Viếng Lăng Bác - Bài giảng
Trăm Việt trên vùng định mệnh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:21' 06-04-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:21' 06-04-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Trăm Việt trên vùng định mệnh
Phạm Việt Châu
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
LTS
CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3
CHƯƠNG 4
Phần II - CHƯƠNG 5
CHƯƠNG 6
CHƯƠNG 7
CHƯƠNG 8
CHƯƠNG 9
CHƯƠNG 10
CHƯƠNG 11
CHƯƠNG 12
Phần III - CHƯƠNG 13
CHƯƠNG 14
CHƯƠNG 15
Phần IV - CHƯƠNG 16
CHƯƠNG 17
CHƯƠNG 18
Tiểu sử tác giả
https://thuviensach.vn
Phạm Việt Châu
Trăm Việt trên vùng định mệnh
LTS
Phạm Việt Châu
Học giả Phạm Việt Châu thông thạo các ngôn ngữ Anh, Pháp, Nhật, TrungHoa, và từng là Giáo Sư Anh Ngữ tại trường Sinh Ngữ Quân Đội (Cây
Mai). Ông cũng từng là nhân viên nồng cốt trong ban Liên Hợp Quân Sự 4
bên, là trưởng phái đoàn đầu tiên của VNCH ra Hà Nội năm 1972 để thi
hành hiệp định Paris. Sau khi ngày miền Nam VN lọt vào tay cộng sản, học
giả Phạm Việt Châu đã tuẫn tiết ít hôm sau đó.
Tập biên khảo Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh đã được ấn hành nhiều kỳ
trên tạp chí Bách Khoa (Sài Gòn) trong khoảng thời gian 1969-1974. Trong
lời bạt cho lần xuất bản tập biên khảo này tại Hoa Kỳ (1997), nhà văn
Nguyễn Mộng Giác nhận xét về sự xuất hiện của loạt bài Trăm Việt Trên
Vùng Định Mệnh như sau:
… Sau hiệp định ngưng chiến ký kết ở Paris, Hoa Kỳ giao lại cho chính
quyền miền Nam vai trò chính yếu trong cuộc chiến tranh tự vệ, chuẩn bị
rút lui “trong danh dự” khỏi một cuộc phiêu lưu làm phân hóa trầm trọng
https://thuviensach.vn
xã hội Hoa kỳ. Những người Việt Nam lạc quan thời bấy giờ thấy le lói một
niềm hy vọng mới, hy vọng bằng chính sức mình duy trì và bảo vệ được một
chính thể tự do, dân chủ thực sự, trong quan hệ mật thiết với các nước lân
bang, và nhất là thoát ra ngoài ảnh hưởng của các cuộc tranh chấp quyền
lực giữa các đại cường. Đó là cụm từ như “thân phận da vàng”, “nỗi buồn
nhược tiểu”, “chiến tranh uỷ nhiệm” trở thành thời thượng trong các bài
bình luận chính trị, trong các lời ca phản chiến. Bây giờ, chúng ta mới thấy
niềm hy vọng ấy chỉ là ảo tưởng, khi miền Bắc không hề bỏ ý định thôn tính
miền Nam dù Hoa kỳ có rút lui, dù phải đốt cháy cả Trường Sơn. Nhưng
xin bạn đọc trở lui lại thời kỳ sôi động đầy hoang mang ấy, thời kỳ khắc
khoải đi tìm đường của cả một thế hệ, bạn đọc mới thấy những lời viết của
Phạm Việt Châu tác động mạnh mẽ như thế nào. Ông cho chúng tôi một
căn cước mới, một niềm hãnh diện mới, một gia đình mới, và dĩ nhiên, một
hướng đi mới.
Gần 40 năm sau khi loạt bài được đăng tải lần đầu, cùng với các tranh chấp
biên giới và lãnh hải giữa Việt Nam và người láng giềng khổng lồ phương
Bắc (và với cả các lân bang Trăm Việt), những điều chứa đựng trong Trăm
Việt Trên Vùng Định Mệnh ngày càng minh bạch và đầy ý nghĩa.
Tạp chí Da Màu trân trọng giới thiệu tập biên khảo giá trị này cùng bạn
đọc.
https://thuviensach.vn
Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh
Dẫn Nhập
Cho đến khi người viết cầm bút viết những dòng này, năm 1968, học sinh
Việt từ Nam chí Bắc vẫn còn phải đọc trong sách những dòng đầu địa lý về
xứ sở mình: nước Việt Nam ở về phía Đông bán đảo Ấn-Hoa!
Cái bản chất lệ thuộc trong địa danh Ấn-Hoa đã hạ nhục tất cả các quốc gia
độc lập trong khu vực, cũng như cái bản chất chư hầu trong quốc hiệu AnNam đã làm cho người Việt chúng ta phải tủi hổ khi nghe người khác gọi
mình và đã quyết liệt xóa bỏ bằng chính máu của mình.
