ra và lan sang một ít ở hai tỉnh của Trung Quốc
    là Quảng Đông, Quảng Tây.

    Chúng ta không có tài liệu đáng tin cậy nào về dân số của nước Văn Lang,
    nhưng dựa trên cơ sở thống kê hộ tịch của nhà Hán thống trị sau này và căn cứ
    vào một số cơ sở khác, các nhà nghiên cứu đoán định rằng, dân số nước ta thời
    Văn Lang áng chừng một triệu người.

    2 - Thế thứ thời Hùng Vương

    a – Hùng Vương là gì?

    Các nhà nghiên cứu hiện nay cho rằng tên gọi Hùng Vương gồm hai thành tố
    khác nhau. Thành tố thứ nhất là Hùng. Thành tố này có thể là do phiên âm Hán
    Việt một từ Việt cổ nào đó, có ngữ âm và ngữ nghĩa gần với chữ Kun, Khun hay
    Khuntz của đồng bào các dân tộc anh em như: Mường, Thái và Mun-đa. Trong
    đồng bào các dân tộc anh em nói trên, những từ như Kun, Khun, Khuntz đều có
    nghĩa là trưởng, thủ lĩnh, người đứng đầu. Thành tố thứ hai của Hùng Vương là
    Vương. Thành tố này hoàn toàn do người chép sử đời sau thêm vào, cốt để chỉ
    rằng, thủ lĩnh hay người đứng đầu (Hùng) là của cả nước. Người đứng đầu quốc
    gia thì không đế cũng vương mà thôi.

    Tóm lại, Hùng Vương là tên của một chức danh, hình thành do phiên ám một từ
    Việt cổ nào đó.

    b - Có hay không có 18 đời Hùng Vương?

    Các bộ sử cũ đều chép rằng, mở đầu lịch sử nước ta là họ Hồng Bàng. Mở đầu
    họ Hồng Bàng là Kinh Dương Vương (tức Lộc Tục), làm vua nước Xích Quỷ.
    Kinh Dương Vương lấy con gái của Động Đình Quân là Thần Long, sinh ra Lạc
    Long Quân (tức Sùng Lãm). Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, sinh ra 100 người con.
    Sau, con trưởng của Lạc Long Quân được phong làm Hùng Vương Hùng triều
    ngọc phả cho hay họ Hồng Bàng truyền được 18 đời, gồm:

    1 - Hùng Dương (tức Lộc Tục).


    https://thuviensach.vn

    2 - Hùng Hiền (tức Sùng Lãm).

    3 - Hùng Lân.

    4 - Hùng Việp.

    5 - Hùng Hy.

    6 - Hùng Huy.

    7 - Hùng Chiêu.

    8 - Hùng Vỹ.

    9 - Hùng Định.

    10 - Hùng Hy (3).

    11 - Hùng Trinh.

    12 - Hùng Võ.

    13 - Hùng Việt.

    14 - Hùng Anh.

    15 - Hùng Triều.

    16 - Hùng Tạo.

    17 - Hùng Nghị.

    18 - Hùng Duệ.

    18 đời nối nhau trị vì 2622 năm (từ năm 2879 trước công nguyên đến năm 258
    trước công nguyên). Đó là những con số rất khó thuyết phục người đọc. Nhiều
    nhà nghiên cứu cho rằng, với người Việt, số 9 là số thiêng, các bội số của số 9
    (như 18, 36, 72, 99 v.v… ) cũng là những số thiêng tương tự như vậy. Cho nên,
    con số 18 đời Hùng Vương mà Hùng triều ngọc phả nói tới cũng chỉ là con số
    ước lệ, biểu tượng của một ý niệm thiêng liêng nào đó.

    Trái với ghi chép của chính sử cũ và các tài liệu dã sử khác, các nhà nghiên cứu
    cho rằng, nước Văn Lang của các vua Hùng chỉ tồn tại trong khoảng 300 năm,
    và niên đại tan rã là khoảng năm 208 trước công nguyên chứ không phải là năm
    258 trước công nguyên. Với 300 năm, con số 18 đời vua Hùng là con số dễ chấp
    nhận. Tuy nhiên, cũng không vì thế mà khẳng định rằng nước Văn Lang thực sự
    có đúng 18 đời vua Hùng nối tiếp nhau trị vì.

