BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Viếng Lăng Bác - Bài giảng

    Tổng ôn Ngữ Văn 12 luyện thi THPT Quốc gia - Phạm Minh Nhật

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 16h:18' 19-03-2024
    Dung lượng: 1.8 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

     


     

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

    Lời nói đầu : Khi các em cầm cuốn sách này trong tay , có nghĩa là
    các em thực sự mong muốn được đỗ đại học, và khát khao đạt được
    điểm số tối đa trong môn Ngữ Văn kì thi THPT QG năm 2017, được làm
    nghề mình yêu thích và không phụ lòng kì vọng của bố mẹ ăn học 12
    năm trời.
    Thầy hy vọng với cuốn sách này, các em sẽ thực sự được thăng hoa văn
    chương và chinh phục kì thi năm nay.
    Với kết cấu mới 3-2-5 mà trước đây là 3-3-4 ( năm 2016)
    3 điểm ( Đọc hiểu )
    2 điểm ( Nghị luận xã hội )
    5 điểm ( Nghị luận văn học )
    Dưới đây là đề thi thử nghiệm năm 2017 ( đề sẽ giống với đề thi thật
    năm 2017 để học trò tham khảo )


     

    Tron Bo SGK: https://bookgiaokhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

    Nhận xét đề câu đọc hiểu phần lớn nhằm mục đích tốt nghiệp và
    không mang quá nhiều yếu tố về phân loại học trò
    VD câu 3 tìm tác dụng của phép điệp từ ( nghĩa là chỉ cần chỉ ra hiệu
    quả và không cần tìm thủ pháp nghệ thuật ? )
    VD Câu 4: điều em tâm đắc nhất của đoạn trích ? ( một câu hỏi mà giáo
    viên chấm bài cũng không trừ được điểm của thí sinh.
    Ở câu nghị luận xã hội : Bàn về niềm tin cuộc sống rút ra từ Đọc hiểu
    Về bản chất NLXH là phần dễ nhất của một đề thi đại học bởi mỗi người
    có cách tư duy và trình bày về vấn đề khác nhau, là dạng đề mở và cho
    phép học trò thỏa sức bộc lộ suy nghĩ của mình về cuộc sống. ( không
    đòi hỏi thuộc lòng kiến thức ngữ pháp và các tác phẩm văn học )

    Vậy mẫu đề này phân loại học trò ở đâu ???
    Đó chính là nằm ở câu cuối phần Nghị Luận Văn Học : Phân tích vẻ
    đẹp của sông Hương trong bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng
    Phủ Ngọc Tường để làm rõ quan điểm “ sông Hương không chỉ mang
    vẻ đẹp trời phú mà còn ánh lên vẻ đẹp con người” ( một tác phẩm luôn
    là thách thức với thầy trò trong việc ôn thi ngữ văn hàng năm ) bởi lẽ tùy

     

    Tron Bo SGK: https://bookgiaokhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

    bút , bút kí là thể loại văn chương kén người đọc và kén người viết. Câu
    có tính chất phân loại cao đòi hỏi học trò nhớ dẫn chứng và lập luận chặt
    chẽ. Đó chính là điều ta cần lưu tâm trong kì thi năm nay.
    Để giúp cho các em đạt tối đa điểm của NLXH thầy Phạm Minh Nhật đã
    chuẩn bị hành trang cho các bạn là những bài bình giảng hay về tất cả
    các tác phẩm văn chương trong chương trình giảng dạy lớp 12, hãy
    nghiên cứu kĩ và thi đạt kết quả cao nhé !
    Chúc các em thành công.

    Thầy Phạm Minh Nhật
    Facebook : Phạm Minh Nhật ( thầy Nhật dậy Văn )
    Sdt: 0167 255 0683
    Fanpage : Lớp văn thầy Nhật chuyên ôn thi ĐH 11,12
    Fanpage : Trung Tâm Luyện Thi Tiến Đạt
    Add: số 8 ngõ 17 tạ quang bửu - hà nội

     

    Tron Bo SGK: https://bookgiaokhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