Tại sao lại Ấn-Hoa, Ấn-Trung hay Ấn-độ Chi-na (Indochine)? Có phải vì
trước đây người Tây phương khi nhìn về Đông phương đã không thấy gì
hơn là hai quốc gia khổng lồ này? Một vùng gồm nhiều nước có vẻ hỗn tạp,
không thể ghép vào Ấn vì chẳng phải là Ấn, không thể ghép vào Hoa vì
https://thuviensach.vn
cũng chẳng phải là Hoa, nhưng không đáng được mang một cái tên riêng,
vậy âu đặt luôn là Ấn-Hoa cho dễ nhớ. Tây phương đã nghĩ vậy và đã làm
vậy. Cũng với cung cách ấy, họ còn gọi khu vực chúng ta ở bằng những
danh hiệu đầy tính chất lệ thuộc khác như Tiểu-Hoa (Little China) theo
người Anh, như Ngoại-Ấn (L'Inde Extérieure) theo một số học giả Pháp.
Tuy nhiên, chậm lắm là sau Thế chiến II, người Tây phương cũng đã phải
mở mắt rộng hơn để nhìn rõ hơn những gì đã xẩy ra khi cả thế giới nhược
tiểu bừng bừng trổi dậy, nhất là ở vùng địa đầu tối quan yếu này. Với tiếng
nói của một số dân nhiều hơn Liên Sô, nhiều hơn dân Hoa Kỳ và bằng toàn
thể dân số Mỹ-la-tinh hợp lại[1] cùng trổi lên điệp khúc đòi tự do, giải
phóng, đòi chỗ đứng riêng biệt trong tập thể nhân loại, thì tất nhiên âm
vang của nó không thể không buộc người khác phải chú ý.
Sử gia D.G.E. Hall, giáo sư đại học ở Luân Đôn, đã lớn tiếng nhắc nhở
người Tây phương không nên gọi vùng đất ở miền Đông Nam Châu Á này
bằng bất cứ danh từ gì có liên quan đến hai chữ Trung Hoa và Ấn Độ. Vì
gọi như vậy, chắc chắn sẽ bị người trong vùng phản đối và hơn nữa còn là
cố ý phủ nhận sự cá biệt của khu vực này, tức phủ nhận một sự thực lịch sử.
Vẫn theo ông, sự thực lịch sử đó là: dù có chịu ảnh hưởng rõ rệt của văn
minh Hoa và Ấn, vùng đất này từ xưa đến nay vẫn có một nền văn hóa
riêng biệt không thể chối cãi được. Nghệ thuật và kiến trúc ở Angkor,
Pagan, Trung Java và các khu vực nguyên là nước Chiêm Thành cũ rõ ràng
khác xa nghệ thuật và kiến trúc Ấn Độ. Ngay cả đến Việt Nam, nơi đã bị
ngưòi Tàu cai trị từ năm 111 trước Công nguyên tới 939 sau Công nguyên,
và dưới đời nhà Hán đã trở nên đối tượng cho một nỗ lực Hán hóa khốc
liệt, vẫn phát triển một hướng đi riêng và vẫn bảo tồn được bản chất văn
hóa cá biệt với những cỗi rễ tiếp nối từ thời tiền bị trị [2].
https://thuviensach.vn
Đi xa hơn, học giả W.G. Solhiem, thuộc đại học Hawaii, đã vạch rõ ràng
việc đặt cái tên Ấn Hoa cho vùng này phản ảnh kiến thức ấu trĩ của Tây
phương về trào lưu du nhập văn hóa. Ông đã chứng minh ngược lại là
chẳng những ánh sáng văn minh đầu tiên không phải từ Ấn và Hoa chiếu
rọi vào miền Đông Nam mà chính là từ miền Đông Nam tỏa lên và tỏa sang
Hoa và Ấn. Qua các cuộc khai quật có hệ thống trong vòng 10 năm nay
(nhất là giai đoạn từ 1963 đến 1968 tại Non Nok Tha, Bắc Thái), nhóm
chuyên viên thuộc hai trường đại học Otago (Tân-Tây-Lan) và Hawaii
(Mỹ) đã chứng minh một cách khá chính xác rằng: về nông nghiệp, miền
Đông Nam Châu Á đã trồng lúa (gạo) từ trên 3.000 năm trước Công
nguyên, nghĩa là trước Ấn Độ và Trung Hoa ít ra là 1.000 năm; về kỹ thuật,
miền Đông Nam Châu Á đã biết đúc đồng bằng khuôn đôi sa thạch từ
2.300 đến 3.000 năm trước C.N., nghĩa là trước Ấn Độ 500 năm và trước
Trung Hoa 1.000 năm [3].