    Tóm lại, nước Văn Lang là một thực thể có thật của lịch sử nước ta, nhưng Văn
    Lang chỉ tồn tại trước sau trong khoảng ba trăm năm và con số 18 đời Hùng
    Vương cho đến nay vẫn là con số của huyền sử.


    https://thuviensach.vn

    III - THỜI AN DƯƠNG VƯƠNG

    1 - Nước Âu Lạc của An Dương Vương

    Trong sử cũ, nước Âu Lạc có niên đại tồn tại từ năm 258 trước công nguyên đến
    năm 208 trước công nguyên, cộng là 50 năm. Lập bảng đối chiếu văn bản của
    các bộ sử cũ, các nhà sử học hiện nay cho rằng, cả niên đại mở đầu lẫn niên đại
    kết thúc nói trên đều không đúng. Kết quả nghiên cứu mới nhất cho thấy nước
    Âu Lạc của An Dương Vương chỉ tồn tại trong khoảng 30 năm, từ năm 208
    trước công nguyên đến năm 179 trước công nguyên.

    Cũng trong sử cũ, nhân vật An Dương Vương bị coi là “ngoại nhập” (4). Kết
    quả nghiên cứu hiện nay cho thấy Thục Phán An Dương Vương không phải là
    người có nguồn gốc ngoại lai mà là người có nguồn gốc bản địa. Tuy nhiên, bản
    quán cụ thể của An Dương Vương hiện nay vẫn chưa xác định được chính xác.
    Nhiều người đoán định rằng rất có thể Thục Phán sinh trưởng ở vùng Việt Bắc
    ngày nay.

    Lãnh thổ của Âu Lạc cũng chính là lãnh thổ của Văn Lang, khác chăng chỉ là
    nhà nước Âu Lạc giàu năng lực quản lí đất đai và quản lí dân cư hơn nhà nước
    Văn Lang mà thôi.

    Kinh đô của Âu Lạc là Cổ Loa (nay ở ngoại thành Hà Nội). Dấu tích của kinh
    đô Cổ Loa này vẫn còn. (Xem hình).


    https://thuviensach.vn

     
    Hình 1 - Bản đồ Cổ Loa


    https://thuviensach.vn

    2 - Vua của Âu Lạc

    Nước Âu Lạc chỉ có một đời vua, đó là An Dương Vương. Nhà vua sinh năm
    nào không rõ, chỉ biết ông mất vào năm 179 trước công nguyên. Truyền thuyết
    nói ông mất tại Nghệ An. Tục truyền, đền Con Côông (tức con Công) ở Mộ Dạ
    (Nghệ An) chính là đền thờ An Dương Vương.

    An Dương Vương mất vì thất bại trong cuộc chiến đấu chống quân Nam Việt
    xâm lăng.


    ----------------------------------


    Chú thích:

    (1) Ngoại kỉ. quyển 1, tờ 3-a.

    (2) Tên 15 bộ đó theo Đại Việt sử kí toàn thư là: Văn Lang. Giao Chỉ,  Vũ Định,
    Vũ Ninh. Lục Hải. Ninh Hải, Tân Hưng, Phúc Lộc, Chu Diên, Dương Tuyền,
    Cửu Chân, Hoài Hoan, Cửu Đức, Việt Thường và Bình Văn.

    Các sách khác như Đại Việt sử lược, Lĩnh Nam chích quái, Ức Trai dư địa chí
    v.v… cũng chép con  số 15 bộ nhưng tên của các bộ có khác chút ít.

    (3) Tuy cùng đọc là Hy nhưng mặt chữ Hán của hai chữ Hy này hoàn toàn khác
    nhau.