    Bài 1: Tuyên ngôn độc lập
    Trong sự nghiệp sáng tác của Hồ Chí Minh, thơ và truyện chỉ chiếm một
    phần nhỏ còn chủ yếu là văn nghị luận, những tác phẩm chủ yếu phục vụ
    cho sự nghiệp chính trị cuả Người. Trong số những tác phẩm của Bác có
    những kiệt tác sánh ngang với các thiên cổ hùng văn của dân tộc thì
    Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm tiêu biểu nhất.
    Tác phẩm có giọng văn hùng hồn thống thiết, có lí luận chặt chẽ sắc bén,
    có sức thuyết phục cao đối với người đọc và người nghe- Bản Tuyên
    ngôn Độc lập là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh
    đã hi sinh của những con người anh hùng Việt Nam trong nhà tù, trong
    trại tập trung trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến
    trường. “Bản tuyên ngôn Độc lập” là kết quả của bao nhiêu hi vong,
    gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam
    Tuyên ngôn Độc lập mở đầu là nêu thẳng vấn đề. Người nêu những căn
    cứ pháp lí, “những lẽ phải không ai chối cãi được”. Đó là những câu
    tuyên bố nổi tiếng được Bác rút ra từ hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của
    Pháp và Mĩ. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ: “Tất cả
    mọi người đều sinh ra… mưu cầu hạnh phúc”. Để làm nổi bật tính phổ
    biến của những lẽ phải, Người còn nêu những lời trong Tuyên ngôn
    nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra… về
    quyền lợi). Cách nêu dẫn chứng như thế vừa khéo léo vừa kiên quyết.
    Khéo léo vì tỏ ra tôn trọng chân lí chung dù chân lí ấy của các nước
    đang là kẻ thù gây ra. Cách nêu dẫn chứng ấy cũng hàm chứa một sự
    phê phán. Thực dân Pháp và đế quốc Mĩ- những kẻ xâm lược đã chà đạp
    lên chân lí, chà đạp lên lương tâm và lý tưởng của cha ông chúng. Đó là
    cách dùng lí lẽ của kẻ thù để chống lại kẻ thù, dùng gậy ông đập lưng
    ông. Hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ đều nhấn mạnh quyền con
    người, Bác nói thêm về quyền dân tộc. Câu nói của Người mở đầu cho
    trào lưu giải phóng dân tộc trên khắp thế giới. Đồng thời, đặt Bản tuyên
    ngôn của nước ta ngang hàng với hai bản tuyên ngôn đã nêu.
    Bác lập luận như vậy là để kết tội thực dân Pháp. Những lời bất hủ trong
    hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ đã trở thành cơ sở pháp lý để Bác

     

    Tron Bo SGK: https://bookgiaokhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

    kết tội thực dân Pháp. “Thế mà đã hơn 80 năm nay… nhân đạo và chính
    nghĩa” Sau khi kết thúc một cách khai quát tôị ác của thực dân Pháp, bản
    tuyên ngôn nêu lên những dẫn chứng cụ thể để lật mật nạ “bảo hộ” của
    thực dân Pháp trước toàn thể nhân loại: “Về chính trị, chúng tuyệt đối
    không cho… dân chủ nào”. Lời kể tội của tác giả hùng hồn và đanh
    thép. Cách lập luận trùng điệp như: “Chúng thi hành…”, “Chúng lập
    ra…”. “Chúng thẳng tay chém giết…” thể hiện được tội ác chồng chất
    của thực dân Pháp đối với nhân dân ta. Cách dùng hình ảnh của tác giả
    làm nổi bật sự tàn bạo của thực dân Pháp: “Chúng thẳng tay chém giết
    những người yêu nước… chúng tắm các cuộc… bể máu”
    Về kinh tế, Bác cũng kết tội thực dân Pháp từ khái quát đến cụ thể
    “Chúng bóc lột dân ta đến… tiêu điều”. Bác quan tâm đến những hạng
    người như: “dân cày và dân buôn trở nên bần cùng”, “chúng không cho
    các nhà tư sản ta ngóc đầu lên”. Lập luận như vậy là Bác muốn tranh thủ
    sự ủng hộ của khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc bảo vệ nền
    Độc lập. Cả đoạn văn tác giả chỉ dùng một chủ ngữ “chúng” để chỉ thực
    dân Pháp, nhưng vị ngữ thì luôn thay đổi: “thi hành”, “lập ra”, “thẳng
    tay chém giết”, “tắm”… chỉ một ke thù là thực dân Pháp nhưng tội ác
    của chúng gây ra trên đất nước ta vô cùng nhiều. Cách lập lụân đanh
    thép cùng với những dẫn chứng cụ thể khiến kẻ thù hết đường lẩn tránh
    tội ác.
    Tội ác lớn nhất của thực dân Pháp gây ra là nạn đói khủng khiếp năm
    1945: “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để
    mở thêm căm cứ đánh đồng minh thì thực dân Pháp quì gối đầu hàng,
    mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó, nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích:
    Pháp và Nhật. Từ đó, nhân dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là
    cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì hơn 2 triệu
    đồng bào ta chết đói”. Tác giả cũng không bỏ xót nhữung tội ác khác
    của bọn thực dân Pháp như “trong năm năm chung bán… cho Nhật”, tội
    thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa, tội “giết nốt số đông tù chính trị
    ở Yên Bái và Cao Bằng.”
    Người kết tội thực dân Pháp một cách hùng hồn và đanh thép như vậy
    nhằm phơi bày bản chất tan bạo, dã man của thực dân Pháp, lột mặt nạ

     

    Tron Bo SGK: https://bookgiaokhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

