Viếng Lăng Bác - Bài giảng
Thượng kinh ký sự

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:14' 18-04-2024
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:14' 18-04-2024
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
Tự-tự của Dịch-giả
Phàm-lệ
Chương thứ I. Giã cố-sơn vâng ra kinh-quốc
Chương thứ II. Vào vương-phủ thăm mạch lần trước
Chương thứ III. Cảnh lữ-huống ở trong Kinh
Chương thứ IV. Hội tao-đàn lần thứ-nhất ở trong Kinh
Chương thứ V. Cảnh lữ-huống ở trong Kinh
Chương thứ VI. Hội tao-đàn ở trong Kinh lần thứ hai
Chương thứ VII. Các công-khanh mời đi chữa thuốc
Chương thứ VIII. Một nhà nữ thi-sĩ ở Thăng-long
Chương thứ IX. Cảnh lữ-huống ở trong Kinh
Chương thứ X. Các công-khanh mời đi chữa thuốc
Chương thứ XI. Nhân đi chữa thuốc lại qua Tây-hồ
Chương thứ XII. Nhân đi chữa thuốc qua miền cố-hương
Chương thứ XIII. Một nhà Nữ-thi-sĩ ở Thăng-long
Chương thứ XIV. Nghĩa cũ tình ghi
Chương thứ XV. Cảnh lữ-huống ở trong Kinh
Chương thứ XVI. Về thăm cố-hương
Chương thứ XVII. Vào chữa thuốc trong Vương-phủ
Chương thứ XVIII. Từ đế-kinh về nơi sơn-thự
Phụ-lục. Một nhà danh-nho và danh-y của nước ta ngày xưa - Cụ Lãn–ông
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
MỘT TẬP DU-KÝ CỦA CỤ LÃN-ÔNG
THƯỢNG-KINH KÝ-SỰ
上京記事
(Nguyên tác Hán-văn dịch ra quốc-ngữ)
(bổ sung Phụ-lục:Một nhà danh-nho và danh-y của nước ta ngày xưa Cụ Lãn-ông)
NGUYỄN TRỌNG-THUẬT biên dịch
Nam-Phong Tạp-chí
Hải-thượng Lãn-ông Lê Hữu-Trác
Việt-nam Y-tổ
Tự-tự của Dịch-giả
Phàm đọc văn của một nhà hiền-triết nào ở cách đời với mình, thời trước hết phải chứng xét cái thờiđại, cái thân-thế cùng cách lập-thân hành-đạo của nhà hiền-triết ấy thế nào, thì mới nhận ra được
những cái chân tinh-thần về học-thuật tư-tưởng của nhà hiền triết ấy, mà sự đọc như thế mới có ích, có
thú-vị vô-cùng. Bởi vậy trước khi dịch sách du-ký của cụ Lãn-ông tức là sách Thượng-kinh ký-sự này,
thời tôi đã khảo-cứu cái thời-đại, cái thân-thế và những cách lập-thân hành-đạo của cụ, rồi tập-thành
truyện-ký mà lạm thêm đôi lời bình-luận cho phát-siển thêm cái tinh-thần về học-thuật tư-tưởng của cụ
ra, là có ý giới-thiệu cụ cho các nhà đọc văn du-ký này của cụ được đỡ tốn cái công khảo-cứu mà tựhưởng được cái ích-lợi cái thú-vị vô-cùng.
Nay xét những văn du-ký của người Việt-Nam ta cùng của cả những người ở các nước phương Đông-Á
này từ thế-kỷ thứ mười tám tức là từ đời cụ Lãn-ông về trước thì thấy ít lắm, mà có chăng nữa chẳng
qua chỉ dùng cái ngòi bút tài-hoa, bài văn điêu-khắc mà, vẽ-vời những cảnh-trí của nước-non, để làm
cái tài-liệu cung cho nhà tao-nhân, mặc-khách mà thôi, chứ cầu lấy cái ngòi bút thiên-nhiên, lời văn tảthực, ngoài những sự miêu-tả cảnh-trí ra lại thu-thập được cả các trạng-thái của cả các hạng người
trong xã-hội, mà thu-thanh tróc-ảnh, truyền lại cái minh-giám có bổ-ích cho đời sau, như vậy tập du-ký
của cụ Lãn-ông này, không khác gì những văn du-ký của các nhà danh-nho Thái-tây cận-thời, thì thực
là hiếm có. Như thế thì tập du-ký này không phải là một tập văn du-ký kiệt-tác mới xuất-hiện ra ở
trong văn-học-giới Á-Đông ta dư?
Và tập văn du-ký này về phần nhiều là lược-tả có những cảnh-trí, những phong-vị cùng những nhân-vật
đất Hà-thành. Tôi nhân đọc tập du-ký này mà đối với cái đất cố-đô kia, trong lòng bất-giác sinh ra có
điều cảm-khái, muốn nói mà không có thể điềm nhiên đi không nói được: bởi vì đất Hà-thành là cái
chỗ văn-hóa phát-nguyên của nước Việt-Nam ta ngày nay, là cái chỗ chủ-não của người nước Đại-Việt
ta ngày trước, kể đặt kinh-đô thời cũng đã trải qua năm sáu triều, kể năm cũng đã hơn bảy tám trăm
năm đến nay, biết bao nhiêu là công-nghiệp gây-dựng ở đấy, bao nhiêu là cái tinh-hoa tụy-tụ ở đấy, thế
mà nay ta muốn tìm đến những chỗ di-tích để mà chiêm-bái các đấng tiền-nhân, thời ngoài cái Vănmiếu từ Lý-triều sáng-tạo đến quốc-triều trùng-tu, với một pho tượng đồng thần Trấn-Vũ, đúc từ đời
Lê ra, không còn cái cổ-tích nào là khả-quan nữa: khách du-lịch bất-đắc-dĩ muốn bằng-điếu cổ-nhân ở
trên tờ giấy, thời cũng không có sách-vở gì để ghi chép cái di-tích nào cả. Ấy về phần hình-thức còn
như thế, nữa là những cái lưu-phong dư-vận vô-hình kia, thì còn biết tra-vấn vào đâu cho được. May
sao còn được một quyển Thượng-kinh ký-sự của cụ Lãn-ông là một quyển sách của cụ chép khi cụ
trùng-du thành Thăng-long vì việc phải vào thăm bệnh ông thế-tử của chúa Trịnh, mà sở-ngộ những
những người những cảnh nào có quan-hệ đến việc cụ kinh-qua, thì cụ mới chép để phụ vào bộ sách
thuốc của cụ mà làm cái hứng-thú riêng của bọn y-gia, khiến cho hậu-nhân ta mới nhờ đó mà được
phảng-phất thấy cái đất Hà-thành về cuối đời Hậu-Lê là lúc trị-hóa và văn-vật đã về mạt-lưu rồi. Còn
thì cái đất Hà-thành từ cụ Lãn-ông về trước với cái đất Hà-thành từ sau cụ Lãn-ông cho đến cận-thời,
oang-oanh liệt-liệt thế nào, nguy-nga điển-nhã thế nào, bất-quá chỉ tóm-tắt vào trong bốn câu thơ của
một nhà thi-nhân mới vịnh thành Hà-nội nọ. Bốn câu thơ rằng: “Ngưu-hồ dĩ biến tam-triều cục, Longđỗ không dư bách-chiến thành. Nùng-lĩnh phù-vân kim cổ sắc, Nhĩ-hà lưu-thủy khốc ca thanh 牛湖
已變三朝局,龍肚空餘百戰城.濃嶺浮雲今古色,珥河流水哭歌聲.” Nghĩa là cái mùi nước Ngưuhồ đã biến theo ba lần thay đổi triều-đình; cái đất Long-đỗ chỉ chỉ còn cái thành trải trăm trận chiếntranh nay bỏ không; trông đám mây bay trên núi Nùng-lĩnh kia như có những sắc đời kim cổ; nghe cái
dòng nước chảy dưới sông Nhị-hà nọ, hình như có những tiếng khóc tiếng cười. Thực là bi-đát tiêu-sơ,
trơ-trọi man-mát vô-cùng, mà sự khảo-cổ đáng nên di-hận là đường nào, người tiền-nhân ta thực không
trối được cái lỗi không biết quí-báu những cổ-khí và biên-chép những cố-sự là những cơ-sở tiến-hóa
riêng của một dân-chủng, mà sở-dĩ thành ra cái tệ-đoan như thế là vì có hai cái nguyên-nhân như sau
này:
1.– Vì cái tư-tâm chuyên-chế của người Á-Đông ta, đời này nổi lên thì muốn phá-diệt đi cho hết những
cái dấu-vết của đời đã qua, để cho người ta không còn trông thấy cái dấu cũ gì mà sinh lòng hoài-cựu
nữa, cho nên vô-luận sự-nghiệp công hay tư, công-trình khéo hay vụng, đều làm cho tiệt-diệt đi không
còn một tí gì mới thỏa dạ.
2.– Vì ngày trước cái tiếng chữ Hán-tự ta học với cái tiếng của miệng ta nói thường hai đàng khác
nhau hẳn, cho nên khi viết văn trừ những những văn có qui-thức ấn-định như văn vần, văn biền-ngẫu
cùng những lời vắn tắt, những bài ngắn-ngủi thì mới có thể dựa theo cái mẫu-mực mà mô-phỏng được.
Đến như những văn ký-sự, văn luận-thuyết, tràng-thiên nhất-khí, từng quyển, từng pho, lúc viết văn vừa
phải cấu-tứ lại vừa phải dịch lời, ý-nghĩa một nơi, văn viết một nẻo, muốn cho ý-nghĩa được hiểnminh, lời lẽ được liên-tiếp, như tiếng nói mẹ đẻ, thực là khó. Ấy cái thông-bệnh học chữ ngoại-quốc
hay là thứ chữ cổ-văn gì mà nay âm-thoại thông-thường ít dùng đến thời đều như thế cả, không những
một người Việt-Nam ta. Cái đó chỉ vì không quen mà thôi, đã khó mà văn-tự lại không bày-tỏ được hết
cái ý-nghĩa của mình thì dẫu có việc gì hay, muốn ghi-chép lấy cũng phải ngần-ngại mà chưa dám
quyết, phương-chi một đời đã hồ-dễ mấy người có chi.
Xem thế thì biết rằng vì cớ thứ nhất mà nước ta ít những chỗ giữ được những cái mĩ-nghệ bản-quốc
đời xưa. Lại vì cớ thứ hai mà nước ta ít những sách ghi-chép cố-sự trong nước. Từ khi phong-khí mởmang đến nay, cái nghĩa tự-do, cái học bác-cổ đã truyền-bá dần vào mà người trong nước đã biết quítrọng những cổ-khí là những cổ-khí là những cái ngụ những tâm-lý, những sự-nghiệp của tiền-nhân
người mình: lại thêm được cái thể quốc-ngữ mới này, chữ là tiếng, tiếng là chữ, biên viết liên-tiếp mà
ý-nghĩa rõ-ràng, không những sự trạng, những nghệ-thuật, học-vấn trong xã-hội đời nay, dẫu về cổ-đại
cũng có thể tìm-tòi chắp-nhặt dần dần rồi ghi-chép lấy để làm khuôn làm phép cho đời sau. Thế mà
đương cái thời người mình chỉ biết có một thứ chữ Hán, chỉ sùng-trọng có một thứ chữ Hán, là thể chữ
gián-tiếp khó-khăn như cớ thứ hai trên kia đã nói, mà trong văn-giới Hán-tự của người mình cũng chưa
có cái sách ký-sự tường-tế nào, mà cụ Lãn-ông cũng cố công chịu khó ghi chép lấy đôi chút việc mình
có quan-thiệp với đời mà bỏ sót đến ngày nay, cho ta được xem mà biết, thì đủ biết tác-giả là người
hữu-tâm với thiên-hạ hậu-thế là dường nào.