Vậy thì, hãy trả cái gì của César cho César. Vùng đất mà chúng ta đang nói
tới cùng các quần đảo lớn nhỏ bao bên ngoài ở miền Đông Nam châu Á,
chúng ta hãy gọi nó là Đông Nam Á, một cái tên đúng đắn nhất y cứ vào
Châu và vị trí trong Châu, như người ta đã gọi Đông Âu, Bắc Âu, Nam Mỹ,
Trung Mỹ, v.v…
Toàn thể Đông Nam Á gồm các nước Việt Nam, Lào, Kam-pu-chia, Thái
Lan, Miến Điện, Indonesia, Phi-líp-pin, Mã Lai Á và hai mẩu đất phân ly
trong khu vực Mã Lai là Singapore và Brunei (thuộc Anh). Để chỉ rõ ràng
hơn, người ta gọi bán đảo vào đại lục Á Âu trước có tên Ấn Hoa nay là
Đông Nam Á Lục Địa (Southeast Asia Mainland), phần còn lại là Đông
Nam Á Hải Đảo (Southeast Asia Islands) gồm chuỗi đảo chạy vòng cung từ
eo biển Malacca tới Luzon nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương.
https://thuviensach.vn
Thực ra thì danh xưng Đông Nam Á đã xuất hiện từ năm 1943 trong cái tên
của Bộ Tư Lệnh Liên Hợp Anh Mỹ (Anglo-American Southeast Asian
Command) đặt tại Tích Lan. Đặt một bộ tư lệnh riêng cho một vủng trong
thế chiến không thể là một chuyện ngẫu nhiên của Đồng Minh mà chắc
chắn bắt nguồn từ một nhu cầu có tính cách chiến lược. Tầm quan trọng
của toàn thể khu vực vày đã đặc biệt gây sự chú ý trước hết cho những
người chỉ huy quân đội các phe lâm chiến, sau nữa tới các nhà lãnh đạo của
các đế quốc. Đó lả điều bất hạnh nhất cho nhân dân Đông Nam Á mà
chứng cớ đã rành rành trước mắt chúng ta ngày nay, khi Đông Nam Á trở
nên vùng tranh chấp hàng đầu của hai đế quốc Cộng Sản và Tư Bản.
Trở ngược lại trước Thế chiến 2, chúng ta thấy nhân dân các nước trong
vùng đều chịu chung một số phận bị Tây phương thống trị. Trừ Thái Lan,
dù chưa chính thức bị trị, nhưng cũng đã kinh qua nhiều phen tủi nhục vì sự
chèn ép của Tây phương. Trong trạng huống ấy, đế quốc Tây phương đã trở
thành kẻ thù số một trước mắt nhân dân Đông Nam Á. Và dĩ nhiên, họ đã
vùng lên chống lại.
Suốt thế kỷ qua, nhân dân Đông Nam Á đã viết những trang sử đấu tranh
thật anh dũng. Tuy nhiên, trong cuộc đổi đời vĩ đại và khá đột ngột (từ một
xã hội sống thụ động trong nền nếp được áp định sang một xã hội luôn luôn
xáo động với các ý thức, tư trào mới), họ đã không kịp sửa soạn để tự định
đoạt lấy số phận bằng chính huớng đi của mình. Nhóm này đã lao theo
chiêu bài Đại Đông Á của Nhật và đã vỡ mộng khi thấy Nhật chẳng qua
cũng chỉ mưu đồ thay thế Tây phương trong vai trò thống trị. Nhóm khác
đã khoác vội lấy bộ áo xã hội đỏ vì tưởng đó là lá bùa chống thực dân hữu
hiệu nhất. Nhưng khoác vào thì dễ, cởi ra thì khó! Như con thiêu thân đã
chịu đèn, họ vẫn tiếp tục lao vào lửa và vô tình đã trở thành tay sai của một
trong những đế quốc gian manh nhất thế kỷ: Đế Quốc Cộng Sản. Một số
người khác, có thể là những nhóm ôn hòa hơn, hoặc đôi khi đã được kẻ
https://thuviensach.vn
thống trị tự trao trả độc lập (trong một cái thế không thể đừng.) Nhận mà
không tốn công nhiều, họ trở thành những đứa con phung phí, chỉ biết dựa
vào nước mẹ đỡ đầu cho tới khi chợt thấy mình không còn đứng nổi một
mình nữa thì đã quá muộn. Nghĩa là đã đem dân tộc họ trở lại tình trạng bị
trị, dĩ nhiên dưới một hình thức khác xảo quyệt hơn, của đế quốc Tư Bản.
Cái thảm kịch chung của thế giới nhược tiểu là ở đó, nhưng cái thảm kịch
của riêng Đông Nam Á lại còn khốc liệt gấp bội do nơi vị trí định mệnh của
toàn vùng.