    “khai hoá', “bảo hộ” của chúng trước nhân dân thế giới, khơI lòng căm
    thù của nhân dân ta với thực dân Pháp. Tác giả biếu dương sức mạnh
    dân tộc tỏngcông cuộc chống thực dân phong kiến và giành lấy nền Độc
    lập “Pháp chạy, Nhật hàng…chế độ dân chủ cộng hoà”. Đoạn văn này
    diễn tả đầy hào khí. Chỉ có 9 chữ “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại
    thoái vị”, Bác dựng lại cả một giai đoạn lịch sử đầy biến động và cực kì
    oanh liệt của dân tộc ta. Biểu dương truyền thống bất khuất của dân tộc,
    tác giả nhằm kích thích tinh thần tự hào dân tộc, kích thích ý chí chiến
    đấu để nhân dân ta quyết tâm chống lại âm mưu của thực dân Pháp.
    Tiếp theo, Người nêu cơ sở chính nghĩa của việc thành lập nước Việt
    Nam mới. Việt Minh là tổ chức cách mạng của toàn bộ dân tộc Việt
    Nam. Việt minh đã đứng về phe đồng minh, đã chống lại thực dân Pháp
    và phát xít Nhật và đã giành chính quyền từ tay Nhật. Hai lần Người
    nhấn mạnh nền Độc lập của đất nước bẳng những câu văn điệp ngữ
    mạnh mẽ: “Sự thật là…”.
    Trên cơ sở ấy, Người tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng
    hoà, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với thực dân Pháp, xoá bỏ trên đất
    nước Việt Nam…”
    Cuối cùng thay mặt cho cả một dân tộc vừa giành được tự do độp lập.
    Người nêu lời thề “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và
    của cảI để giữ vững quyền tự do Độc lập ấy”- Tuyên ngôn Độc lập là
    kiệt tác của Hồ Chí Minh. Bằng tâm huyết và tài hoa, Người đã thể hiện
    được khí phách của một dân tộc đang vùng dậy chống đế quốc, thực dân
    phong kiến, giành Độc lập tự do cho nước nhà. Với Tuyên ngôn Độc
    lập, lần đầu tiên Việt Nam hiện diện trên trường quốc tế với tư cách là
    một nước tự do và Độc lập và nhân dân thế giới cũng thấy được tinh
    thần quyết tâm bảo vệ nền Độc lập của dân tộc Việt Nam.

    Tuyên ngôn Độc lập trước hết là một văn kiện lích sử. Nó là bản văn
    quan trọng bậc nhất của nước ta. Để có được Tuyên ngôn Độc lập, biết
    bao đồng bào, đồng chí đã hy sinh trong suốt 80 năm chống Pháp. Tuyên
    ngôn Độc lập là một cột mốc lịch sử, nó chấm dứt giai đoạn mất nước,

     

    Tron Bo SGK: https://bookgiaokhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

    giai đoạn nhân dân ta sống kiếp ngựa trâu, nô lệ của dân tộc, nó mở đầu
    một kỉ nguyên mới: ki nguyên Độc lập tự do.
    Với hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, giọng văn hùng hồn, thống
    thiết, Tuyên ngôn Độc lập xứng đáng sánh ngang với các bản tuyên
    ngôn trên thế giới và các thiên cổ hùng văn của các dân tộc khác như
    Hích tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn
    Trãi…

     

     

    Tron Bo SGK: https://bookgiaokhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

    Bài 2: Tây Tiến 
    Đặt vấn đề: Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, bụi thời gian có thể phủ
    dày lên hình ảnh của những anh hùng vô danh, nhưng văn học với sứ
    mệnh thiêng liêng của nó đã khắc họa một cách vĩnh viễn vào tâm hồn
    người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước đã ngã
    xuống vì nền độc lập của Tổ quốc trong suốt trường kỳ lịch sử. Và “Tây
    Tiến” là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu của Quang Dũng cũng đã
    dựng lên một bức tượng đài bất tử như vậy về người lính cách mạng
    trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Đó là
    bức tượng đài đã làm cho những người chiến sĩ yêu nước từng ngã
    xuống trong những tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian
    “Sông Mã xa rồi TâyTiến ơi!
    Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”
    Thân bài:
    Nhắc đến nhà thơ Quang Dũng, chúng ta nghĩ ngay đến tác phẩm để đời
    của ông – Tây Tiến. Bởi lẽ nó đã gắn bó 1 thời sâu sắc với nhà thơ. Tây
    Tiến là 1 đơn vị bộ đội thời kháng chiến chống Pháp được thành lập năm
    1947 làm nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao sinh lực địch
    ở vùng Thượng Lào, trấn giữ 1 vùng rộng lớn ở Tây Bắc nước ta và biên
    giới Việt Lào. Quang Dũng từng là đại đội trưởng cuả binh đoàn Tây
    Tiến nhưng đến đầu năm 1948 vì yêu cầu nhiệm vụ ông chuyển sang
    đơn vị khác. Bài thơ được sáng tác cuối năm 1948 khi nhà thơ đóng
    quân ở Phù Lưu Chanh_ 1 làng ven bờ sông Đáy, nhớ về đơn vị cũ ông
    đã viết nên bài thơ. Lúc đầu, ông đặt bài thơ là “Nhớ Tây Tiến” nhưng
    về sau đổi lại thành “Tây Tiến” vì cả bài thơ đã là một nỗi nhớ và chỉ với
    2 từ “Tây Tiến” cũng đủ gợi lên nỗi nhớ – cảm hứng chủ đạo trong toàn
    bộ bài thơ.
    Là 1 người lính trẻ hào hoa, lãng mạn ra đi theo tiếng gọi của Tổ quốc,
    sống và chiến đấu nơi núi rừng gian khổ nhưng chất thi sĩ vẫn trào dâng
    mãnh liệt trong lòng nhà thơ. 1 thời gắn bó sâu đậm với Tây Tiến, với
    đồng đội, với núi rừng đã làm cho ông ko khỏi bồi hồi, xúc động khi nỗi
    nhớ về Tây Tiến dâng trào trong kí ức cuả nhà thơ.
    “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