Từ khi tôi mới được đọc văn du-ký này của cụ Lãn-ông thì tôi muốn đem dịch ra quốc văn ngay, nhưng
tôi còn e lời dịch-văn của tôi còn non-nớt, không đủ thấu-triệt được hết cả tinh-thần của nguyên-văn;
may gặp dịp Phạm Thượng-chi tiên-sinh đi tây-du về, tiên-sinh đang nhiệt-tâm những sự-trạng và
những di thư của tiền-nhân ta, mà dịch ra quốc-văn để gây dựng lấy cái nền văn-tự cho nước nhà. Bời
vậy tôi có đem trình tiên-sinh duyệt cho một cuốn truyện cụ Lãn-ông bằng quốc-văn mà tôi mới biêndịch ra, thì tiên-sinh vui lòng nhận ngay mà cho đăng lên báo-chương, và chính cái tên “Một nhà danhnho và danh-y nước ta ngày xưa: Cụ Lãn-ông” của cuốn truyện ấy là Phạm tiên-sinh mệnh-đề cho, là vì
thích-hợp với cái chủ-nghĩa của tiên-sinh trên nọ, nên tiên-sinh mới lượng-thứ cái lời văn quê-mùa đi
cho tôi. Vậy nay tôi lại thừa dịp mà dịch luôn cuốn du-ký của cụ Lãn-ông này, xin hải-nội chư-quân-tử
cũng đồng một ý cho như Phạm-tiên-sinh đối với cuốn truyện cụ Lãn-ông của tôi, nghĩa là vì người
trong làng văn mà rộng lòng cho cái lời viết văn vậy, thì tôi lấy làm may lắm. Nay kính-tự.
Dịch-giả đề bài tự-tự ở trên sân nước lụt trong nhà Hải-nam thư-hiên.
N. T. T.
Phàm-lệ
1.– Nguyên-văn không có chia ra từng chương từng tiết, từ đầu đến cuối chỉ nói liên một hơi, người
mới đọc bất-miễn lấy làm lan-man mà khó tổng-quát được mạch-lạc. Bởi vậy nay cứ xét trong văn-lý,
hễ hết một việc và một mạch, thì ngắt ra làm một chương và đặt một cái tên chùm đầu chương, để giúp
cho độc-giả dễ hiểu. Nhưng cái tên chùm đầu chương mới đặt thêm và cái số chương tự dịch-giả thêm
vào, chứ không dám cải cái cốt-cách của nguyên-văn đi vậy.
2.– Trong nguyên-văn có ba phần là: thơ, ký và y-án, mà thơ với ký là thuộc văn-học phổ-thông, ai
xem cũng hiểu và cũng thích xem. Còn cái y-án thì thuộc về chuyên-khoa, phi những nhà chuyên-môn
thì không hiểu được và cũng không thích xem. Bởi vậy những chỗ nói về bệnh-lý và đơn thuốc thì xin
lược đi một đôi câu để cho chú-trọng về một khoa văn-học; nếu những nhà y-sĩ có muốn tra-cứu cho
tường về khoa y-học của cụ Lãn-ông thời đã có nguyên-thư.
Hai điều phàm-lệ trên này: điều thứ 1 thời đứng vào địa-vị tiểu-chú; điều thứ 2 thì chỗ nào lược đi có
đánh dấu và chua một chữ “lược”, dịch-giả phải kính-cẩn như thế, là muốn cho văn-lý được hiển-minh
thêm và văn-thể được thuần-nhất mà đối với nguyên-văn không hại gì vậy, xin duyệt-giả thứ lỗi cho.
3.– Nguyên tác-giả chép việc du-lịch có quan-thiệp với các bậc quốc-vương đại-thần đương-thời, cho
nên nói đến những bậc ấy chỉ nói đến cái tôn-hiệu hay là quan-chức mà thôi, chứ không nói tên. Như
đầu sách nói niên-hiệu Cảnh-hưng thứ 43 là niên hiệu vua Hiển-tôn 顯尊nhà Hậu-Lê mà sau nói
“Thánh-thượng”, nói “Ngự-sàng” thì thường ngờ là vua Lê. Lại nói một vị đương-quốc đại-thần mà
chỉ nói quan “Chánh-đường” mà thôi. Như thế người đời sau xem văn mà không tra-cứu đến những
thời-sự và nhân-vật đương-thời, bất-miễn mang-nhiên không hiểu đầu đuôi cái việc du-ký ấy. Mà đã
không hiểu thì tất không lĩnh-hội được cả cái tinh-thần lập-thân hành-đạo của Lãn-ông tiên-sinh là thế
nào nữa. Bởi vậy dịch-giả đã gia-công tra-cứu những thân-thế sự-nghiệp của tiên-sinh và những thờisự nhân-vật có quan-thiệp đến tiên-sinh, biên-tập và làm một chuyện ký của tiên-sinh mà giới-thiệu lên
trước, xin duyệt-giả tham quan cho tiện.
Chương thứ I. Giã cố-sơn vâng ra kinh-quốc
Năm nhâm-dần, niên hiệu Cảnh-hưng 景興 thứ 43 (1781), tháng Mạnh-xuân, lúc đó trời quang mây
tạnh, hoa cỏ đua tươi, ở trước sân nhà U-trai của tôi, có mấy cái cây đang ra hoa kết quả, tuyết rủ
hương bay, tha-thướt bóng tà, hình như mĩ-nhân đâu vơ-vẩn. Những con đống-giao 凍蛟 thời bò ra
từng đàn, thỉnh-thoảng có mùi dị-hương. Dưới ao bình-trì về mé tây-viên thời cá thung-thăng dợn sóng
ra ăn vòng nguyệt. Mấy con oanh vàng líu-lô và thấm-thoắt đưa thoi trong cái bụi rậm um-xùm kia,
càng tỏ ra có cái ý sinh-dục của tạo-vật. Trong những khi ấy: có lúc thì tôi dắt mấy tên đồng lên chơi
núi, tha-hồ ngắm cảnh yên-hà mà giải-trí; có lúc thời tôi ngồi câu ở Nghinh-phong-đình 迎沨亭; có
lúc thì tôi dạo cung cầm ở Tị-huyên-lư 避暄廬; có lúc thì tôi xem sách ở Tối-quảng-đình 最廣亭; lại
có lúc thì tôi đánh cờ rồi ngủ ở Di-chân-đường 頣眞堂; tùy ý tôi thích chơi đâu thì chơi, ngày nào
cũng chén say la-cà ra rồi mới về. Đến ngày 12 tháng ấy, bỗng thấy hai người dịch-mục của quan Thựtrấn 署鎭 bản-xứ sai về, mới tới sân thì hai người cùng nói lên rằng: “Cụ lớn tôi có lời mừng cho cụ”,
tôi chưa hiểu ra việc gì, bèn bóc phong-thơ ra xem, thì thấy có hai đạo văn-thư như sau này.
Một đạo là bản sao lời truyền rằng:
“Quan Nội-sai-binh-phiên Trạch-trung-hầu 内差兵番澤忠候 phụng lời chỉ này mà truyền cho quan
Thự-trấn xứ Nghệ-an là Côn-lĩnh-hầu 琨嶺候 phải hỏi thăm cho được một người tính-danh là Lê HữuTrác 黎有卓, tục gọi “Chiêu Bảy”, con quan tiền Thượng-thư họ Lê, làng Liêu-xá 潦舍, huyện
Đường-hào 唐豪; nay vào ở quê mẹ làng Tình-diễm 情艶, huyện Hương-sơn; rồi phải lượng sai lính
trấn-binh tức-khắc đưa tiến kinh thi-mệnh.
“Nay chỉ truyền
“Ngày 29, tháng 11, năm Cảnh-hưng thứ 42”
Một đạo là thủ-thư của quan Thự-trấn đưa mừng tôi, đại-lược rằng:
“Một người học-trò nơi thảo-dã, mà nhất-đán danh tiếng đạt đến Cửu-trùng, thời thực đáng nên mừngrỡ cho con đường tiền-trình muôn dặm kia là đường nào.” Lại “Vương-mệnh bất-sĩ-giá 王命不俟駕
phải tức-nhật đăng-trình ngay, ra đến Vĩnh-doanh 永營 đã có lính trấn-binh đón cả ở đó để tiến-hành”.
Một người đem tin ấy lại bảo thầm tôi rằng: “Việc này là bởi quan Chánh-đường 正堂 cử-tri cho cụ
vào vào thăm ông Đông-cung-vương-thế-tử bị bệnh nặng đã lâu. Chuyến đi này không phải việc
thường, phải bội-đạo mà đi, bất-phân mộ dạ mới được”.
Tôi biết chuyện đầu đuôi rồi, kinh sợ vô-cùng, ngẩn người ra như thằng si, thằng ngốc đến một giờ lâu,
người trong nhà nghe thấy, kẻ biết tôi thì họ lo thay cho tôi, kẻ không biết tôi thì họ mừng thầm cho tôi,
không phải bàn đến cái việc của những bọn người nhà họ làm râm-ran cả lên một hồi bấy giờ nữa.
Nguyên quan Chánh-đường về hồi 4, 5 năm trước, ông phụng-mệnh ra trấn Hoan-châu 驩州 có mời tôi
xem mạch và chữa thuốc, ông đãi tôi là bậc thượng-tân, ăn cùng mâm, ngồi cùng chiếu, lễ-ý rất là
long-trọng. Sau ông có cái công bình được bọn hải-khấu, về triều làm đến Tam-công 三公, tín-dụng
không ai bằng. Tôi nghe tin mấy năm nay vẫn lấy làm lo canh-cánh ở trong lòng, thường nói chuyện
với học-trò rằng: “Tôi chắc thể nào cũng phải một phen lao-lục vào huyễn-điện ở chốn kinh-kỳ mà phụ
với cỏ hoa chốn cố-sơn này chớ chẳng không.” Đến ngày nay sự-thể quả như thế, tôi cũng ân-hận cho
tôi đi ẩn chưa được kín. Tuy-nhiên, ông là người có tài-đức như ông Cơ-công 姬公 ngày trước, đối
với những người thiên-hạ chi-sĩ, ai ông cũng đãi một cách nghiêm-cung tử-tế, nữa là ông đối với tôi.
Bấy giờ có một người giải-muộn cho tôi rằng: “Ông là một người uyên-súc và tinh-thâm về cái học
tính-mệnh, không làm nên một nhà lương-tướng thì cũng nên làm một nhà lương-y, đã đành cái sự sảnthái mai-quang, vẫn là cao-thượng, nhưng nay cửu-trùng tri-ngộ, tứ-hải nghe danh, thì lại không phải là
cái việc của kẻ trượng-phu đáng nên làm hay sao?” Tôi ngần-ngừ mà trả lời rằng: “Vị hoa nên người
ta hái, vị hư-danh nên phải lụy mình.” Vậy thời căng-danh sao bằng đào-danh có thú hơn không?”