    (4) xem Đại Việt sử kí toàn thư (Ngoại kỉ quyển 1).


    https://thuviensach.vn

    Nguyễn Khắc Thuần
    Thế Thứ Các Triều Vua Việt Nam
    Chương 2
    THẾ THỨ THỜI BẮC THUỘC

    (179 trước công nguyên đến 905)
    I - TIỂU DẪN

    1 - Trước hết, chúng tôi coi năm 179 trước công nguyên là năm mở đầu và năm
    905 là năm kết thúc của thời kì Bắc thuộc. Trong khoảng thời gian hơn một
    ngàn năm đó, cũng có lúc nhân dân ta đã giành được độc lập, nhưng đó chỉ là
    nền độc lập rất yếu ớt và tạm thời, cho nên, toàn bộ khung thời gian tử năm 179
    trước công nguyên đến năm 905 đều thuộc về thời Bắc thuộc.

    2 - Xét chính quyền đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Quốc, chúng tôi
    thấy có sự khác biệt giữa danh nghĩa và thực chất. Về danh nghĩa, mỗi quan đô
    hộ đều nhận phẩm tước của một triều đình cụ thể nào đấy, nhưng về thực chất,
    có những quan đô hộ làm việc cho hai triều đại khác nhau, lại cũng có những
    quan đô hộ âm thầm xây dựng cho mình cả một hệ thống chính quyền cát cứ
    riêng. Nhiều nhà nghiên cứu gọi đó là lực li tâm chính trị. Bởi thực tế đó, bảng
    thế thứ thời Bắc thuộc chỉ có một ý nghĩa rất tương đối mà thôi.

    3 - Về danh mục các quan đô hộ của các triều, sử cũ chép không rõ ràng, đó là
    chưa nói có sự sai biệt lẫn nhau. Có những quan, tiếng là đô hộ toàn cõi nước ta
    nhưng thực thì họ chưa từng tới nước ta. Có những quan, tiếng là đô hô trong
    phạm vi một quận, nhưng thực thì quyền hành của họ gần như toả rộng khắp
    toàn cõi.

    Trước tình hình đó, chúng tôi chép ra đây tất cả những quan đô hộ nào được sử
    cũ nhắc tới, không phân biệt đó là thứ sử hay thái thú.

    4 - Sách này trình bày thế thứ các triều vua Việt Nam, do vậy, phần thế thứ thời
    Bắc thuộc, chúng tôi trình bày lướt qua, cốt để cung cấp một ý niệm ban đầu
    hơn là cung cấp những tư liệu lịch sử đầy đủ về thời Bắc thuộc.

    II - THẾ THỨ CHÍNH QUYỀN ĐÔ HỘ CỦA NAM VIỆT

    Năm 208 trước công nguyên, nhân nhà Tần sụp đổ, một viên tướng trong đạo
    quân nam chinh của nhà Tần là Triệu Đà đã chiếm cứ vùng Lĩnh Nam (Trung

    https://thuviensach.vn

    Quốc) và sau đó lập ra nước Nam Việt. Ngay khi vừa mới lên ngôi, Triệu Đà đã
    nhiều lần xua quân sang tấn công xâm lược Âu Lạc. Nhưng tất cả những cuộc
    tấn công đó đều bị quân đội của An Dương Vương đẩy lùi. Sau, Triệu Đà dùng
    kế hôn nhân, cho con trai là Trọng Thuỷ lấy con gái của An Dương Vương là
    Mỵ Châu và cho Trọng Thuỷ ở rể tại Âu Lạc. Từ đó, An Dương Vương mất
    cảnh giác, rốt cuộc, bị Triệu Đà bất ngờ đánh bại và cướp nước kể từ năm 179
    trước công nguyên.

    1 - TRIỆU VŨ ĐẾ (206 đến 137 trước công nguyên)

    Họ, tên: Triệu Đà.

    - Nguyên quán: Chân Định (Hà Bắc, Trung Quốc).

    - Thống trị nước ta 42 năm (từ năm 179 đến năm 137 trước công nguyên).

    - Mất năm Giáp Thìn (137 trước công nguyên), thọ 120 tuổi (1).

    - Không thấy sử chép việc Triệu Đà đặt niên hiệu.                                         2 TRIỆU VĂN VƯƠNG (136 đến 125 trước công nguyên)

    - Họ, tên: Triệu Hồ (con của Trọng Thuỷ, cháu nội của Triệu Đà).