     

    Tron Bo SGK: https://bookgiaokhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
    Câu thơ như tiếng gọi chân thành , tha thiết xuất phát từ trái tim và tâm
    hồn người thi sĩ. Bằng cách sử dụng câu cảm thán và thủ pháp nghệ
    thuật nhân hoá, câu thơ trở nên đẹp diệu kỳ. “Sông Mã” ko đơn thuần là
    1 con sông – nơi đã từng là địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến –
    mà nó đã trở thành 1 hình ảnh hiện hữu, 1 chứng nhân lịch sử trong suốt
    cuộc đời người lính Tây Tiến với bao nỗi vui_buồn, được_mất. “Tây
    Tiến” ko chỉ để gọi tên 1 đơn vị bộ đội mà nó đã trở thành 1 người bạn ”
    tri âm tri kỉ” để nhà thơ giãi bày tâm sự.
    Câu thơ thứ 2 với điệp từ “nhớ” được lặp lại 2 lần đã diễn tả nỗi nhớ
    quay quắt, cồn cào đang ùa vào tâm trí Quang Dũng. Tính từ “chơi vơi”
    – biểu cảm một nỗi nhớ nhẹ và rất sâu – kết hợp với từ “nhớ” đã khắc
    sâu được tình cảm nhớ nhung da diết của nhà thơ. Và nỗi nhớ đó như 1
    cơn thác lũ tràn vào tâm trí đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh, hư ảo. Có
    lẽ Quang Dũng đã học tập cách diễn đạt nỗi nhớ trong ca dao:
    “Ra về nhớ bạn chơi vơi
    Nhớ chiếu bạn trải
    Nhớ chăn bạn nằm”
    2 câu đầu với cách dùng từ chọn lọc, gợi hình gợi cảm đã mở cửa cho
    nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ.
    “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
    Mường Lát hoa về trong đêm hơi
    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
    Heo hút cồn mây súng ngửi trời
    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
    Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường
    Lát, Pha Luông…- địa bàn hoạt động cuả binh đoàn Tây Tiến – những
    cái tên mang âm hưởng của rừng núi hoang vu và mang dại. Núi rừng
    Tây Bắc đẹp hùng vĩ mà dữ dội, một vùng đất có địa hình hiểm trở, khí
    hậu khắc nghiệt, nơi rừng thiêng nước độc. Có những đêm dài hành
    quân người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng, ko
    nhìn rõ mặt nhau. “Đoàn quân mỏi” nhưng tinh thần ko “mỏi”. Bởi ý chí
    quyết tâm ra đi vì Tổ quốc đã làm cho những trí thức Hà thành yêu nước
    trở nên kiên cường, bất khuất hơn. Quang Dũng đã rất tài tình khi đưa
    10 
     

    Tron Bo SGK: https://bookgiaokhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

    hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ rõ hơn sự khắc nghiệt cuả núi
    rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo. Cũng miêu tả về “sương”,
    Chế Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:
    “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
    Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương
    Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
    Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”
    Thiên nhiên Tây Bắc, qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng, được
    cảm nhận với vẻ đẹp vừa đa dạng vừa độc đáo, vừa hùng vĩ vừa thơ
    mộng, hoang sơ mà ấm áp. Có những lúc người lính Tây Tiến phải vất
    vả để trèo lên đỉnh chạm đến mây trời. Quang Dũng đã khéo léo sử dụng
    từ “thăm thẳm” mà ko dùng từ “chót vót”. Bởi nói “chót vót” người ta
    còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu cuả nó nhưng “thăm thẳm” thì
    khó có ai có thể hình dung được nó sâu thế nào. Bằng những từ láy gợi
    hình ảnh rất cao như “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, nhà thơ đã
    làm cho người đọc cảm nhận được cái hoang sơ, dữ dội cuả núi rừng
    Tây Bắc. Hình ảnh nhân hoá, ẩn dụ “ súng ngửi trời” được dùng rất hồn
    nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có chất tinh nghịch của
    người lính, cho ta thấy bên cạnh thiên nhiên hiểm trở còn hiện lên hình
    ảnh người lính với tư thế oai phong lẫm liệt nơi núi rừng hoang vu. Câu
    thơ sử dụng nhiều thanh trắc đã tạo nên vẻ gân guốc, nhọc nhằn đã nhấn
    mạnh được cảnh quang thiên nhiên Tây Bắc thật cheo leo, hiểm trở.
    Đứng trên đỉnh dốc núi cao, họ nhìn xuống con đường hiểm trở vừa vượt
    qua và con đường gấp khúc sẽ đi xuống. Đường lên dốc và đường xuống
    dốc đều thăm thẳm, hun hút. Hình ảnh thơ thật đối xứng, câu thơ như
    một đường thẳng bị bẻ gấp lại:
    “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”
    Điệp từ “ngàn thước” đã mở ra 1 ko gian nhìn từ trên xuống cũng như từ
    dưới lên thật hùng vĩ. Bên cạnh cái hiểm trở, hoang sơ ta cũng thấy được
    vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng:
    “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
    Xa xa , lẫn trong màn mưa núi sương rừng, bản làng mờ ảo, thấp thoáng
    trong thung lũng, lúc ẩn lúc hiện. Có những cơn mưa rừng chợt đến đã
    để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến. Nhưng dưới ngòi bút cuả
    Quang Dũng, nó trở nên lãng mạn, trữ tình hơn. Nhà thơ đã thông minh ,
    11 
     

    Tron Bo SGK: https://bookgiaokhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

    sáng tạo khi nói đến mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi”. Nó gợi lên 1
    cái gì đó rất kì bí, hoang sơ giữa chốn núi rừng. Câu thơ thứ 8 với 7
    thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội, hiểm trở cuả núi rừng và mở ra 1
    bức tranh thiên nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn. Những câu thơ Tây
    Tiến giàu chất tạo hình hôm nay gợi nhớ những dòng thơ trong “Chinh
    phụ ngâm khúc”
    “Hình khe thế núi gần xa
    Đứt thôi lại nổi, thấp đà lại cao
    Sương đầu núi buổi chiều như dữ dội
    Nước lòng khe nẻo suối còn sâu”
    8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, về
    đồng đội Tây Tiến. Qua những chi tiết đặc tả về thiên nhiên núi rừng
    Tây Bắc, nó đã trở thành 1 kí ức xa xôi trong tâm trí nhà thơ. Đó là 1 nỗi
    nhớ mãnh liệt cuả người lính Tây Tiến nói riêng và cuả những người
    lính nói chung.
    Hình ảnh người lính Tây Tiến là một bức tượng đài đẹp đẽ với tư thế
    hiên ngang, khí phách anh hùng và có cả những say mê, ước vọng lãng
    mạn, đẹp đẽ. Nhưng thơ Quang Dũng còn tả rất thực về những mất mát,
    hy sinh của đoàn binh Tây Tiến. Không thi vị hóa hiện thực ngòi bút thơ
    Quang Dũng dám nhìn thẳng vào những tổn thất tất yếu của con người
    trong cuộc chiến tranh tàn khốc. Hình ảnh người lính Tây Tiến có những
    phút giây mệt mỏi:
    “Anh bạn dãi dầu không bước nữa
    Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
    Chữ “dãi dầu” đã lột tả được hết sự khốc liệt của cuộc chiến đấu. Bao
    nhiêu sóng gió, hiểm nguy, gian khổ phủ lên đầu người lính nên mệt
    mỏi, dãi dầu là những phút giây đương nhiên. Người lính Tây Tiến
    không rũ bỏ, quay lưng lại với kháng chiến, phải chăng phút giây phó
    mặc, bất cần, đầy ngạo nghễ của người lính cũng là điều tất yếu đó sao.
    Các anh đã không bước tiếp được nữa trên con đường hành quân đầy
    gian khổ. Có những người bạn của Quang Dũng ngục lên súng ngủ.
    “Ngục” là một động từ miêu tả động thái rất nhanh,biểu thị không còn
    sức chịu đựng được nữa. Các anh cố gượng dậy bước tiếp nhưng không
    còn sức. Câu thơ: “ngục lên súng mũ bỏ quên đời” tả một giấc ngủ ngàn
    thu, cực tả những gian khổ và hy sinh.
    12 
     

    Tron Bo SGK: https://bookgiaokhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