Bấy giờ tôi bất-rứt không biết là dường nào, suốt đêm không ngủ, tự nghĩ thầm trong bụng rằng: “Mình
lúc thiếu-thời mài gươm, đọc sách, rồi phiêu đãng chốn giang-hồ, chốc ngoại mười-lăm năm, không
sở-đắc được một cái gì, sau vất bỏ cả công-danh ra ngoài về ẩn-cư ở dưới núi Hương-sơn này, vừa
nuôi mẹ, vừa xem sách cho được tiêu-dao trong cái vườn đạo-lý của ông Hiên ông Kỳ, mà tự lấy cái
sự bảo-thân tế-thế làm đắc-sách, hay đâu nhất-đán bị cái hư-danh nó làm lụy cho mình thế này.” Nghĩ
chán rồi tôi lại tự an-ủi lấy cho tôi rằng: “Mình khốn-tâm hành-lự về một khoa y-học đã ba-mươi năm
nay, tập được một bộ Tâm-lĩnh 心領, muốn đem vấn-thế, nhưng việc cả, nhà nghèo, khôn lẽ làm cho
xong việc, vậy xin quỉ-thần cảm-cách cái tấm thành-tâm này cho, thì chuyến đi chắc có chỗ tao-ngộ
cũng chưa biết chừng”. Nghĩ quanh tính quẩn như thế rồi bất-giác mừng hớn-hở cả người lên, bèn ra
tiếp-đãi hai người lai sứ và viết một phong-thơ để trả lời quan bản-trấn. Ông vốn là người tương-tri
với tôi, ông muốn làm tờ khải để nói thay cho tôi, nên tôi phải kê cả cái sự tôi đã suy-lão rồi, xin ông
chước-miễn đi cho. Hôm sau quan bản-trấn lại sai một tên thuộc-vệ đem một lá phiếu về, trong phiếu
nói rằng: “Bản-chức đã vát-thủ những thuyền-chích để đi duyên-giang cho tới trạm, vậy ông phải khởithân ngay, nếu còn trì-duyên thì sẽ can-hệ.” Mà kẻ trong nhà tôi chúng nó cũng cố hết sức khuyên dỗ
tôi, tôi biết thế-bất-đắc-dĩ, tức thì đạt giấy cho bọn đạo-đồ hợp lại; ngày mười-tư làm lễ tiên-thánh,
tiên-hiền, rồi hát một chầu; ngày mười-sáu bọn đạo-đồ thấy tôi có việc viễn-hành lại bày một tiệc hát
nữa; ngày mười-bảy tôi sắp-sửa nửa quảy đồ-thư, một bên cầm-kiếm, cho đem xuống thuyền để đi
đường thủy ra Vĩnh-dinh. Bấy giờ tân-khách đến chơi đông một nhà, kẻ thì xin thuốc, người thì tiễn
tiền, dùng-dằng chẳng nỡ chia tay, mãi đến lúc mặt trời đã xế non đoài mới nhổ sào xuôi, lúc đó tôi
ngồi ở trong thuyền, đối-cảnh hàm-tình, lòng khách chứa-chan không biết là chừng nào, mới ứng-khẩu
đọc ra một bài thơ rằng:
流水何太急
行人意慾遲
羣山分岸走
一揁劈烟飛
沙雁親如送
遊魚急欲追
雲間香嶺樹
太半已斜暉.
Nước chảy đâu mà vội,
Hành-nhân vẫn lững-lờ.
Trèo đèo lên đám khói,
Núi chạy rẽ đôi bờ.
Cá sông đưa tất-tả,
Nhạn cồn tiễn ngẩn-ngơ.
Mây ám cây Hương-lĩnh,
Bóng hôm nửa rõ mờ.
Đêm hôm ấy, thuyền đi dưới bóng trăng, trông ra làng-mạc hai bên bờ sông đều im-ả cả, thỉnh-thoảng
tiếng chó sủa theo thuyền đi, một vầng minh-nguyệt, vằng-vặc lòng sông; đôi ngạn hải-trào, mênh-mông
bến khách; chuông nện chùa xa văng-vẳng, sương sa bụi dặm mịt-mù; mấy ngọn ngư-đăng hiu-hắt, vài
đôi âu-lộ sóng bày. Bọn đạo-đồ tùy-hành ai nấy mượn chén tiêu-sầu. Tôi bèn ngâm một thiên tiểu-luật
để tự-tình rằng:
一江烟水靖
客思满關河
風重征帆急
霜深去雁斜
寒山來夜磬
遠浦出漁歌
今夕猶如此
明朝且奈何.
Một dải sông quang tạnh,
Xui lòng khách chứa chan.
Gió mạnh buồm xuôi chóng,
Sương mù nhạn rẽ ngang.
Véo-von chài viễn-phố,
Lanh-lảnh khách hàn-san.
Ấy cảnh đêm nay thế,
Mai biết đâu mà bàn.
Gà gáy đến Vĩnh-dinh, cắm sào trước bến đi nghỉ được một chốc. Sáng mười-tám đổ bộ, vào yết quan
Thự trấn thì ông đợi tôi đã mấy hôm, nhân nhà ông có tiên-kỵ, nên ông phải về quê rồi, chỉ dặn lại
người thuộc-viên sắp-sẵn lính bản-dinh với năm quan tiền để cung bản-phí mà nói rằng: “Quan tôi có
tiên-kỵ phải về quê không kịp tiếp cụ, có chút vi-thành này xin cụ tỏ tình cho.” Quan Thự-trấn lại phái
một quan Văn-thư đem ba-mươi tên lính bản-đạo và sắp đủ khẩu-lương để đi hộ-tống. Ngày hai-mươi
quan Văn-thư sửa-sang hành-lý đăng-trình, nhưng bọn lính tùy-hành ấy chưa đủ lương, còn phải đi vay
giật, mãi đến quá trưa mới trẩy được. Tôi nghỉ ở trạm xã Kim-khê 金溪, quan Văn-thư làm lễ vào yết
miếu ở làng ấy; ông có đặt một tiệc hát mà cho mời tôi, tôi đến thì thấy một “cô đồng” đang hầu giá
nhà thánh ngồi trên sập, vừa đảo vừa đang lảm-nhảm nói, có người bảo tôi rằng: “Thánh-mẫu đây linhứng lắm, cụ thầy nhân vô Kinh, có muốn cầu việc gì thì sao không ra mà kêu ngài.” Tôi nói: “Phàm ai
cũng cầu lấy cái sở-đắc, chứ có ai cầu lấy cái sở-thất, bụng tôi không có nguyện-đắc cái gì, thì còn cầu
mà làm chi.” Cô đồng nghe nói tủm-tỉm cười, quan Văn-thư cũng trông tôi cả cười. Nửa đêm tan tiệc,
ai nấy đều về nhà trọ nghỉ, sáng sớm tinh sương ngày hai-mươi mốt chúng tôi khởi-hành, bấy giờ gặp
trận mưa dầm tầm-tã, một tụi hành-nhân rét-mướt quá thể, mà trông lên đàng trước mặt thì núi san-sát
dãy dài hàng mấy trăm ngọn, đường sá gập ghềnh, tôi thấy đường đi bạt-thiệp gian-nan như thế, bấtgiác buột miệng ngâm nga một câu rằng:
南望千山如黛色
愁君客路在其中.
Trời nam sắc nước như chàm,
Thương anh lẽo-đẽo dặm đàng còn xa.
Đường đi qua Cấm-sơn 禁山, sang đò Cấm-giang 禁江, tới bến Thiết-cảng 鉄港. Lúc đó hơi mặt bể,
khói đầu non, bốc lên nghi-ngút, thực như câu:
Núi này trăm sáu ngọn cao,
Chẳng may sư cụ nẻo nào ra vô.
Độ trong vài bước mà không ai trông thấy ai, chỉ nghe tiếng chim kêu vượn hót ở trên tầng mây, nhác
xem cái thú sơn-lâm ấy, hình như có ý khiến cho tôi phải đối-cảnh sinh-tình mà có điều cảm-súc thầm
ở trong bụng rằng: ba-mươi năm nay, cái đám lợi danh kia, mình đã buông theo với dòng lưu-thủy, để
cho được ưu-du trong cái chỗ suối rừng, lấy một chữ nhàn làm đắc-sách; ai hay đã không có cái bụng
lợi-danh mà lại hóa ra làm cái thân danh-lợi thế này, thật chỉ vì mình không chân-độn được nên mới
phải thế, nhân cảm-hoài nên một bài thơ để dãi lòng rằng:
遯世從醫養一眞
不知爲富豈知貧
林泉欲了三生道
綸綍難辭萬里身
半擔烟霞勞驛馬
满山猿鶴送征人
虛名自揣無他秘
只恐疎狂對聖君.
Nương-náu nghề y để dưỡng-chân,
Nghĩ chi là phú nghĩ chi bần.
Suối rừng quanh-quẩn khuây vì đạo,
Chiếu mệnh xa vời phải dấn thân.
Nửa gánh yên-hà thêm nhọc trạm,
Đầy ngàn viên hạc rộn đưa chân.
Biết ai đâu nữa mà mang tiếng,
Luống sợ sơ-cuồng trước thánh-quân.
Tối hôm ấy đến chợ Đông-điệp 東曡, nghỉ lại …(lược)… Sáng mai tôi cho một tên tùng-nhân đến cáo
với quan Văn-thư để cho bọn chúng tôi đi trước, mà hẹn đến trạm chợ Hoàng-mai 黄梅 thì cùng nghỉ,
vì quan Văn-thư nhân có việc quan chưa xong, còn phải đóng ở đó, nên y vâng lời ngay. Ngày haimươi-hai tôi đưa bọn tùng-nhân đi trước ra mé tây núi, núi ấy một dải liền nhau, ngọn thì ẩn, ngọn thì
hiện ở trên đám mây trắng, lại có mấy quả núi nhỏ li-quần mọc ra bên đường, bóng chiều phơn-phớt
hoe-hoe ánh ra ngoài đồng bằng. Tới núi Long-sơn 龍山 thì thấy một chỗ độ một cung đất, trong có
những cây cổ-thụ um-tùm, dâm-dâm man-mát, thật là xinh thay; đá cuội thì thâm-thấp như cái đẳng bày
hàng tề-chỉnh. Tôi mới cho đỗ cáng lại ở đó để đi du-ngoạn một lát, nhân đề một bài thơ lên vách đá
rằng:
依山崗作寺
徬石架山鍾
細雨描春草
明霞落晚松
人吟殘照裏
鳥語亂林中
奉詔趨行驛
勤勢笑懶翁.
Chùa dựng bên sườn núi,
Chuông cheo mỏm đá hòn.
Mây quyến thông già rụng,
Mưa vờn cỏ xuân non.
Bóng xế người ngâm-ngợi,
Rừng rậm chim véo-von.
Nực cười cho ông Lãn,
Phụng chiếu cũng lon-son.
Đề rồi giục-giã lên đường, đến chợ Hoàng-mai thì chiều hôm nghỉ lại, mà cũng chưa thấy quan Vănthư đến. Sáng hôm sau tôi sai lính bản-dinh cứ khởi-hành, đến chiều thì quan Văn-thư mới tới nơi, y
nói với tôi rằng: “Tôi sợ lính đi đường không đủ dùng, mà số lính quan bản-trấn tôi phụng-mệnh
truyền để kén ở các nơi huyện-thành chưa đủ, nên tôi muốn bắt thêm mấy người nữa để đài-tải hộ vào
mà đi cho chững-chạc.” Tôi nói: “Đi đây có mấy hột tiền lương mà phải lo chi việc ấy.” Sáng ngày
hai-mươi-ba đi ra cầu Kim-lan-mạn 金蘭蔓橋 rồi đến suối Lãnh-thủy 冷水溪 cái chỗ Thanh Nghệ
giáp-giới nhau, thấy một bọn hành-nhân đứng ở bên đường, trông thấy tôi thì họ đều chào vái; hỏi ra
thì là người ở một làng bên đường đó, họ mới ở Kinh về, tôi cũng dừng võng lại nói chuyện ít lâu mới
đi. Lúc đó tôi niềm quê nỗi khách, ngổn-ngang trong lòng, nhân ứng-khẩu ngâm ra một bài thơ rằng:
驩愛分彊地
羣山亙送迎.