Nói đến vị trí định mệnh, trước hết chúng tôi nghĩ đến hình ảnh cái lò pha
trộn các món văn hoá, sản phẩm tư tưởng từ mọi ngã và mọi thời kỳ của
lịch sử loài người. Trong quá trình phát triển, Đông Nam Á đã có những
sắc thái sinh hoạt riêng biệt, đồng thời cũng tiếp nhận hai nền văn minh
Hoa, Ấn cùng tất cả các hình thái, tín ngưỡng thuộc các tôn giáo lớn của
nhân loại. Sang kỷ nguyên mới, thế giới mở rộng, Đông Nam Á lại tiếp
nhận một cách cởi mở nền văn hóa Âu Tây. Một sự điều hợp kỳ lại giữa cái
mới và cái cũ, giữa bảo thủ và tiến bộ, giữa tĩnh và động, có lẽ không ở đâu
bộc lộ rõ rệt cho bằng xã hội vùng này. Trạng thái đặc biệt ấy không phải
chỉ là một sự pha trộn Đông Tây kiểu Nhật Bản qua ly rượu champagne
bên đĩa cá sống sashimi cổ truyền, mà hơn thế nữa, còn là sự phơi bày diễn
trình văn minh nhân loại như có người đã hình dung "văn-hóa thời đại đồ
đá cộng sinh cùng các phòng thí nghiệm năng lực nguyên tử" (stone age
cultures coexisting with atomic energy laboratories). [4]
Chuyển sang giai đoạn đấu tranh ý thức hệ, Đông Nam Á một lần nữa lại là
mảnh đất thử lửa của các lực lượng đối kháng trên mặt đất. Dầu muốn dầu
không, như định mệnh đã an bài, Đông Nam Á cũng đã bị nhuộm xanh
nhuộm đỏ lỗ chỗ khắp nơi. Và hơn bất cứ nhóm dân nào trên thế giới,
https://thuviensach.vn
người dân Đông Nam Á đã kinh qua những thử thách mới từ chiếc bánh
bằng bột-lọc-trộn-thủy-tinh ngoài phủ kem hồng của Mạc Tư Khoa đến
những đồng đô la tuy thơm mùi giấy nhưng bên trong đã được tẩm sẵn vi
trùng đồi bại ở bên kia Thái Bình Dương. Những kinh nghiệm bằng máu và
nước mắt ấy đang chói lên từ nội tâm những kẻ có ý thức và sẽ là ánh lửa
làm phản tỉnh những phần tử còn mê lòa trong ảo vọng nương nhờ ngoại
viện. Tuy nhiên, cho đến khi giác ngộ đủ triệt để ngõ hầu chuyển hoá thời
cơ, nhân dân Đông Nam Á nhất là nhân dân Việt, vẫn còn tiếp tục phải
hứng chịu những đòn thù từ đôi bên quật xuống.
Thành ra cái tính chất khai phóng trong việc tiếp nhận các tư trào mới nếu
đã làm cho Đông Nam Á trở thành nơi đúc kết tinh hoa của tư tưởng loài
người, thì trên thực tế cũng đã là mối họa triền miên có tính cách lịch sử,
lúc âm ỉ, khi bộc phát, luôn luôn treo trên đầu nhân dân Đông Nam Á: đó là
nhu cầu bành trướng quyết liệt của Trung Hoa về phương Nam. Nhu cầu ấy
từ lâu đã trở thành quốc sách và dù cho Trung Hoa có ở trong chế độ quân
chủ, dân chủ, tư bản hay độc tài cộng sản, mưu đồ Nam tiến vẫn được tiếp
tục duy trì, tuy chiến lược có thể thay đổi, mỗi thời một khác.
Bàn tiếp đến cái mà chúng tôi gọi là vị trí định mệnh, nếu đứng trên bình
diện nhân văn, chúng tôi đã nghĩ đến hình ảnh cái lò pha trộn các món văn
hoá, thì đứng trên bình diện nhân chủng, chúng tôi lại thấy hình ảnh cái hồ
lớn nằm kề lục địa Đông Á để hứng lấy và bao bọc tất cả những bầy cá bị
săn đuổi từ các dòng suối dòng sông tản lạc về: chúng tôi muốn nói tới các
bộ tộc Bách Việt qua nhiều đợt nam thiên dưới áp lực của Hán tộc.
Ngày nay, xét về xã hội Người tại Đông Nam Á, những nhà nghiên cứu
nhân chủng không khỏi ngạc nhiên khi thấy một khu vực có vẻ hỗn tạp nhất
nếu nhìn thoáng qua bên ngoài, lại cũng là nơi tương đối rất thuần nhất nếu
https://thuviensach.vn
đào sâu bới rễ bên trong. Thật vậy, trừ những sắc dân cổ còn lại rất ít và
khối người Trung Hoa mới hình thành gần đây, tất cà thành phần dân số
chính cấu tạo nên tập thể Đông Nam Á ngày nay đều bắt nguồn từ chủngtộc Bách Việt, mà các nhà nhân chủng học Tây-phương khi phân loại
thường gọi là Indonesian hay Malay [5].
Milton W. Meyer, giáo sư sử học ở California, đã xác nhận "Khởi đầu từ
năm 2.500 trước CN, từ phương Bắc, các giống người Malay đã mang theo
văn hóa tiểu Mã xuống vùng này. Họ là tổ tiên của những dân tộc Phi-luậttân, Indonesia, Mã Lai, Việt Nam, Thái Lan và Miến Điện. Những cuộc di
cư của họ đã xảy ra trong nhiều thế kỷ. Đất gốc của họ là lãnh thổ Trung
Hoa ngày nay và họ đã tạo nên những đợt nam thiên triền miên tiếp diễn
xuống khắp vùng Đông Nam Á” [6].