    - Lên ngôi năm Ất Tị (136 trước công nguyên).

    - Ở ngôi (và thống trị nước ta) 11 năm, từ năm 136 đến năm 125 trước công
    nguyên.

    - Mất năm Bính Thìn (125 trước công nguyên), thọ 51 tuổi.

    - Không thấy sử chép việc Triệu Hồ đặt niên hiệu.                                          3 TRIỆU MINH VƯƠNG (124 đến 113 trước công nguyên)

    - Họ, tên: Triệu Anh Tề (con trưởng của Triệu Hồ).

    - Ở ngôi (và thống trị nước ta) 11 năm, từ năm 124 đến năm 113 trước công
    nguyên.

    - Mất năm Mậu Thìn (113 trước công nguyên).

    - Không thấy sử chép việc Triệu Anh Tề đặt niên hiệu.                                   4 TRIỆU AI VƯƠNG (112 trước công nguyên)

    - Họ, tên: Triệu Hưng (con thứ của Triệu Anh Tề).

    - Ở ngôi (và thống trị nước ta) năm Kỉ Tị (112 trước công nguyên).

    - Chết vì bị quan tể tướng là Lữ Gia giết.                                                        5 THUẬT DƯƠNG VƯƠNG (111 trước công nguyên)

    - Họ, tên: Triệu Kiến Đức (con trưởng của Triệu Anh Tề, anh của Triệu Hưng,

    https://thuviensach.vn

    mẹ là người Việt nhưng không rõ họ tên).

    - Ở ngôi (và thống trị nước ta) năm Canh Ngọ (111 trước công nguyên).

    - Bị nhà Tây Hán đánh đổ năm 111 trước công nguyên, sau sống chết thế nào
    không rõ.

    - Không thấy sử chép việc Triệu Kiến Đức đặt niên hiệu.

    III - THẾ THỨ CHÍNH QUYỀN ĐÔ HỘ THỜI LƯỠNG HÁN

    1 - Vài nét về lãnh thổ và dân cư của nước nhà thời bị nhà Hán đô hộ

    Thời cổ đại, Trung Quốc có đến hai triều Hán khác nhau. Một là Tiền Hán (hay
    Tây Hán), khởi đầu là Lưu Bang (Hán Cao Tổ) tồn tại từ năm 206 trước công
    nguyên đến năm thứ 8 sau công nguyên. Hai là Hậu Hán (hay Đông Hán), khởi
    đầu là Lưu Tú (Hán Quang Võ) tồn tại từ năm thứ 25 đến năm 220 sau công
    nguyên. Giữa hai triều Tây và Đông Hán là triều Tân (từ năm thứ 8 đến năm thứ
    25 sau công nguyên). Do dấu ấn của nhà Tân rất mờ nhạt, các nhà nghiên cứu
    thường gọi chung toàn bộ khoảng thời gian lịch sử từ năm 208 trước côug
    nguyên đến năm 220 sau công nguyên là thời lưỡng Hán.

    Nội thân lịch sử Trung Quốc thời lưỡng Hán có rất nhiều biến cố lớn uhỏ khác
    nhau, nhưng đối với nước ta mưu đồ chung của chủ nghĩa bành trướng đại Hán
    vẫn không hề thay đổi.

    Tây Hán cũng như Đông Hán đều coi nước ta là một bộ phận lãnh thổ của Trung
    Quốc và chia nước ta làm ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Sau đây
    là vài con số về dân cư của nước ta theo thống kê của sử sách Trung Quốc. 