樵歌雲路出
鳥語谷風生.
伏石當途立
遥天斷碧橫.
行人說鄉思
惟我上神京.
Chỗ này giáp Hoan Ái,
Non nước đón đưa ta.
Trong hang tiếng chim gáy,
Trên mây giọng tiều ca.
Đá vầng ngăn trước lối,
Mây biếc chặn đàng xa.
Tiến Kinh duy có lão,
Còn họ chỉ chuyện nhà.
Ngày hôm đó trời xuân êm-ả, đường bộ thảnh-thơi, hôm đến chợ Thổ-sơn 土山 trọ lại. Chợ ấy có một
cái đồn-binh của trấn Thanh-hoa phân-phái ra đóng trú-phòng ở đó, binh-khí cũng nhiều, thấy bọn
chúng tôi họ giữ lại xét hỏi, sau biết chúng tôi đi có phụng-mệnh, họ mới xúm lại xin lỗi rồi lui ra.
Ngày hai-mươi bốn, sáng sớm tiến-trình; bấy giờ mây kéo đen dầm tứ phía, sương khói mù-mịt, gió rét
lạnh-lùng, dẫu mặc áo bông dày cũng phải rét run lên cầm-cập. Đi mấy giờ nữa mới đến bờ bể Hàomôn 豪門; trông ra một nước một trời, sóng vỗ mênh-mang muôn dặm. Nhân sực nhớ đến cái việc ông
Tần-Hoàng 秦皇và ông Hán Vũ 漢武帝 khi xưa, phí biết bao nhiêu là tâm-tư, nào cái thuật đánh cho
đá phải chạy lồng lên rồi bỏ vào túi vân-nang mà quảy, thế mà rút cục lại cũng chẳng trông thấy cái hút
bóng chỗ Bồng-lai tiên-cảnh ở đâu cả, thì thực là suyễn-mậu chi thậm!-Lại cổ-nhân thường cho cái
đám quan-trường là nơi hoạn-hải là biết trong chỗ phù-trầm có cái nguy-cơ; lúc đó tôi vừa hết sức
ngắm cảnh yên-ba vừa ứng-khẩu ngâm một bài thơ rằng:
海岸驚行客
蒼茫萬里秋
波濤震鰲極
雲霧起天摳
浴日千重浪
隨風一葉舟
古人嗟宦海
深意在沉浮.
Khách đi trên mé bể,
Ghé trông tít-mù khơi.
Sóng mênh-mang mặt đất,
Cơn ngùn-ngụt chân trời.
Nước lau vầng nhật xế,
Gió giục chiếc thuyền bơi.
Ý thâm chữ hoạn-hải,
Là chìm nổi đòi nơi.
Hôm ấy quan Văn-thư sai chọn ba cái mành để sang cửa Cự-nham 巨岩mà đổ bộ, vào chợ Hàng-cơm
trọ lại; ngày hai-mươi-nhăm đi lên con đường thượng-đạo mà con đường hạ-đạo thì là cửa bể Thầnphù 神符, qua mấy chỗ tôn-lăng tôi đều xuống võng đi bộ, tối đến một cái chợ nghỉ lại; sáng haimươi-sáu ra đi, chiều hôm sang đò Đài-xước 薹逴 đến chợ Huyện nghỉ-ngơi, ăn cơm chiều, bỗng đâu
thấy một người ăn bận mũ áo thầy tu, tay cầm gậy trúc đi đến, xem ra có vẻ phiêu-nhiên xuất-trần, tôi
lấy làm lạ, mới hỏi chủ hàng, chủ hàng nói: “Người là trụ-trì-tăng ở chùa bản-tự trên núi đấy, người
xem bói hay lắm.” Tôi liền cho tên dược-đồng ra mời vào hàng, phân chủ khách ngồi xong, tôi nói:
“Tôi nghe tiếng sư cụ người đây, thâm-minh về Dịch-lý, tôi muốn nhờ người xem cho một quẻ về con
đường tiền-trình thế nào, có nên chăng?” Nhà sư không hề từ trối, trả lời ngay rằng: “Nay quan muốn
xem việc gì thì cứ thành-tâm mà xem là linh-ứng ngay.” Tôi bèn kể đầu đuôi cho nhà sư nghe; nhà sư
nghĩ độ một phút rồi nói to lên một câu rằng: “Quẻ này tốt lành lắm, đích là một việc phi-thường.” Tôi
nói: “Quân-tử hỏi điều dữ chứ không hỏi điều lành, có thế nào người cứ nói thực.” Nhà sư nói: “Tôi
xem quẻ này là quẻ “Nguyên-thủ”, có cái tượng “quân minh thần lương”; trong quẻ hào Chu-tước 朱
雀thừa vượng, hào Thanh-long 青龍 cư trung; hào Bạch-hổ 白虎 cư mạt, Quí-nhân 貴人lâm vào bảnmệnh, Dịch-mã 驛馬ứng vào hành-niên, quẻ này đích là cái điềm được trưng-triệu, ba lần truyền mà
nhật can 日干thời-chi 辰支cùng được lục-hợp, thật là cá nước duyên ưa, rồng mây gặp hội, tốt lành
lắm! Nhưng chỉ hiềm hào Bạch-hổ nó nhập tù thì lo lúc vào đến Kinh lại bị bệnh.” Tôi nghe nói nghĩ
thầm trong bụng rằng: “Người này hình-mạo thì nham-cổ mà học-thức thì tinh-vi, chắc có cái kiến-thức
xuất-nhân, nhưng chỉ hận rằng gặp khí muộn quá, không dò được hết chỗ uẩn-để của người ta.” Tôi
mới kể qua đầu đuôi cái chuyện thực của tôi một lần và nói rằng: “Chỗ tôi ở tuy là một nơi rừng hang
hẻo-lánh, nhưng cái thú u-nhân, trăng mặt bể, mây đỉnh non kia lưu-luyến đã thành ra nghiện mà không
thể rời ra được, không biết bao giờ tôi lại được phản-hồi chỗ đó cho được giong chơi với bầy mi-lộc,
đối-thoại với bọn ngư-tiều ở dưới bóng tịch-dương ấy?” Nhà sư nghe tôi nói cũng ta-thán mãi mà
rằng: “Miếng cao-lương làm mê cho tạng-phủ người ta, sao người ta thì mê mà chỉ có một ngài đây là
tỉnh như vậy? Tuy-nhiên, quẻ này xem ra “chủ khách vinh-vượng, thượng-hạ sinh-hợp”, nên chưa đoán
được quan bao giờ được về.” Tôi nghe thôi thở dài mấy tiếng, rồi sai tên dược-đồng lấy tiền ra hậutặng nhà sư; nhà sư kiên-từ và cười rằng: “Quan đi đây, xin ngài chỉ cho nhà chùa tôi vài chén kínhtửu là đủ.” Tôi liền sai người tùng-giả ra hàng mua một hồ rượu ngon đem lại; nhà sư mừng lắm, hai
tay nâng lấy mà rót ra đầy một cái bát lớn, cũng chẳng hỏi gì đến đồ nhắm, há ngay miệng ra mà nốc
một hơi như long cuốn thủy cho rõ hết, rồi nhổ nước dãi uống gầm giường mà khen lên một tiếng rõ to
rằng: “Ngon!...” Đoạn rồi chào tôi mà từ-biệt. Bấy giờ tôi mới ra lên một cái đò đồng để đi, đến chiều
tới chỗ trọ, quan Văn-thư đi đến chỗ nhà trọ tôi bảo tôi rằng: “Cụ với chúng tôi đi chuyến này là việc
công-sự rất khẩn-yếu, thế mà mỗi ngày đi không được năm-mươi dặm; trong lời chỉ-truyền bữa nọ nói
rằng: Ngày mồng mười đến Vĩnh-dinh, ngày 11 tới nhà cụ, mà nay gần nửa tháng rồi, đường trường còn
những sáu bảy ngày nữa, trì-duyên như thế, lúc vào trình tôi lấy làm ngại lắm; xin cụ liệu chọn lấy
những người lính nào cường-tráng cho bội-đạo đi suốt ngày, đêm khuya sẽ nghỉ; còn những người lính
nào yếu đuối thì cho ở lại.” Tôi cười mà rằng: “Bác cần gì việc ấy, tuy chỉ-truyền rằng mười một đến
nhà tôi, nhưng tôi còn đi chữa thuốc vắng, quãng đó lại còn phải đi tìm tôi mất mấy bữa; sau đi thì lại
bị dọc đường mưa gió ngăn trở, như thế tưởng có mọc cánh ra hôm nay cũng vị tất đã tới nơi được.”
Ông quan ấy cười mà rằng: “Rồi cũng phải thế mới xong.” Nói thôi pha trà uống mà đàm-tiếu với
nhau, đoạn đều về nhà trọ nghỉ; gà gáy ngày hai-mươi-bảy giục nhau ra đi, quãng đường ấy tinh những
núi non bao-bọc, mù-mịt khói mây, bầy hươu cái thấy tiếng người đi mà chạy bổ lên; đàn chim đang
ngủ trên cành nghe tiếng người nói chuyện mà bay vọt ra; đó là ngàn Ba-đội 巴隊. Lên đến đỉnh ngàn
mới thấy nhỏ bóng chiêu-đôn, sương tan chưa hết, một tụi hành-nhân áo quần ướt-thướt cả; tôi mới cho
đóng lại vào một cái quán bỏ không trên đỉnh ngàn, để đánh lửa hơ áo và sưởi và sai tên tùng-nhân lay
một hòn thạch-bàn, tôi bèn ngồi lên thạch-bàn tựa vào cành lá dưới gốc cổ-thụ, rồi gọi dược-đồng đun
nước pha trà, nhà bếp thì đi làm bữa tảo-phạn mà cho mời quan Văn-thư đến chén với tôi. Đang khi
đăng-cao vọng-viễn, cái ý-thú nó làm cho tôi lang-láng không biết là chừng nào, tôi vừa toan đọc một
đôi câu cổ-thi để khiển-hứng thời bất-giác buột miệng đọc ngay lên rằng:
雲橫秦嶺家何在
雪擁藍關馬不前.
Mây ám non Tần nhà khuất nẻo,
Tuyết phong ải Bắc ngựa lùi chân.
Ngâm thôi dường như có điều súc-động bên lòng, lẳng-lặng chẳng muốn nói-năng chi nữa, quan Vănthư thấy tôi ra dáng buồn, y cười mà rằng: “Ở đây cỏ hoa đua nở, riêng một càn-khôn, chẳng khác gì
phong-vị ở Hương-sơn, mà sao cụ súc-cảnh sinh-tình, dường như không được vui, cụ lầm rồi, chứ sĩquân-tử ở đời có hai cách là xuất với xử, xử thời lấy đạo mà tự-lạc, xuất thời lấy đạo mà tế-thời, cụ
náu hình ở nơi thâm-sơn cùng-cốc, mà nhất-đán trên cửu-trùng biết tiếng, quan đại-thần trọng-đãi, thực
là một dịp kỳ-phùng hiếm có đó, chớ sao cụ lại thế?” Tôi nói: “Quí-hầu dạy quá lời, khiến cho người
ta thêm thẹn. Cổ-nhân người ta tài cao học rộng, uẩn-súc kinh-luân, cho nên lúc xử thì mai-quang sảnthái, lúc xuất thì trí-quân trạch-dân, chớ như tôi đây học-hành lõm-bõm, tài-trí hẹp-hòi, đã vô-dụng
với đời, may vớ được một cái bạc-nghệ để tùy-thân là tốt, còn ngờ đâu nhất-đán thế này, thật là không
xứng, chứ còn gọi là may thế nào được.” Quan Văn-thư nói: “Tôi đã vẫn được thấy quan tôi những...