Với hình ảnh cái hồ, chúng tôi cũng nghĩ tới đoạn đường chót của cuộc
hành trình lịch sử. Thật vậy, chúng ta không còn đường nào, nơi nào để mà
thiên di xa hơn nữa. Cửa ngõ thế giới đã khép lại trong khi áp lực từ
phương Bắc, dưới hình thức này hay hình thức khác vẫn tiếp tục đè nặng
xuống. Chúng tôi cũng không thể nghĩ khác hơn là ý nghĩ của những người
Thái-anh-em ở bên kia bờ sông Cửu về cùng một mối lo chung của nhân
dân Trăm Việt trên vùng định mệnh này. Ý nghĩ ấy đã được cựu ngoại
trưởng Thái Thatnat Khoman phát biểu "Không còn chỗ nào cho chúng tôi
lùi (thêm) được nữa! Do đó, với chúng tôi, nơi đây là kháng điểm đầu tiên
và cũng sẽ là kháng điểm cuối cùng." [7]
Là kháng điểm cuối cùng, thật thế! Cái ý nghĩ bi tráng ấy phải được cảm
chiêu sâu sắc để từ đó khơi dậy ý thức đề kháng tự nhiên, chẳng riêng với
Trung Hoa mà còn với tất cả các cường lực khác.
https://thuviensach.vn
Từ lâu, miền đất rộng lớn bao la ở cực nam đã bị người Âu nhanh chân
đoạt được và chuyển hình từ thuộc địa thành các tân quốc gia của riêng
giống da trắng. Ngay bây giờ, ngọn cờ của các đế quốc thực dân Tây Âu cũ
vẫn còn bay phất phới bên trong và sát cạnh Đông Nam Á, như Bồ ở
Timor, Pháp ở Tân Calidonie, Anh ở Brunei, ở Solomon, ở Gilbert, Ellice,
vv… “Lãnh thổ” của Mỹ cũng vốn nằm kề Đông Nam Á với các quần đảo
Caroline và Mariana (thủ phủ: Guam); ấy là chưa nói đến các căn cứ quân
sự còn đầy dẫy ngay trong vùng. Cùng góp phần chia sẻ ảnh hưởng, người
ta còn thấy Nga, với những tấn công ngoại giao mới, với hải lực ngày càng
tăng cường hùng hậu ở ngay vịnh Bengal gần kề; và Nhật với cuộc xâm
lăng kinh tế đã và vẫn còn đang được đẩy mạnh.
Tuy nhiên, điều đáng quan ngại hơn cả vẫn là những mầm ảnh hưởng xấu
mà đế quốc đã gieo được trong lòng các dân tộc Đông Nam Á. Chính
những mầm này đã nẩy nở thành tầng lớp tay sai của các đế quốc và đã đưa
đến sự phân hóa giữa các dân tộc và trong nội bộ mỗi dân tộc trong vùng.
Sự phân hóa ấy đã làm suy yếu toàn thể khu vực và đã là chướng ngại quan
trọng nhất cho mọi nỗ lực kết khối để sống còn và tiến bộ.
Nhìn thẳng vào quá trình hình thành và tiếp nối để sắp đặt đường đi nước
bước cho mai sau, nhìn thẳng vào những vấn đề gai góc nhất để tìm giải
pháp xác đáng, nhìn thẳng vào mặt những đế quốc hiện đại đang xâu xé
vùng đất này để cùng quyết tâm đối phó, nhìn thẳng vào những vết rạn
phân cách các dân tộc anh em để cùng đưa tay bắc môt nhịp cầu kết hợp, đó
là công việc mà thế hệ hôm nay yêu dân tộc, yêu quê hương, yêu vùng đất
đã nuôi dưỡng mình nên làm và phải làm. Trăm Việt Trên Vùng Định
Mệnh mong được là một đóng góp nhỏ bé trong muôn một.
[Còn tiếp]
https://thuviensach.vn
Ghi chú:
[1] Tính tới 1971, toàn thể Đông Nam Á gồm 285 triệu dân.
[2] D.G.E. Hall, A History of Southeast Asia, MacMillan (London, 1964,
trang 4.)
[3]National Geographic Magazine, số tháng 3 năm 1971.
[4] Milton W. Meyer, Southeast Asia Đ A Brief History, Littlefield: Adam
and Co. , 1965.
[5] Chúng tôi tạm dùng nguyên tiếng Anh Indonesian và Malay chỉ chủng
tộc để phân biệt với người Indonesia và người Mã Lai Á khi cần chỉ dân
mang quốc tịch các xứ này.
[6] Như chú thích (4).
[7] Reader's Digest số 533, bộ 89, tháng 9 năm 1966.
https://thuviensach.vn
Phạm Việt Châu
Trăm Việt trên vùng định mệnh
CHƯƠNG 1
DẤU CHÂN BÁCH VIỆT
Phải đi đường con don, con dím,
Đường con trâu, con bò lẩn trong rừng.