    a - Dân số nước ta thời Tây Hán (theo Tiền Hán thư)


    https://thuviensach.vn

    Tên quận      

    Tổng số hộ      

    Tổng số dân



    Giao Chỉ


    92 440 hộ

    746 237 người


    Cửu Chân


    https://thuviensach.vn

    35 742 hộ

    166 113 người


    Nhật Nam


    15 460 hộ

    69 485 người

    b - Dân số nước ta thời Đông Hán (theo Hậu Hán thư)


    https://thuviensach.vn

    Tên quận


    Tổng số hộ


    Tổng số dân


    Giao Chỉ


    Không giấy phép


    Không giấy phép


    Cửu Chân


    46 513 hộ

    https://thuviensach.vn

    209 894 người


    Nhật Nam       


    18 263 hộ

    100 676 người

    Con số thống kê trên đây tất nhiên là không đầy đủ, bởi lẽ chính quyền đô hộ
    phải tiến hành điều tra dân số trong điều kiện nhân dân ta liên tục nổi dậy đấu
    tranh dưới nhiều hình thức và quy mô khác nhau.

    Có lẽ vào đầu công nguyên, dân số nước ta áng chừng hơn một triệu người.

    2 - Danh sách quan đô hộ của Trung Quốc ở nước ta thời lưỡng Hán

    Ba bộ sử cổ nhất của nước ta có chép danh sách quan đô hộ của Trung Quốc ở
    nước ta là An Nam chí lược (quyển 7), Đại Việt sử lược (quyển 1) và Đại Việt
    sử kí toàn thư (ngoại kỉ, quyển 3, 4 và 5). Trong ba bộ sử nói trên, An Nam chí
    lược là bộ ghi chép nhiều hơn cả. Dưới đây là danh sách tổng hợp từ ba bộ sử
    nói trên.

     
    01 - Thạch Đới

    02 - Chu Chương

    03 - Ngụy Lãng


    https://thuviensach.vn

    04 - Đặng Huân

    05 - Ích Cư Xương

    06 - Đặng Nhượng

    07 - Tích Quang

    08 - Nhâm Diên

    09 - Tô Định

    10 - Mã Viện

    11 - Lý Thiện

    12 - Trương Khôi

    13 - Hồ Cống

    14 - Phàn Diễn

    15 - Trương Kiều

    16 - Chúc Lương

    17 - Chu Xưởng

    18 - Hạ Phương

    19 - Dương Phò

    20 - Ngô Thức

    21 - Ngụy Lãng (?)

    22 - Chúc Điềm

    23 - Cát Kỳ

    24 - Đinh Cung
    25 - Ngu Thiều

    26 - Lưu Tháo

    27 - Chu Ngung

    28 - Chu Tuấn

    29 - Giả Tông

    30 - Chu Thặng

    31 - Kiến Lan

    32 - Lại Tiên

    33 - Hoàng Cái

    34 - Đam Manh

    35 - Chu Phù

    36 - Trương Tân


    https://thuviensach.vn

    37 - Lại Cung

    38 - Ky Vô Hạp

    39 - Chu Trị

    40 - Sỹ Nhiếp

    41 - Sỹ Huy

    42 - Trần Thời

     
    Trong danh sách 42 quan đô hộ nói trên, có Ngụy Lãng thấy chép hai lần, trước
    sau cách nhau gần hai trăm năm, có thể là do tình cờ trùng tên chăug? Rất tiếc là
    sử Trung Quốc chép việc này cũng rất tản mạn, khó kiểm chứng một cách chính
    xác Cũng cần nói thêm rằng, danh sách trên vừa có  thứ sử lẫn thái thú. Thứ sử
    là chức trông coi cả ba quận, danh tuy lớn mà quyền lực thực tế lại không bao
    nhiêu. Ngược lại thái thú là quan coi một quận, nhưng quyền hành rất lớn, đôi
    khi còn vượt ra khỏi phạm vi của quận. Ngoài ra, cũng có quan đô hộ tiếng là
    được sang cai trị nước ta, nhưng vì nhiều lí do khác nhau, chúng chưa hề đặt
    chân lên đất nước ta. Một lần nữa, chúng tôi xin được lưu ý rằng, danh sách này
    chỉ có ý nghĩa hết sức tương đối mà thôi.

    I...
     
    Gửi ý kiến

    “Nếu bạn muốn đạt được bất cứ điều gì trong cuộc sống, bạn phải đọc rất nhiều sách.” – Roald Dahl

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TRUNG HỌC THỰC HÀNH SÀI GÒN !