Tự-tự của Dịch-giả
Phàm-lệ
Chương thứ I. Giã cố-sơn vâng ra kinh-quốc
Chương thứ II. Vào vương-phủ thăm mạch lần trước
Chương thứ III. Cảnh lữ-huống ở trong Kinh
Chương thứ IV. Hội tao-đàn lần thứ-nhất ở trong Kinh
Chương thứ V. Cảnh lữ-huống ở trong Kinh
Chương thứ VI. Hội tao-đàn ở trong Kinh lần thứ hai
Chương thứ VII. Các công-khanh mời đi chữa thuốc
Chương thứ VIII. Một nhà nữ thi-sĩ ở Thăng-long
Chương thứ IX. Cảnh lữ-huống ở trong Kinh
Chương thứ X. Các công-khanh mời đi chữa thuốc
Chương thứ XI. Nhân đi chữa thuốc lại qua Tây-hồ
Chương thứ XII. Nhân đi chữa thuốc qua miền cố-hương
Chương thứ XIII. Một nhà Nữ-thi-sĩ ở Thăng-long
Chương thứ XIV. Nghĩa cũ tình ghi
Chương thứ XV. Cảnh lữ-huống ở trong Kinh
Chương thứ XVI. Về thăm cố-hương
Chương thứ XVII. Vào chữa thuốc trong Vương-phủ
Chương thứ XVIII. Từ đế-kinh về nơi sơn-thự
Phụ-lục. Một nhà danh-nho và danh-y của nước ta ngày xưa - Cụ Lãn–ông
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
MỘT TẬP DU-KÝ CỦA CỤ LÃN-ÔNG
THƯỢNG-KINH KÝ-SỰ
上京記事
(Nguyên tác Hán-văn dịch ra quốc-ngữ)
(bổ sung Phụ-lục:Một nhà danh-nho và danh-y của nước ta ngày xưa Cụ Lãn-ông)
NGUYỄN TRỌNG-THUẬT biên dịch
Nam-Phong Tạp-chí
Hải-thượng Lãn-ông Lê Hữu-Trác
Việt-nam Y-tổ
Tự-tự của Dịch-giả
Phàm đọc văn của một nhà hiền-triết nào ở cách đời với mình, thời trước hết phải chứng xét cái thờiđại, cái thân-thế cùng cách lập-thân hành-đạo của nhà hiền-triết ấy thế nào, thì mới nhận ra được
những cái chân tinh-thần về học-thuật tư-tưởng của nhà hiền triết ấy, mà sự đọc như thế mới có ích, có
thú-vị vô-cùng. Bởi vậy trước khi dịch sách du-ký của cụ Lãn-ông tức là sách Thượng-kinh ký-sự này,
thời tôi đã khảo-cứu cái thời-đại, cái thân-thế và những cách lập-thân hành-đạo của cụ, rồi tập-thành
truyện-ký mà lạm thêm đôi lời bình-luận cho phát-siển thêm cái tinh-thần về học-thuật tư-tưởng của cụ
ra, là có ý giới-thiệu cụ cho các nhà đọc văn du-ký này của cụ được đỡ tốn cái công khảo-cứu mà tựhưởng được cái ích-lợi cái thú-vị vô-cùng.
Nay xét những văn du-ký của người Việt-Nam ta cùng của cả những người ở các nước phương Đông-Á
này từ thế-kỷ thứ mười tám tức là từ đời cụ Lãn-ông về trước thì thấy ít lắm, mà có chăng nữa chẳng
qua chỉ dùng cái ngòi bút tài-hoa, bài văn điêu-khắc mà, vẽ-vời những cảnh-trí của nước-non, để làm
cái tài-liệu cung cho nhà tao-nhân, mặc-khách mà thôi, chứ cầu lấy cái ngòi bút thiên-nhiên, lời văn tảthực, ngoài những sự miêu-tả cảnh-trí ra lại thu-thập được cả các trạng-thái của cả các hạng người
trong xã-hội, mà thu-thanh tróc-ảnh, truyền lại cái minh-giám có bổ-ích cho đời sau, như vậy tập du-ký
của cụ Lãn-ông này, không khác gì những văn du-ký của các nhà danh-nho Thái-tây cận-thời, thì thực
là hiếm có. Như thế thì tập du-ký này không phải là một tập văn du-ký kiệt-tác mới xuất-hiện ra ở
trong văn-học-giới Á-Đông ta dư?
Và tập văn du-ký này về phần nhiều là lược-tả có những cảnh-trí, những phong-vị cùng những nhân-vật
đất Hà-thành. Tôi nhân đọc tập du-ký này mà đối với cái đất cố-đô kia, trong lòng bất-giác sinh ra có
điều cảm-khái, muốn nói mà không có thể điềm nhiên đi không nói được: bởi vì đất Hà-thành là cái
chỗ văn-hóa phát-nguyên của nước Việt-Nam ta ngày nay, là cái chỗ chủ-não của người nước Đại-Việt
ta ngày trước, kể đặt kinh-đô thời cũng đã trải qua năm sáu triều, kể năm cũng đã hơn bảy tám trăm
năm đến nay, biết bao nhiêu là công-nghiệp gây-dựng ở đấy, bao nhiêu là cái tinh-hoa tụy-tụ ở đấy, thế
mà nay ta muốn tìm đến những chỗ di-tích để mà chiêm-bái các đấng tiền-nhân, thời ngoài cái Vănmiếu từ Lý-triều sáng-tạo đến quốc-triều trùng-tu, với một pho tượng đồng thần Trấn-Vũ, đúc từ đời
Lê ra, không còn cái cổ-tích nào là khả-quan nữa: khách du-lịch bất-đắc-dĩ muốn bằng-điếu cổ-nhân ở
trên tờ giấy, thời cũng không có sách-vở gì để ghi chép cái di-tích nào cả. Ấy về phần hình-thức còn
như thế, nữa là những cái lưu-phong dư-vận vô-hình kia, thì còn biết tra-vấn vào đâu cho được. May
sao còn được một quyển Thượng-kinh ký-sự của cụ Lãn-ông là một quyển sách của cụ chép khi cụ
trùng-du thành Thăng-long vì việc phải vào thăm bệnh ông thế-tử của chúa Trịnh, mà sở-ngộ những
những người những cảnh nào có quan-hệ đến việc cụ kinh-qua, thì cụ mới chép để phụ vào bộ sách
thuốc của cụ mà làm cái hứng-thú riêng của bọn y-gia, khiến cho hậu-nhân ta mới nhờ đó mà được
phảng-phất thấy cái đất Hà-thành về cuối đời Hậu-Lê là lúc trị-hóa và văn-vật đã về mạt-lưu rồi. Còn
thì cái đất Hà-thành từ cụ Lãn-ông về trước với cái đất Hà-thành từ sau cụ Lãn-ông cho đến cận-thời,
oang-oanh liệt-liệt thế nào, nguy-nga điển-nhã thế nào, bất-quá chỉ tóm-tắt vào trong bốn câu thơ của
một nhà thi-nhân mới vịnh thành Hà-nội nọ. Bốn câu thơ rằng: “Ngưu-hồ dĩ biến tam-triều cục, Longđỗ không dư bách-chiến thành. Nùng-lĩnh phù-vân kim cổ sắc, Nhĩ-hà lưu-thủy khốc ca thanh 牛湖
已變三朝局,龍肚空餘百戰城.濃嶺浮雲今古色,珥河流水哭歌聲.” Nghĩa là cái mùi nước Ngưuhồ đã biến theo ba lần thay đổi triều-đình; cái đất Long-đỗ chỉ chỉ còn cái thành trải trăm trận chiếntranh nay bỏ không; trông đám mây bay trên núi Nùng-lĩnh kia như có những sắc đời kim cổ; nghe cái
dòng nước chảy dưới sông Nhị-hà nọ, hình như có những tiếng khóc tiếng cười. Thực là bi-đát tiêu-sơ,
trơ-trọi man-mát vô-cùng, mà sự khảo-cổ đáng nên di-hận là đường nào, người tiền-nhân ta thực không
trối được cái lỗi không biết quí-báu những cổ-khí và biên-chép những cố-sự là những cơ-sở tiến-hóa
riêng của một dân-chủng, mà sở-dĩ thành ra cái tệ-đoan như thế là vì có hai cái nguyên-nhân như sau
này:
1.– Vì cái tư-tâm chuyên-chế của người Á-Đông ta, đời này nổi lên thì muốn phá-diệt đi cho hết những
cái dấu-vết của đời đã qua, để cho người ta không còn trông thấy cái dấu cũ gì mà sinh lòng hoài-cựu
nữa, cho nên vô-luận sự-nghiệp công hay tư, công-trình khéo hay vụng, đều làm cho tiệt-diệt đi không
còn một tí gì mới thỏa dạ.
2.– Vì ngày trước cái tiếng chữ Hán-tự ta học với cái tiếng của miệng ta nói thường hai đàng khác
nhau hẳn, cho nên khi viết văn trừ những những văn có qui-thức ấn-định như văn vần, văn biền-ngẫu
cùng những lời vắn tắt, những bài ngắn-ngủi thì mới có thể dựa theo cái mẫu-mực mà mô-phỏng được.
Đến như những văn ký-sự, văn luận-thuyết, tràng-thiên nhất-khí, từng quyển, từng pho, lúc viết văn vừa
phải cấu-tứ lại vừa phải dịch lời, ý-nghĩa một nơi, văn viết một nẻo, muốn cho ý-nghĩa được hiểnminh, lời lẽ được liên-tiếp, như tiếng nói mẹ đẻ, thực là khó. Ấy cái thông-bệnh học chữ ngoại-quốc
hay là thứ chữ cổ-văn gì mà nay âm-thoại thông-thường ít dùng đến thời đều như thế cả, không những
một người Việt-Nam ta. Cái đó chỉ vì không quen mà thôi, đã khó mà văn-tự lại không bày-tỏ được hết
cái ý-nghĩa của mình thì dẫu có việc gì hay, muốn ghi-chép lấy cũng phải ngần-ngại mà chưa dám
quyết, phương-chi một đời đã hồ-dễ mấy người có chi.
Xem thế thì biết rằng vì cớ thứ nhất mà nước ta ít những chỗ giữ được những cái mĩ-nghệ bản-quốc
đời xưa. Lại vì cớ thứ hai mà nước ta ít những sách ghi-chép cố-sự trong nước. Từ khi phong-khí mởmang đến nay, cái nghĩa tự-do, cái học bác-cổ đã truyền-bá dần vào mà người trong nước đã biết quítrọng những cổ-khí là những cổ-khí là những cái ngụ những tâm-lý, những sự-nghiệp của tiền-nhân
người mình: lại thêm được cái thể quốc-ngữ mới này, chữ là tiếng, tiếng là chữ, biên viết liên-tiếp mà
ý-nghĩa rõ-ràng, không những sự trạng, những nghệ-thuật, học-vấn trong xã-hội đời nay, dẫu về cổ-đại
cũng có thể tìm-tòi chắp-nhặt dần dần rồi ghi-chép lấy để làm khuôn làm phép cho đời sau. Thế mà
đương cái thời người mình chỉ biết có một thứ chữ Hán, chỉ sùng-trọng có một thứ chữ Hán, là thể chữ
gián-tiếp khó-khăn như cớ thứ hai trên kia đã nói, mà trong văn-giới Hán-tự của người mình cũng chưa
có cái sách ký-sự tường-tế nào, mà cụ Lãn-ông cũng cố công chịu khó ghi chép lấy đôi chút việc mình
có quan-thiệp với đời mà bỏ sót đến ngày nay, cho ta được xem mà biết, thì đủ biết tác-giả là người
hữu-tâm với thiên-hạ hậu-thế là dường nào.