Ai có bò bện thừng mà buộc;
Ai có trâu làm xẻo mà lôi;
Ai có con đeo địu, mang nôi.
...
(hành ca trên đường nam thiên của bộ tộc Thái)
Những Chủ Nhân Đầu Tiên
Trước khi đề cập tới các dân tộc Bách Việt hiện làm chủ khắp miền Đông
Nam Á sau nhiều đợt nam thiên, chúng ta hãy lược kiểm lại những giống
người cổ sơ trước đây đã sinh ra và tiếp nối ở vùng đất này.
Cũng như ở nhiều địa điểm khác trên thế giới, Đông Nam Á đã có dấu tích
những người Vượn đầu tiên. Người Vượn này được gọi là
Pithecanthropus[1], và vì các di chỉ đều ở trên đảo Java [2] nên cũng còn
được gọi là người Ja Va. Sự chuyển hóa sang Người Vượn được ước định
xảy ra vào thời khoảng bắt đầu hồng tích kỳ (pléistocène).
Người Vượn, theo thời gian, đã biến đổi sang hình thái người Linh Trưởng
(homo sapiens). Loại người được coi là Linh Trưởng cổ nhất Đông Nam Á
là người Wadjak, dấu vết được tìm thấy ở Wadjak gần bờ biển phía nam
đảo Java. Khảo nghiệm những chiếc sọ đã đào được, người ta cho rằng
người Linh Trưởng Wadjak đã xuất hiện vào cuối hồng tích kỳ hay kế sau
hồng tích kỳ, nghĩa là vào khoảng trên dưới 20 ngàn năm trước.
Loại người kế tiếp có những đặc điểm biểu lộ rõ rệt tính chất négroid (da
đen), trong đó có hai nhóm chính là Australoid và Veddoid. Giống
https://thuviensach.vn
Australoid, cùng giống tương tự là Veddoid, đã lan tràn khắp các hải đảo
Đông Nam Á. Khi đặt chân được lên đại lục, họ liền tiến về phía tây đến
tận bán đảo Ấn Độ. Giống Australoid ngày nay còn sót lại ở miền núi tại
Úc, Phi Luật Tân, Mã Lai Á (bộ lạc miền núi Senoi và Sakai). Giống
Veddoid còn thấy rải rác ở một vài đảo nhỏ thuộc quần đảo Indonesia và ở
Tích Lan. Ngay cả vùng Nam Ấn ngày nay cũng thấy có giống dân pha
Veddoid. Trên toàn vùng Đông Nam Á, so với tổng số dân hiện hữu thì
những sắc dân cổ này chỉ được coi như một thiểu số không mấy quan trọng.
Bách Việt
Sắc dân chiếm đa số trên toàn vùng hiện nay, như chương trên đã nói, là
dân Bách Việt, hoặc Indonesian, hoặc Malay.
Về Bách Việt, trước hết theo Từ Hải, danh xưng này là tiếng để chỉ “chỗ
hỗn tạp gồm bảy tám ngày dặm của trăm giống Việt từ Giao Chỉ đến Cối
Khê, mỗi xứ đều có giòng họ riêng.”
Dài dòng hơn, chúng ta cũng đã được biết qua Ngô Thời Sỹ “Xét theo thiên
Vũ Công, nước Việt ở về phía nam đất Dương Châu. Theo sách Thiên
Quan, từ sao Đẩu mười một độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ bảy
độ là tinh kỷ. Kể về sao thì ở về ngôi sửu, cùng một phận đã tinh truyện với
nước Ngô. Cõi nam là Việt môn, có rất nhiều nước như Âu Việt, Mân Việt,
Lạc Việt, cho nên gọi là Bách Việt. Bởi vì miền này ở phía nam Dương
Châu, nên lại gọi là Nam Việt. Vùng đất từ núi Ngũ Lĩnh xuống phía nam
thuộc về Nam Việt.” [3]
Đào Duy Anh kê rõ thêm một số địa điểm “U Việt ở Chiết Giang, Mân Việt
ở Phúc Kiến, Đông Việt ở Giang Tây, Nam Việt ở Quảng Đông, Lạc Việt ở
An Nam.” [4]
Gần đây, Lăng Thuần Thanh (Ling Shun Sheng), giáo sư đại học Đài Loan,
còn ghi thêm một vùng nữa cho dân Bách Việt, đó là tỉnh Hồ Nam, nơi
https://thuviensach.vn
trước kia vào thế kỷ 3 trước Công nguyên, Tam Lư Đại Phu nước Sở là
Khuất Nguyên đã bị đầy tới. Trong khi bị đầy, Khuất Nguyên đã phóng tác
ra Cửu Ca (trong bộ Sở từ), và theo họ Lăng, nếu xét kỹ Cửu ca thì người ta
sẽ nhận ra những hình ảnh mô tả các cuộc tế lễ tại địa phương này giống
hệt hình ảnh đã được vẽ trên trống đồng Đông Sơn của dân Lạc Việt [5].