    Cũng có người hiểu câu thơ này tả một giấc ngủ tranh thủ của người lính
    để lấy sức tiếp tục đường hành quân. Nhưng câu thơ dẫu viết theo nghĩa
    nào cũng đều nói về sự gian khổ tột cùng. Nhưng nhiều người hiểu
    theocách ở trên bởi nó phù hợp với chất bi tráng của cuộc đời chiến binh
    Tây Tiến: chết rồi mà vẫn ngang tàng, khí phách. Ba chữ cuối: “bỏ quên
    đời” thể hiện tinh thần, thái độ của người lính trước cái chết, xem như đó
    là điều hiển nhiên, nhẹ tựa lông hồng. Các anh lên đường, đến với núi
    rừng miền Tây và biết rằng: “Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi” (xưa nay
    chinh chiến mấy ai trở về)
    Nếu ở mấy câu đầu tác giả mở rộng thiên nhiên miền Tây Bắc mênh
    mông qua không gian hùng vĩ, thơ mộng của những cơn mưa rừng với
    độ cao chạm đến cả mây trời của đỉnh núi Tây Bắc. Thì đến với hai câu
    thơ sau đây thiên nhiên lại được khám phá theo chiều thời gian với hai
    từ láy “chiều chiều” và “đêm đêm”
    “Chiều chiều oai linh thác gầm thét
    Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
    Người ta hay nói đến rừng thiêng nước độc, lam sơn chướng khí. Với
    rừng núi Tây Bắc, cứ mỗi buổi chiều tà lại nghe tiếng thác gầm thét đổ
    xuống từ trên cao và cứ mỗi đêm sâu lại nghe tiếng cọp gầm. Âm thanh
    nào cũng ghê rợn. Quang Dũng bằng tài thẩm âm của mình đã cụ thể hóa
    và làm sống động hóa những nhận xét của người đời. Vậy chỉ với hai
    câu thơ, Quang Dũng đã phát huy tối đa trí tưởng tượng để cực tả vẻ
    hoang sơ, hùng vĩ của núi rừng, miền đất ấy còn chứa nhiều điều hoang
    sơ và huyền bí của miền rừng núi Tây Bắc. Những hiểm nguy vẫn rình
    rập đâu đó, những nét dữ dội quyết liệt mà đoàn binh Tây Tiến đã một
    thời vượt qua.
    “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
    Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
    Chiến binh Tây Tiến hào hùng mà cũng rất đỗi hào hoa, rất nhạy cảm
    trước vẻ đẹp thiên nhiên và sự đằm thắm tình người. Hai câu thơ không
    có cảnh thiên nhiên miền Tây, chỉ có cảnh sinh hoạt đời sống thường
    ngày. Sau những câu thơ rất dữ dội và gân guốc là một cảm xúc thơ đằm
    thắm, thiết tha. Câu cảm thán gợi nỗi bâng khuâng khi hồi tưởng lại
    những kỉ niệm ấm áp: lúc đoàn binh dừng lại sau một đoạn đường hành
    quân vất vả, lều trại được dựng lên ở một bản làng, một bếp lửa ánh đỏ
    13 
     

    Tron Bo SGK: https://bookgiaokhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

    hồng, một nồi xôi hương bay ngào ngạt, khói bếp khói cơm bay lên hòa
    quyện vào khói lam chiều. Đồng đội lại quây quần bên nhau, quên đi
    bao vất vả, gian khổ. Chiến tranh lùi lại vào một góc khuất nào đó
    nhường chỗ cho một cảnh sinh hoạt tưoi vui.
    ở đoạn hai, thiên nhiên và con người Tây Bắc lại được mở ra với một vẻ
    đẹp mới, khác với đoạn đầu. Anh hùng trong chiến đấu nhưng người lính
    Tây Tiến cũng say mê, lãng mạn trong đêm hội:
    “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
    Kìa em xiêm áo tự bao giờ
    Khèn lên man điệu nàng e ấp
    Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
    Có nhớ dáng người trên độc mộc
    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
    Những câu thơ đầy ánh sáng và âm thanh, có thơ và có nhạc, đối lập
    hoàn toàn với những con đường hành quân gian lao, nguy hiểm, với
    những thiếu thốn, nhọc nhằn… Điệu nhạc hồn thơ như thăng hoa cho
    tâm hồn người chiến sĩ cất cánh, hòa nhịp vào những điệu khèn, câu hát
    say mê. Không gian Tây Bắc chơi vơi trong một miền tâm thức, với
    dáng người trên độc mộc, với dòng nước lũ hoa đong đưa, khắc sâu, ghi
    tạc trong tâm hồn người chiến sĩ. Những câu hỏi tu từ dịu nhẹ, bâng
    khuâng làm không gian núi rừng thêm chơi vơi, bảng lảng trong sương,
    trong khói. Ngòi bút tả thực của Quang Dũng đến đây trở nên mềm mại
    và uyển chuyển, chứa đựng cái tình sâu lắng, thiết tha.
    Qdũng cũng không chỉ khắc tạc hình ảnh của những người lính với một
    đời sống tình cảm hết sức phong phú, những tình cảm lớn lao là tình
    quân dân. Qdũng đã đặc biệt quan tâm tới ý tưởng dựng tượng đài người
    lính Tây Tiến trong tác phẩm của mình. Nhà thơ đã sử dụng hệ thống
    ngôn ngữ giàu hình ảnh, hàng loạt những thủ pháp như tương phản, nhân
    hoá, tăng cấp ý nghĩa để tạo ấn tượng mạnh, để khắc tạc một cách sâu
    sắc vào tâm trí người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất
    nước, của dân tộc. Đó là bức tượng đài sừng sững giữa núi cao sông sâu,
    giữa một không gian hùng vĩ như chúng ta đã thấy trong các câu thơ:
    “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
    14 
     