Từ khi tôi mới được đọc văn du-ký này của cụ Lãn-ông thì tôi muốn đem dịch ra quốc văn ngay, nhưng
tôi còn e lời dịch-văn của tôi còn non-nớt, không đủ thấu-triệt được hết cả tinh-thần của nguyên-văn;
may gặp dịp Phạm Thượng-chi tiên-sinh đi tây-du về, tiên-sinh đang nhiệt-tâm những sự-trạng và
những di thư của tiền-nhân ta, mà dịch ra quốc-văn để gây dựng lấy cái nền văn-tự cho nước nhà. Bời
vậy tôi có đem trình tiên-sinh duyệt cho một cuốn truyện cụ Lãn-ông bằng quốc-văn mà tôi mới biêndịch ra, thì tiên-sinh vui lòng nhận ngay mà cho đăng lên báo-chương, và chính cái tên “Một nhà danhnho và danh-y nước ta ngày xưa: Cụ Lãn-ông” của cuốn truyện ấy là Phạm tiên-sinh mệnh-đề cho, là vì
thích-hợp với cái chủ-nghĩa của tiên-sinh trên nọ, nên tiên-sinh mới lượng-thứ cái lời văn quê-mùa đi
cho tôi. Vậy nay tôi lại thừa dịp mà dịch luôn cuốn du-ký của cụ Lãn-ông này, xin hải-nội chư-quân-tử
cũng đồng một ý cho như Phạm-tiên-sinh đối với cuốn truyện cụ Lãn-ông của tôi, nghĩa là vì người
trong làng văn mà rộng lòng cho cái lời viết văn vậy, thì tôi lấy làm may lắm. Nay kính-tự.
Dịch-giả đề bài tự-tự ở trên sân nước lụt trong nhà Hải-nam thư-hiên.
N. T. T.
Phàm-lệ
1.– Nguyên-văn không có chia ra từng chương từng tiết, từ đầu đến cuối chỉ nói liên một hơi, người
mới đọc bất-miễn lấy làm lan-man mà khó tổng-quát được mạch-lạc. Bởi vậy nay cứ xét trong văn-lý,
hễ hết một việc và một mạch, thì ngắt ra làm một chương và đặt một cái tên chùm đầu chương, để giúp
cho độc-giả dễ hiểu. Nhưng cái tên chùm đầu chương mới đặt thêm và cái số chương tự dịch-giả thêm
vào, chứ không dám cải cái cốt-cách của nguyên-văn đi vậy.
2.– Trong nguyên-văn có ba phần là: thơ, ký và y-án, mà thơ với ký là thuộc văn-học phổ-thông, ai
xem cũng hiểu và cũng thích xem. Còn cái y-án thì thuộc về chuyên-khoa, phi những nhà chuyên-môn
thì không hiểu được và cũng không thích xem. Bởi vậy những chỗ nói về bệnh-lý và đơn thuốc thì xin
lược đi một đôi câu để cho chú-trọng về một khoa văn-học; nếu những nhà y-sĩ có muốn tra-cứu cho
tường về khoa y-học của cụ Lãn-ông thời đã có nguyên-thư.
Hai điều phàm-lệ trên này: điều thứ 1 thời đứng vào địa-vị tiểu-chú; điều thứ 2 thì chỗ nào lược đi có
đánh dấu và chua một chữ “lược”, dịch-giả phải kính-cẩn như thế, là muốn cho văn-lý được hiển-minh
thêm và văn-thể được thuần-nhất mà đối với nguyên-văn không hại gì vậy, xin duyệt-giả thứ lỗi cho.
3.– Nguyên tác-giả chép việc du-lịch có quan-thiệp với các bậc quốc-vương đại-thần đương-thời, cho
nên nói đến những bậc ấy chỉ nói đến cái tôn-hiệu hay là quan-chức mà thôi, chứ không nói tên. Như
đầu sách nói niên-hiệu Cảnh-hưng thứ 43 là niên hiệu vua Hiển-tôn 顯尊nhà Hậu-Lê mà sau nói
“Thánh-thượng”, nói “Ngự-sàng” thì thường ngờ là vua Lê. Lại nói một vị đương-quốc đại-thần mà
chỉ nói quan “Chánh-đường” mà thôi. Như thế người đời sau xem văn mà không tra-cứu đến những
thời-sự và nhân-vật đương-thời, bất-miễn mang-nhiên không hiểu đầu đuôi cái việc du-ký ấy. Mà đã
không hiểu thì tất không lĩnh-hội được cả cái tinh-thần lập-thân hành-đạo của Lãn-ông tiên-sinh là thế
nào nữa. Bởi vậy dịch-giả đã gia-công tra-cứu những thân-thế sự-nghiệp của tiên-sinh và những thờisự nhân-vật có quan-thiệp đến tiên-sinh, biên-tập và làm một chuyện ký của tiên-sinh mà giới-thiệu lên
trước, xin duyệt-giả tham quan cho tiện.
Chương thứ I. Giã cố-sơn vâng ra kinh-quốc
Năm nhâm-dần, niên hiệu Cảnh-hưng 景興 thứ 43 (1781), tháng Mạnh-xuân, lúc đó trời quang mây
tạnh, hoa cỏ đua tươi, ở trước sân nhà U-trai của tôi, có mấy cái cây đang ra hoa kết quả, tuyết rủ
hương bay, tha-thướt bóng tà, hình như mĩ-nhân đâu vơ-vẩn. Những con đống-giao 凍蛟 thời bò ra
từng đàn, thỉnh-thoảng có mùi dị-hương. Dưới ao bình-trì về mé tây-viên thời cá thung-thăng dợn sóng
ra ăn vòng nguyệt. Mấy con oanh vàng líu-lô và thấm-thoắt đưa thoi trong cái bụi rậm um-xùm kia,
càng tỏ ra có cái ý sinh-dục của tạo-vật. Trong những khi ấy: có lúc thì tôi dắt mấy tên đồng lên chơi
núi, tha-hồ ngắm cảnh yên-hà mà giải-trí; có lúc thời tôi ngồi câu ở Nghinh-phong-đình 迎沨亭; có
lúc thì tôi dạo cung cầm ở Tị-huyên-lư 避暄廬; có lúc thì tôi xem sách ở Tối-quảng-đình 最廣亭; lại
có lúc thì tôi đánh cờ rồi ngủ ở Di-chân-đường 頣眞堂; tùy ý tôi thích chơi đâu thì chơi, ngày nào
cũng chén say la-cà ra rồi mới về. Đến ngày 12 tháng ấy, bỗng thấy hai người dịch-mục của quan Thựtrấn 署鎭 bản-xứ sai về, mới tới sân thì hai người cùng nói lên rằng: “Cụ lớn tôi có lời mừng cho cụ”,
tôi chưa hiểu ra việc gì, bèn bóc phong-thơ ra xem, thì thấy có hai đạo văn-thư như sau này.
Một đạo là bản sao lời truyền rằng:
“Quan Nội-sai-binh-phiên Trạch-trung-hầu 内差兵番澤忠候 phụng lời chỉ này mà truyền cho quan
Thự-trấn xứ Nghệ-an là Côn-lĩnh-hầu 琨嶺候 phải hỏi thăm cho được một người tính-danh là Lê HữuTrác 黎有卓, tục gọi “Chiêu Bảy”, con quan tiền Thượng-thư họ Lê, làng Liêu-xá 潦舍, huyện
Đường-hào 唐豪; nay vào ở quê mẹ làng Tình-diễm 情艶, huyện Hương-sơn; rồi phải lượng sai lính
trấn-binh tức-khắc đưa tiến kinh thi-mệnh.
“Nay chỉ truyền
“Ngày 29, tháng 11, năm Cảnh-hưng thứ 42”
Một đạo là thủ-thư của quan Thự-trấn đưa mừng tôi, đại-lược rằng:
“Một người học-trò nơi thảo-dã, mà nhất-đán danh tiếng đạt đến Cửu-trùng, thời thực đáng nên mừngrỡ cho con đường tiền-trình muôn dặm kia là đường nào.” Lại “Vương-mệnh bất-sĩ-giá 王命不俟駕
phải tức-nhật đăng-trình ngay, ra đến Vĩnh-doanh 永營 đã có lính trấn-binh đón cả ở đó để tiến-hành”.
Một người đem tin ấy lại bảo thầm tôi rằng: “Việc này là bởi quan Chánh-đường 正堂 cử-tri cho cụ
vào vào thăm ông Đông-cung-vương-thế-tử bị bệnh nặng đã lâu. Chuyến đi này không phải việc
thường, phải bội-đạo mà đi, bất-phân mộ dạ mới được”.
Tôi biết chuyện đầu đuôi rồi, kinh sợ vô-cùng, ngẩn người ra như thằng si, thằng ngốc đến một giờ lâu,
người trong nhà nghe thấy, kẻ biết tôi thì họ lo thay cho tôi, kẻ không biết tôi thì họ mừng thầm cho tôi,
không phải bàn đến cái việc của những bọn người nhà họ làm râm-ran cả lên một hồi bấy giờ nữa.
Nguyên quan Chánh-đường về hồi 4, 5 năm trước, ông phụng-mệnh ra trấn Hoan-châu 驩州 có mời tôi
xem mạch và chữa thuốc, ông đãi tôi là bậc thượng-tân, ăn cùng mâm, ngồi cùng chiếu, lễ-ý rất là
long-trọng. Sau ông có cái công bình được bọn hải-khấu, về triều làm đến Tam-công 三公, tín-dụng
không ai bằng. Tôi nghe tin mấy năm nay vẫn lấy làm lo canh-cánh ở trong lòng, thường nói chuyện
với học-trò rằng: “Tôi chắc thể nào cũng phải một phen lao-lục vào huyễn-điện ở chốn kinh-kỳ mà phụ
với cỏ hoa chốn cố-sơn này chớ chẳng không.” Đến ngày nay sự-thể quả như thế, tôi cũng ân-hận cho
tôi đi ẩn chưa được kín. Tuy-nhiên, ông là người có tài-đức như ông Cơ-công 姬公 ngày trước, đối
với những người thiên-hạ chi-sĩ, ai ông cũng đãi một cách nghiêm-cung tử-tế, nữa là ông đối với tôi.
Bấy giờ có một người giải-muộn cho tôi rằng: “Ông là một người uyên-súc và tinh-thâm về cái học
tính-mệnh, không làm nên một nhà lương-tướng thì cũng nên làm một nhà lương-y, đã đành cái sự sảnthái mai-quang, vẫn là cao-thượng, nhưng nay cửu-trùng tri-ngộ, tứ-hải nghe danh, thì lại không phải là
cái việc của kẻ trượng-phu đáng nên làm hay sao?” Tôi ngần-ngừ mà trả lời rằng: “Vị hoa nên người
ta hái, vị hư-danh nên phải lụy mình.” Vậy thời căng-danh sao bằng đào-danh có thú hơn không?”