Ông Lăng cũng chủ trương rằng “trước kia trung tâm đồng bằng Dương tử
là nơi cư ngụ của giống người Indonesia mà sử sách Trung Hoa gọi là Bách
Việt hay Lạc Việt.” [6]
Nói chung, ta thấy các xứ Việt nằm kế tiếp từ hữu ngạn sông Dương Tử
qua lưu vực Việt Giang, Hồng Hà, tới tận bình nguyên sông Mã. Khu vực
này được ghi nhận vào cuối đời Chiến quốc ở Trung Hoa (thế kỷ 3 trước
Công nguyên). Đó là một vài nhóm Việt đã tổ chức thành quốc gia, còn
những nhóm khác ở rải rác khắp vùng tây nam Trung Hoa thì không biết là
bao nhiêu.
Vào thời này, Thục Phán, thủ lãnh Âu Việt, đã thâu gồm được cả Lạc Việt
và hợp tên hai nhóm Việt này lại là Âu Lạc[7]. Sau khi Tần Thuỷ Hoàng
thống nhất được Trung Hoa, Tần bèn sai Đồ Thư mang quân đi chinh phục
Bách Việt (214 trước Công nguyên). Trong cuộc giao tranh với quân Tần,
dân Bách Việt ở Hoa Nam ngày nay đã áp dụng lối đánh du kích dai dẳng,
tiêu hao dần quân địch và đã giết được tướng Đồ Thư trong một trận phục
kích. Tuy nhiên về sau quân Tần vẫn thắng vì đông đảo và có tổ chức hơn.
Người Bách Việt bị bại trận bèn thiên di đi nơi khác hoặc lui vào ẩn trong
miền rừng núi. Chỉ có Âu Lạc ở miền cực nam nên tránh được nạn binh
đao. Nam Việt (tức Việt Nam Hải) bị trực tiếp cai trị và cải là quận Nam
Hải. Sau quan uý quận Nam Hải là Triệu Đà thôn tính được Âu Lạc và
nhập chung cả ba xứ Việt cũ thành đế quốc Nam Việt. Lúc Đế Quốc Nam
Việt thành hình thì phần lớn các xứ Việt nhỏ miền Bắc đã suy sụp, tuy
nhiên chắc chắn còn lại hai nước Mân Việt và Đông Việt. Nhưng chẳng bao
lâu sau, năm 135 trước Công nguyên, Mân Việt bị nhà Hán đánh chiếm,
năm 111 trước Công nguyên tới lượt Nam Việt, còn Đông Việt cũng chỉ tồn
https://thuviensach.vn
tại được ít năm sau là bị thôn tính nốt (do cùng tướng Dương Bộc, người đã
đánh chiếm Nam Việt).
Như vậy sang đầu thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, không còn quốc gia
Việt nào tồn tại, nhưng các tổ hợp Việt nhỏ vẫn sống rải rác đầy dẫy ở Hoa
Nam và vùng Đông Nam Á. Nhiều tổ hợp vẫn tiếp tục đấu tranh và không
bị Hán thôn tính. Bộ tộc Việt ở quận Chu Nhai thuộc Hải Nam đã bền vững
chống Hán suốt nửa thế kỷ để giữ nền tự trị, cho đến năm 46 trước Công
nguyên thì nhà Hán phải bỏ hẳn ý định xâm chiếm vùng này. Theo Hán
Thư, Giả Quyên Chi đã tâu với vua Hán xin bỏ cuộc chinh phục vì “dân
Lạc Việt ở quận Chu Nhai vốn còn man rợ không khác loài cầm thú, cha
con quen tắm cùng sông, quen uống bằng mũi, do đó không đáng đặt đất
này thành quận huyện.” Kẻ thất trận nào mà chẳng nại ra được lý do chính
đáng để lui quân!
Kể từ thế kỷ 1 (sau Công nguyên), ngoài những nhóm đã thiên di xuống
Đông Nam Á, các phần tử Việt còn lại ở vùng Dương Tử lần lần bị đồng
hoá, còn các bộ tộc ở đông nam Trung Hoa thì bị người Hán di cư xuống
chiếm mất các bình nguyên màu mỡ và đẩy vào những miền đất cằn cỗi.
Ở tây nam Trung Hoa, tộc Lý [8] tức Thái đã quy tụ thành Vương quốc Đại
Lý. Còn ở Đông Nam Á, sau Lạc Việt (lúc ấy đã bị Tàu đô hộ), hai vương
quốc khác cũng lần lượt thành hình trong thế kỷ đầu Công nguyên là Phù
Nam ở miền nam lục địa và Lâm Ấp (sau đổi là Chiêm Thành) ở Trung
Việt ngày nay.
Nam Thiên Và Các Bộ Tộc
Về những cuộc nam thiên của các bộ tộc Bách Việt, thực sự chúng ta không
nắm vững được từng giai đoạn chính xác, nhất là trong thời kỳ đầu tiên với
nhiều đợt khác nhau kéo dài trong nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, với những dữ
kiện đã có, trực tiếp qua những diễn biến lịch sử đã được ghi nhận và gián
https://thuviensach.vn
tiếp qua sự khảo sát về nhân chủng, ta có thể tạm chia ra làm bốn thời kỳ để
tiện nhìn dấu chân tiền nhân một cách rành rẽ hơn.