    Tron Bo SGK: https://bookgiaokhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

    Quân xanh màu lá dữ oai hùm
    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
    Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
    Rải rác bên cương mồ viển xứ
    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
    Áo bào tay chiếu anh về đất
    Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
    Nếu như ở những đoạn thơ trước đó người lính mới chỉ hiện ra trong: ”
    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” hay trong khung cảnh hết sức lãng
    mạn trong đêm liên hoan, đêm lửa trại thắm tình các nước thì ở đây là
    hình ảnh đoàn binh không mọc tóc da xanh như lá rừng. Cảm hứng chân
    thực của qdũng đã không né tránh việc mô tả cuộc sống gian khổ mà
    người lính phải chịu đựng. Những cơn sốt rét rừng làm tóc họ không thể
    mọc. Cũng vì sốt rét rừng mà da họ xanh như lá cây (chứ không phải họ
    xanh màu lá nguỵ trang), vẻ ngoài dường như rất tiều tuỵ. Nhưng thế
    giới tinh thần của người lính lại cho thấy họ chính là những người chiến
    binh anh hùng, họ còn chứa đựng cả một sức mạnh áp đảo quân thù. Cái
    giỏi của qdũng là mô tả người lính với những nét khắc khổ tiều tuỵ
    nhưng vẫn gợi ra âm hưởng rất hào hùng của cuộc sống. Bởi vì câu thơ:
    “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc”
    Với những thanh trắc rơi vào trọng âm đầu của câu thơ
    như “tiến”, “mọc tóc” đã làmâm hưởng của câu thơ vút lên. Chẳng
    những thế, họ còn là cả một đoàn binh. Hai chữ “đoàn binh” – âm Hán
    Việt đã gợi ra một khí thế hết sức nghiêm trang, hùng dũng. Thủ pháp
    tương phản mà qdũng sử dụng ở câu thơ “Quân xanh màu lá dữ oai
    hùm” không chỉ làm nổi bật lên sức mạnh tinh thần của người lính mà
    còn thấm sâu màu sắc văn hoá của dân tộc. ở đây, nhà thơ muốn nói tới
    sức mạnh bách chiến bách thắng bằng một hình ảnh quen thuộc trong
    thơ văn xưa. Phạm Ngũ Lão cũng ca ngợi người anh hùng vệ quốc trong
    câu thơ: “Hoành sóc giang san cáp kỷ thu – Tam quan kỳ hổ khí thôn
    ngưu”. Và ngay cả Hồ Chí Minh trong “Đăng sơn” cũng viết:“Nghĩa
    binh tráng khí thôn ngưu đẩu – Thể diện sài long xâm lược quân“
    Có thể nói qdũng đã sử dụng một môtíp mang đậm màu sắc phương
    Đông để câu thơ mang âm vang của lsử, hình tượng người lính cách
    mạng gắn liền với sức mạnh truyền thống của dtộc. Đọc câu thơ: “Quân
    15 
     

    Tron Bo SGK: https://bookgiaokhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