Bấy giờ tôi bất-rứt không biết là dường nào, suốt đêm không ngủ, tự nghĩ thầm trong bụng rằng: “Mình
lúc thiếu-thời mài gươm, đọc sách, rồi phiêu đãng chốn giang-hồ, chốc ngoại mười-lăm năm, không
sở-đắc được một cái gì, sau vất bỏ cả công-danh ra ngoài về ẩn-cư ở dưới núi Hương-sơn này, vừa
nuôi mẹ, vừa xem sách cho được tiêu-dao trong cái vườn đạo-lý của ông Hiên ông Kỳ, mà tự lấy cái
sự bảo-thân tế-thế làm đắc-sách, hay đâu nhất-đán bị cái hư-danh nó làm lụy cho mình thế này.” Nghĩ
chán rồi tôi lại tự an-ủi lấy cho tôi rằng: “Mình khốn-tâm hành-lự về một khoa y-học đã ba-mươi năm
nay, tập được một bộ Tâm-lĩnh 心領, muốn đem vấn-thế, nhưng việc cả, nhà nghèo, khôn lẽ làm cho
xong việc, vậy xin quỉ-thần cảm-cách cái tấm thành-tâm này cho, thì chuyến đi chắc có chỗ tao-ngộ
cũng chưa biết chừng”. Nghĩ quanh tính quẩn như thế rồi bất-giác mừng hớn-hở cả người lên, bèn ra
tiếp-đãi hai người lai sứ và viết một phong-thơ để trả lời quan bản-trấn. Ông vốn là người tương-tri
với tôi, ông muốn làm tờ khải để nói thay cho tôi, nên tôi phải kê cả cái sự tôi đã suy-lão rồi, xin ông
chước-miễn đi cho. Hôm sau quan bản-trấn lại sai một tên thuộc-vệ đem một lá phiếu về, trong phiếu
nói rằng: “Bản-chức đã vát-thủ những thuyền-chích để đi duyên-giang cho tới trạm, vậy ông phải khởithân ngay, nếu còn trì-duyên thì sẽ can-hệ.” Mà kẻ trong nhà tôi chúng nó cũng cố hết sức khuyên dỗ
tôi, tôi biết thế-bất-đắc-dĩ, tức thì đạt giấy cho bọn đạo-đồ hợp lại; ngày mười-tư làm lễ tiên-thánh,
tiên-hiền, rồi hát một chầu; ngày mười-sáu bọn đạo-đồ thấy tôi có việc viễn-hành lại bày một tiệc hát
nữa; ngày mười-bảy tôi sắp-sửa nửa quảy đồ-thư, một bên cầm-kiếm, cho đem xuống thuyền để đi
đường thủy ra Vĩnh-dinh. Bấy giờ tân-khách đến chơi đông một nhà, kẻ thì xin thuốc, người thì tiễn
tiền, dùng-dằng chẳng nỡ chia tay, mãi đến lúc mặt trời đã xế non đoài mới nhổ sào xuôi, lúc đó tôi
ngồi ở trong thuyền, đối-cảnh hàm-tình, lòng khách chứa-chan không biết là chừng nào, mới ứng-khẩu
đọc ra một bài thơ rằng:
流水何太急
行人意慾遲
羣山分岸走
一揁劈烟飛
沙雁親如送
遊魚急欲追
雲間香嶺樹
太半已斜暉.
Nước chảy đâu mà vội,
Hành-nhân vẫn lững-lờ.
Trèo đèo lên đám khói,
Núi chạy rẽ đôi bờ.
Cá sông đưa tất-tả,
Nhạn cồn tiễn ngẩn-ngơ.
Mây ám cây Hương-lĩnh,
Bóng hôm nửa rõ mờ.
Đêm hôm ấy, thuyền đi dưới bóng trăng, trông ra làng-mạc hai bên bờ sông đều im-ả cả, thỉnh-thoảng
tiếng chó sủa theo thuyền đi, một vầng minh-nguyệt, vằng-vặc lòng sông; đôi ngạn hải-trào, mênh-mông
bến khách; chuông nện chùa xa văng-vẳng, sương sa bụi dặm mịt-mù; mấy ngọn ngư-đăng hiu-hắt, vài
đôi âu-lộ sóng bày. Bọn đạo-đồ tùy-hành ai nấy mượn chén tiêu-sầu. Tôi bèn ngâm một thiên tiểu-luật
để tự-tình rằng:
一江烟水靖
客思满關河
風重征帆急
霜深去雁斜
寒山來夜磬
遠浦出漁歌
今夕猶如此
明朝且奈何.
Một dải sông quang tạnh,
Xui lòng khách chứa chan.
Gió mạnh buồm xuôi chóng,
Sương mù nhạn rẽ ngang.
Véo-von chài viễn-phố,
Lanh-lảnh khách hàn-san.
Ấy cảnh đêm nay thế,
Mai biết đâu mà bàn.
Gà gáy đến Vĩnh-dinh, cắm sào trước bến đi nghỉ được một chốc. Sáng mười-tám đổ bộ, vào yết quan
Thự trấn thì ông đợi tôi đã mấy hôm, nhân nhà ông có tiên-kỵ, nên ông phải về quê rồi, chỉ dặn lại
người thuộc-viên sắp-sẵn lính bản-dinh với năm quan tiền để cung bản-phí mà nói rằng: “Quan tôi có
tiên-kỵ phải về quê không kịp tiếp cụ, có chút vi-thành này xin cụ tỏ tình cho.” Quan Thự-trấn lại phái
một quan Văn-thư đem ba-mươi tên lính bản-đạo và sắp đủ khẩu-lương để đi hộ-tống. Ngày hai-mươi
quan Văn-thư sửa-sang hành-lý đăng-trình, nhưng bọn lính tùy-hành ấy chưa đủ lương, còn phải đi vay
giật, mãi đến quá trưa mới trẩy được. Tôi nghỉ ở trạm xã Kim-khê 金溪, quan Văn-thư làm lễ vào yết
miếu ở làng ấy; ông có đặt một tiệc hát mà cho mời tôi, tôi đến thì thấy một “cô đồng” đang hầu giá
nhà thánh ngồi trên sập, vừa đảo vừa đang lảm-nhảm nói, có người bảo tôi rằng: “Thánh-mẫu đây linhứng lắm, cụ thầy nhân vô Kinh, có muốn cầu việc gì thì sao không ra mà kêu ngài.” Tôi nói: “Phàm ai
cũng cầu lấy cái sở-đắc, chứ có ai cầu lấy cái sở-thất, bụng tôi không có nguyện-đắc cái gì, thì còn cầu
mà làm chi.” Cô đồng nghe nói tủm-tỉm cười, quan Văn-thư cũng trông tôi cả cười. Nửa đêm tan tiệc,
ai nấy đều về nhà trọ nghỉ, sáng sớm tinh sương ngày hai-mươi mốt chúng tôi khởi-hành, bấy giờ gặp
trận mưa dầm tầm-tã, một tụi hành-nhân rét-mướt quá thể, mà trông lên đàng trước mặt thì núi san-sát
dãy dài hàng mấy trăm ngọn, đường sá gập ghềnh, tôi thấy đường đi bạt-thiệp gian-nan như thế, bấtgiác buột miệng ngâm nga một câu rằng:
南望千山如黛色
愁君客路在其中.
Trời nam sắc nước như chàm,
Thương anh lẽo-đẽo dặm đàng còn xa.
Đường đi qua Cấm-sơn 禁山, sang đò Cấm-giang 禁江, tới bến Thiết-cảng 鉄港. Lúc đó hơi mặt bể,
khói đầu non, bốc lên nghi-ngút, thực như câu:
Núi này trăm sáu ngọn cao,
Chẳng may sư cụ nẻo nào ra vô.
Độ trong vài bước mà không ai trông thấy ai, chỉ nghe tiếng chim kêu vượn hót ở trên tầng mây, nhác
xem cái thú sơn-lâm ấy, hình như có ý khiến cho tôi phải đối-cảnh sinh-tình mà có điều cảm-súc thầm
ở trong bụng rằng: ba-mươi năm nay, cái đám lợi danh kia, mình đã buông theo với dòng lưu-thủy, để
cho được ưu-du trong cái chỗ suối rừng, lấy một chữ nhàn làm đắc-sách; ai hay đã không có cái bụng
lợi-danh mà lại hóa ra làm cái thân danh-lợi thế này, thật chỉ vì mình không chân-độn được nên mới
phải thế, nhân cảm-hoài nên một bài thơ để dãi lòng rằng:
遯世從醫養一眞
不知爲富豈知貧
林泉欲了三生道
綸綍難辭萬里身
半擔烟霞勞驛馬
满山猿鶴送征人
虛名自揣無他秘
只恐疎狂對聖君.
Nương-náu nghề y để dưỡng-chân,
Nghĩ chi là phú nghĩ chi bần.
Suối rừng quanh-quẩn khuây vì đạo,
Chiếu mệnh xa vời phải dấn thân.
Nửa gánh yên-hà thêm nhọc trạm,
Đầy ngàn viên hạc rộn đưa chân.
Biết ai đâu nữa mà mang tiếng,
Luống sợ sơ-cuồng trước thánh-quân.
Tối hôm ấy đến chợ Đông-điệp 東曡, nghỉ lại …(lược)… Sáng mai tôi cho một tên tùng-nhân đến cáo
với quan Văn-thư để cho bọn chúng tôi đi trước, mà hẹn đến trạm chợ Hoàng-mai 黄梅 thì cùng nghỉ,
vì quan Văn-thư nhân có việc quan chưa xong, còn phải đóng ở đó, nên y vâng lời ngay. Ngày haimươi-hai tôi đưa bọn tùng-nhân đi trước ra mé tây núi, núi ấy một dải liền nhau, ngọn thì ẩn, ngọn thì
hiện ở trên đám mây trắng, lại có mấy quả núi nhỏ li-quần mọc ra bên đường, bóng chiều phơn-phớt
hoe-hoe ánh ra ngoài đồng bằng. Tới núi Long-sơn 龍山 thì thấy một chỗ độ một cung đất, trong có
những cây cổ-thụ um-tùm, dâm-dâm man-mát, thật là xinh thay; đá cuội thì thâm-thấp như cái đẳng bày
hàng tề-chỉnh. Tôi mới cho đỗ cáng lại ở đó để đi du-ngoạn một lát, nhân đề một bài thơ lên vách đá
rằng:
依山崗作寺
徬石架山鍾
細雨描春草
明霞落晚松
人吟殘照裏
鳥語亂林中
奉詔趨行驛
勤勢笑懶翁.
Chùa dựng bên sườn núi,
Chuông cheo mỏm đá hòn.
Mây quyến thông già rụng,
Mưa vờn cỏ xuân non.
Bóng xế người ngâm-ngợi,
Rừng rậm chim véo-von.
Nực cười cho ông Lãn,
Phụng chiếu cũng lon-son.
Đề rồi giục-giã lên đường, đến chợ Hoàng-mai thì chiều hôm nghỉ lại, mà cũng chưa thấy quan Vănthư đến. Sáng hôm sau tôi sai lính bản-dinh cứ khởi-hành, đến chiều thì quan Văn-thư mới tới nơi, y
nói với tôi rằng: “Tôi sợ lính đi đường không đủ dùng, mà số lính quan bản-trấn tôi phụng-mệnh
truyền để kén ở các nơi huyện-thành chưa đủ, nên tôi muốn bắt thêm mấy người nữa để đài-tải hộ vào
mà đi cho chững-chạc.” Tôi nói: “Đi đây có mấy hột tiền lương mà phải lo chi việc ấy.” Sáng ngày
hai-mươi-ba đi ra cầu Kim-lan-mạn 金蘭蔓橋 rồi đến suối Lãnh-thủy 冷水溪 cái chỗ Thanh Nghệ
giáp-giới nhau, thấy một bọn hành-nhân đứng ở bên đường, trông thấy tôi thì họ đều chào vái; hỏi ra
thì là người ở một làng bên đường đó, họ mới ở Kinh về, tôi cũng dừng võng lại nói chuyện ít lâu mới
đi. Lúc đó tôi niềm quê nỗi khách, ngổn-ngang trong lòng, nhân ứng-khẩu ngâm ra một bài thơ rằng:
驩愛分彊地
羣山亙送迎.
樵歌雲路出
鳥語谷風生.