    xanh màu lá dữ oai hùm” ta như nghe thấy âm hưởng của một hào khí
    ngút trời Đông á.
    Người lính Tây Tiến mạnh mẽ, rắn rỏi trong chiến đấu, nhưng cũng hết
    sức lãng mạn, say mê trong những giây phút thơ mộng. ở đây, có sự kết
    hợp nhuần nhuyễn giữa tư chất của một anh hùng và phong cách của
    một trí thức lãng mạn. Hình tượng người lính Tây Tiến bỗng trở nên rất
    đẹp khi qdũng bổ sung vào bức tượng đài này chất hào hoa, lãng mạn
    trong tâm hồn họ:
    “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
    Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
    Bao nhiêu yêu thương, nhớ mong, mộng ước của họ được gửi gắm, dồn
    tụ ở hình ảnh “mắt trừng”. Hình ảnh ấy không chỉ gợi một nỗi niềm đau
    đáu khôn nguôi mà còn chất chứa bao khắc khoải, mong chờ. Bên giới
    & Hà Nội hoa lệ có một khoảng cách rất xa xôi, người lính Tây Tiến
    muốn thông qua những mộng đẹp, những khát vọng diệt thù để làm cầu
    nối thu gắn không gian, kéo hẹp khoảng cách. “Dáng kiều thơm” và một
    Hà Nội phồn hoa xa xôi chính là nguyên do của nỗi niềm mong nhớ ấy.
    Đó không phải là một bóng dáng nào cụ thể nào, cũng không chỉ bó hẹp
    trong một tình yêu đôi lứa, niềm nhớ thương dâng trào của người lính
    cao hơn là một vẻ đẹp tấm lòng luôn hướng về Tquốc, hướng về Thủ đô.
    Người lính dẫu ở nơi biên cương hay viễn xứ xa xôi mà lòng lúc nào
    cũng hướng về Hà Nội. Người lính Tây Tiến dẫu “mắt trừng gửi mộng
    qua biên giới” mà niềm thương nỗi nhớ vẫn hướng về một “dáng kiều
    thơm”. Đã một thời, với cái nhìn ấu trĩ, người ta phê phán thói tiểu tư
    sản, thực ra nhờ vẻ đẹp ấy của tâm hồn mà người lính có sức mạnh vượt
    qua mọi gian khổ, người lính trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của
    con người Việt Nam. Quang Dũng đã tạo nên một tương phản hết sức
    đặc sắc – những con người chiến đấu kiên cường với ý chí sắt thép cũng
    chính là con người có một đời sống tâm hồn phong phú. Người lính Tây
    Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà
    còn rất hào hoa, giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung
    động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều thơm, nhớ về vẻ đẹp của Hà
    Nội – Thăng Long xưa. Ta bỗng nhớ đến câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ:
    “Từ thuở mang gươm đi mở nước – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng
    Long”
    16 
     

    Tron Bo SGK: https://bookgiaokhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    Phạm Minh Nhật –Trung tâm luyện thi Tiến Đạt
     

    Nếu như ở 4 câu thơ trên, người lính Tây Tiến hiện ra trong hình ảnh
    một đoàn binh với những bước chân Tây tiến vang dội khí thế hào hùng
    và một thế giới tâm hồn hết sức lãng mạn thì ở đây bức tượng đài người
    lính Tây Tiến được khắc tạc bằng những đường nét nổi bật về sự hy sinh
    của họ. Quang Dũng đã mô tả một cách chân thực sự hy sinh của người
    lính bằng cảm hứng lãng mạn, hình tượng vì thế chẳng những không rơi
    vào bi lụy mà còn có sức bay bổng.
    “Rải rác biên cương mồ viễn xứ
    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
    Áo bào thay chiếu anh về đất
    Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
    Ngay chính trong cái chết, người lính Tây Tiến vẫn thể hiện, khẳng định
    được khí phách anh hùng, tư thế ngạo nghễ của mình. Người ta có thể
    rùng mình ghê sợ trước cái lạnh lẽo, hoang vu của những “mồ viễn xứ”
    nhưng không khỏi tự hào, kiêu hãnh trước sự hi sinh bất khuất anh hùng
    của đoàn binh. Những từ Hán Việt “biên cương, chiến trường, viễn xứ,
    độc hành” được sử dụng trang trọng giống như những nén tâm hương
    trước họ. Ngày xưa, nhà vua vẫn thường ban tặng áo bào cho các tráng
    sĩ thắng trận trở về, nhưng ở thời của người lính Tây Tiến thì làm gì có
    chiếc áo bào nào. Vậy mà Quang Dũng vẫn gọi những manh áo lính với
    một cách kiêu hãnh là “áo bào”. Những người trong cuộc kể lại rằng
    ngày ấy lúc đầu có quan tài và bài niệm nhưng sau đó lính Tây Tiến hi
    sinh nhiều, người bản xứ đã cho những manh chiếu quấn thân, nhưng rồi
    chiếu cũng hết, họ đã mặc nguyên những chiếc áo lính để trở về với đất
    mẹ. Quang Dũng muốn tránh đi sự thật đau lòng nên đã gọi đó là chiếc
    áo bào. Đó là một cách nói sang trọng, an ủi người ra đi và cũng đỡ tủi
    lòng người đưa tiễn. Cụm từ “anh về đất” nói về cái chết nhưng lại bất
    tử hoá người lính, nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ.
    Với hai lần xuất hiện trong bài thơ, sông Mã đã luôn gắn liền và dõi theo
    con đường hành quân, đẩu tranh gian khổ của đoàn binh. Sự ra đi của
    người lính Tây Tiến là một hiện thực tất yếu của chiến tranh và thiên
    nhiên hòa cùng nỗi đau với con người. Sông Mã gào thét, vang vọng lên
    “khúc độc hành” giống như một khúc tráng ca tiễn đưa người anh hùng
    về với đất mẹ. Sự hi sinh ấy được đặt giữa đất trời, thiên nhiên, có đất
    17 
     

    ...
     
    Gửi ý kiến

    “Nếu bạn muốn đạt được bất cứ điều gì trong cuộc sống, bạn phải đọc rất nhiều sách.” – Roald Dahl

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TRUNG HỌC THỰC HÀNH SÀI GÒN !