伏石當途立
遥天斷碧橫.
行人說鄉思
惟我上神京.
Chỗ này giáp Hoan Ái,
Non nước đón đưa ta.
Trong hang tiếng chim gáy,
Trên mây giọng tiều ca.
Đá vầng ngăn trước lối,
Mây biếc chặn đàng xa.
Tiến Kinh duy có lão,
Còn họ chỉ chuyện nhà.
Ngày hôm đó trời xuân êm-ả, đường bộ thảnh-thơi, hôm đến chợ Thổ-sơn 土山 trọ lại. Chợ ấy có một
cái đồn-binh của trấn Thanh-hoa phân-phái ra đóng trú-phòng ở đó, binh-khí cũng nhiều, thấy bọn
chúng tôi họ giữ lại xét hỏi, sau biết chúng tôi đi có phụng-mệnh, họ mới xúm lại xin lỗi rồi lui ra.
Ngày hai-mươi bốn, sáng sớm tiến-trình; bấy giờ mây kéo đen dầm tứ phía, sương khói mù-mịt, gió rét
lạnh-lùng, dẫu mặc áo bông dày cũng phải rét run lên cầm-cập. Đi mấy giờ nữa mới đến bờ bể Hàomôn 豪門; trông ra một nước một trời, sóng vỗ mênh-mang muôn dặm. Nhân sực nhớ đến cái việc ông
Tần-Hoàng 秦皇và ông Hán Vũ 漢武帝 khi xưa, phí biết bao nhiêu là tâm-tư, nào cái thuật đánh cho
đá phải chạy lồng lên rồi bỏ vào túi vân-nang mà quảy, thế mà rút cục lại cũng chẳng trông thấy cái hút
bóng chỗ Bồng-lai tiên-cảnh ở đâu cả, thì thực là suyễn-mậu chi thậm!-Lại cổ-nhân thường cho cái
đám quan-trường là nơi hoạn-hải là biết trong chỗ phù-trầm có cái nguy-cơ; lúc đó tôi vừa hết sức
ngắm cảnh yên-ba vừa ứng-khẩu ngâm một bài thơ rằng:
海岸驚行客
蒼茫萬里秋
波濤震鰲極
雲霧起天摳
浴日千重浪
隨風一葉舟
古人嗟宦海
深意在沉浮.
Khách đi trên mé bể,
Ghé trông tít-mù khơi.
Sóng mênh-mang mặt đất,
Cơn ngùn-ngụt chân trời.
Nước lau vầng nhật xế,
Gió giục chiếc thuyền bơi.
Ý thâm chữ hoạn-hải,
Là chìm nổi đòi nơi.
Hôm ấy quan Văn-thư sai chọn ba cái mành để sang cửa Cự-nham 巨岩mà đổ bộ, vào chợ Hàng-cơm
trọ lại; ngày hai-mươi-nhăm đi lên con đường thượng-đạo mà con đường hạ-đạo thì là cửa bể Thầnphù 神符, qua mấy chỗ tôn-lăng tôi đều xuống võng đi bộ, tối đến một cái chợ nghỉ lại; sáng haimươi-sáu ra đi, chiều hôm sang đò Đài-xước 薹逴 đến chợ Huyện nghỉ-ngơi, ăn cơm chiều, bỗng đâu
thấy một người ăn bận mũ áo thầy tu, tay cầm gậy trúc đi đến, xem ra có vẻ phiêu-nhiên xuất-trần, tôi
lấy làm lạ, mới hỏi chủ hàng, chủ hàng nói: “Người là trụ-trì-tăng ở chùa bản-tự trên núi đấy, người
xem bói hay lắm.” Tôi liền cho tên dược-đồng ra mời vào hàng, phân chủ khách ngồi xong, tôi nói:
“Tôi nghe tiếng sư cụ người đây, thâm-minh về Dịch-lý, tôi muốn nhờ người xem cho một quẻ về con
đường tiền-trình thế nào, có nên chăng?” Nhà sư không hề từ trối, trả lời ngay rằng: “Nay quan muốn
xem việc gì thì cứ thành-tâm mà xem là linh-ứng ngay.” Tôi bèn kể đầu đuôi cho nhà sư nghe; nhà sư
nghĩ độ một phút rồi nói to lên một câu rằng: “Quẻ này tốt lành lắm, đích là một việc phi-thường.” Tôi
nói: “Quân-tử hỏi điều dữ chứ không hỏi điều lành, có thế nào người cứ nói thực.” Nhà sư nói: “Tôi
xem quẻ này là quẻ “Nguyên-thủ”, có cái tượng “quân minh thần lương”; trong quẻ hào Chu-tước 朱
雀thừa vượng, hào Thanh-long 青龍 cư trung; hào Bạch-hổ 白虎 cư mạt, Quí-nhân 貴人lâm vào bảnmệnh, Dịch-mã 驛馬ứng vào hành-niên, quẻ này đích là cái điềm được trưng-triệu, ba lần truyền mà
nhật can 日干thời-chi 辰支cùng được lục-hợp, thật là cá nước duyên ưa, rồng mây gặp hội, tốt lành
lắm! Nhưng chỉ hiềm hào Bạch-hổ nó nhập tù thì lo lúc vào đến Kinh lại bị bệnh.” Tôi nghe nói nghĩ
thầm trong bụng rằng: “Người này hình-mạo thì nham-cổ mà học-thức thì tinh-vi, chắc có cái kiến-thức
xuất-nhân, nhưng chỉ hận rằng gặp khí muộn quá, không dò được hết chỗ uẩn-để của người ta.” Tôi
mới kể qua đầu đuôi cái chuyện thực của tôi một lần và nói rằng: “Chỗ tôi ở tuy là một nơi rừng hang
hẻo-lánh, nhưng cái thú u-nhân, trăng mặt bể, mây đỉnh non kia lưu-luyến đã thành ra nghiện mà không
thể rời ra được, không biết bao giờ tôi lại được phản-hồi chỗ đó cho được giong chơi với bầy mi-lộc,
đối-thoại với bọn ngư-tiều ở dưới bóng tịch-dương ấy?” Nhà sư nghe tôi nói cũng ta-thán mãi mà
rằng: “Miếng cao-lương làm mê cho tạng-phủ người ta, sao người ta thì mê mà chỉ có một ngài đây là
tỉnh như vậy? Tuy-nhiên, quẻ này xem ra “chủ khách vinh-vượng, thượng-hạ sinh-hợp”, nên chưa đoán
được quan bao giờ được về.” Tôi nghe thôi thở dài mấy tiếng, rồi sai tên dược-đồng lấy tiền ra hậutặng nhà sư; nhà sư kiên-từ và cười rằng: “Quan đi đây, xin ngài chỉ cho nhà chùa tôi vài chén kínhtửu là đủ.” Tôi liền sai người tùng-giả ra hàng mua một hồ rượu ngon đem lại; nhà sư mừng lắm, hai
tay nâng lấy mà rót ra đầy một cái bát lớn, cũng chẳng hỏi gì đến đồ nhắm, há ngay miệng ra mà nốc
một hơi như long cuốn thủy cho rõ hết, rồi nhổ nước dãi uống gầm giường mà khen lên một tiếng rõ to
rằng: “Ngon!...” Đoạn rồi chào tôi mà từ-biệt. Bấy giờ tôi mới ra lên một cái đò đồng để đi, đến chiều
tới chỗ trọ, quan Văn-thư đi đến chỗ nhà trọ tôi bảo tôi rằng: “Cụ với chúng tôi đi chuyến này là việc
công-sự rất khẩn-yếu, thế mà mỗi ngày đi không được năm-mươi dặm; trong lời chỉ-truyền bữa nọ nói
rằng: Ngày mồng mười đến Vĩnh-dinh, ngày 11 tới nhà cụ, mà nay gần nửa tháng rồi, đường trường còn
những sáu bảy ngày nữa, trì-duyên như thế, lúc vào trình tôi lấy làm ngại lắm; xin cụ liệu chọn lấy
những người lính nào cường-tráng cho bội-đạo đi suốt ngày, đêm khuya sẽ nghỉ; còn những người lính
nào yếu đuối thì cho ở lại.” Tôi cười mà rằng: “Bác cần gì việc ấy, tuy chỉ-truyền rằng mười một đến
nhà tôi, nhưng tôi còn đi chữa thuốc vắng, quãng đó lại còn phải đi tìm tôi mất mấy bữa; sau đi thì lại
bị dọc đường mưa gió ngăn trở, như thế tưởng có mọc cánh ra hôm nay cũng vị tất đã tới nơi được.”
Ông quan ấy cười mà rằng: “Rồi cũng phải thế mới xong.” Nói thôi pha trà uống mà đàm-tiếu với
nhau, đoạn đều về nhà trọ nghỉ; gà gáy ngày hai-mươi-bảy giục nhau ra đi, quãng đường ấy tinh những
núi non bao-bọc, mù-mịt khói mây, bầy hươu cái thấy tiếng người đi mà chạy bổ lên; đàn chim đang
ngủ trên cành nghe tiếng người nói chuyện mà bay vọt ra; đó là ngàn Ba-đội 巴隊. Lên đến đỉnh ngàn
mới thấy nhỏ bóng chiêu-đôn, sương tan chưa hết, một tụi hành-nhân áo quần ướt-thướt cả; tôi mới cho
đóng lại vào một cái quán bỏ không trên đỉnh ngàn, để đánh lửa hơ áo và sưởi và sai tên tùng-nhân lay
một hòn thạch-bàn, tôi bèn ngồi lên thạch-bàn tựa vào cành lá dưới gốc cổ-thụ, rồi gọi dược-đồng đun
nước pha trà, nhà bếp thì đi làm bữa tảo-phạn mà cho mời quan Văn-thư đến chén với tôi. Đang khi
đăng-cao vọng-viễn, cái ý-thú nó làm cho tôi lang-láng không biết là chừng nào, tôi vừa toan đọc một
đôi câu cổ-thi để khiển-hứng thời bất-giác buột miệng đọc ngay lên rằng:
雲橫秦嶺家何在
雪擁藍關馬不前.
Mây ám non Tần nhà khuất nẻo,
Tuyết phong ải Bắc ngựa lùi chân.
Ngâm thôi dường như có điều súc-động bên lòng, lẳng-lặng chẳng muốn nói-năng chi nữa, quan Vănthư thấy tôi ra dáng buồn, y cười mà rằng: “Ở đây cỏ hoa đua nở, riêng một càn-khôn, chẳng khác gì
phong-vị ở Hương-sơn, mà sao cụ súc-cảnh sinh-tình, dường như không được vui, cụ lầm rồi, chứ sĩquân-tử ở đời có hai cách là xuất với xử, xử thời lấy đạo mà tự-lạc, xuất thời lấy đạo mà tế-thời, cụ
náu hình ở nơi thâm-sơn cùng-cốc, mà nhất-đán trên cửu-trùng biết tiếng, quan đại-thần trọng-đãi, thực
là một dịp kỳ-phùng hiếm có đó, chớ sao cụ lại thế?” Tôi nói: “Quí-hầu dạy quá lời, khiến cho người
ta thêm thẹn. Cổ-nhân người ta tài cao học rộng, uẩn-súc kinh-luân, cho nên lúc xử thì mai-quang sảnthái, lúc xuất thì trí-quân trạch-dân, chớ như tôi đây học-hành lõm-bõm, tài-trí hẹp-hòi, đã vô-dụng
với đời, may vớ được một cái bạc-nghệ để tùy-thân là tốt, còn ngờ đâu nhất-đán thế này, thật là không
xứng, chứ còn gọi là may thế nào được.” Quan Văn-thư nói: “Tôi đã vẫn được thấy quan tôi những...
 