Thời kỳ một phỏng định qua nhiều đợt rời vào khoảng giữa thiên kỷ thứ ba
đến cuối thiên kỷ thứ hai trước Công nguyên bao gồm các sắc dân Cựu
Malay (Proto Malay), Tân Malay (Deutero Malay) và Lạc Việt.
Thời kỳ hai phỏng định từ đầu thiên kỷ thứ nhất đến giữa thế kỷ 3 trước
Công nguyên với các nhóm Môn và Khmer.
Thời kỳ ba vào khoảng từ cuối thế kỷ 3 tới thế kỷ 7 gồm các bộ tộc Miến
(trong đó có Pyu).
Thời kỳ bốn là đợt di cư ào ạt của người Thái vào thế kỷ 13 (sau khi Vương
quốc Đại Lý bị Mông Cổ phá vỡ) và những đợt nhỏ kế sau.
Mỗi thời kỳ đã được đánh dấu bằng các nhóm dân lớn đóng vai trò chính
đáng trong đợt nam thiên. Nhưng không phải là không có những nhóm dân
khác, với số lượng ít hơn, cùng chia sẻ cuộc hành trình giữ nòi dựng
nghiệp. Thí dụ, ngay trước khi có cuộc di cư ào ạt của người Thái vào thế
kỷ 13 thì một số tập thể nhỏ người Thái đã hiện diện rải rác ở Đông Nam Á
từ Miến Điện (được gọi là Shan) tới Bắc Việt (được gọi là Tây). Trong
khoảng thời gian giữa các đợt chính và ngay cả từ thế kỷ 13 đến thời kỳ
gần đây vẫn có những toán di cư nhỏ rời Hoa Nam xuống Đông Nam Á.
Thời kỳ 1
Những bộ tộc Bách Việt di tản xuống Đông Nam Á trong thời kỳ đầu tiên
được nhiều nhà nghiên cứu cho là đang ở thời đại văn hoá đồ đá mới. Họ
đem văn hoá đồ đá mới xuống thay thế cho văn hoá đồ đá giũa (mesolithic)
tức văn hoá Bắc Sơn Hoà Bình. Cũng có người cho là họ đã tiến sang thời
đại đồ đồng, hoặc ở thời đại kim thạch hợp dụng. Nhưng dù là họ ở thời đại
nào, một đặc điểm mà ai cũng công nhận nơi họ là phương pháp cấy lúa
https://thuviensach.vn
ruộng nước (thuỷ canh hay nông hệ sawah) mà họ đem theo. Điểm này đã
giúp những người nghiên cứu phân biệt được họ với những thổ dân cổ chỉ
có biết đốt rừng làm rẫy (hoả canh hay nông hệ ladang).
Tạm gác lại nhóm Lạc Việt mà chúng tôi sẽ đề cập tới trong chương sau,
chúng ta có thể theo dõi ngay nhóm Indonesian còn lại, tức người Malay.
Người Malay đã nam thiên thành hai đợt chính. Malay đợt trước (cựu) có lẽ
di chuyển rải rác từng nhóm nhỏ, nên thường sinh hoạt lẫn lộn với các sắc
dân đã có trước ở đây và đồng thời pha giống nhiều ít với các sắc dân ấy.
Malay đợt sau (tân) thiên di ào ạt hơn, tạo thành những tập thể lớn và choán
các vùng màu mỡ. Họ xuống các đảo Đông Nam Á, thường chiếm ngụ các
vùng bình nguyên nhỏ ở duyên hải, nên cũng còn được gọi là Malay duyên
hải. Xét về nhân chủng họ còn giữ được khá nhiều bản sắc “da vàng miền
nam” của các sắc dân Bách Việt. Ngày nay, họ là thành phần dân cư chính
của Mã Lai Á, Indonesia, Phi Luật Tân.
Khi choán các đảo, họ tiến từ Mã Lai sang Sumatra, Java, rồi Bornéo,
Cèlèbes, sau cùng mới tới quần đảo Phi Luật Tân. Lúc đầu họ tới Phi Luật
Tân rất ít, mãi đến thế kỷ thứ hai trước Công nguyên, họ mới từ các đảo
miền nam kéo sang với số lượng lớn. Lúc này, các sắc dân Bách Việt ở
Đông Nam Á hải đảo cũng theo gót lục địa đã tiến tới thời đại đồ sắt. Nền
văn hoá đồ đồng, đồ sắt theo khuôn mẫu và hình thức nghệ thuật Lạc Việt
lan tràn khắp nơi. Tại Phi, các sắc dân gốc Bách Việt ngày nay chiếm trên
90%, trong khi thổ dân cổ chỉ có vào khoảng dưới 10% và thường ở trong
vùng rừng núi. Danh từ “Tagalog” ở Phi cũng giống như danh từ “Người
Kinh” (người miền xuôi) của ta, thường để phân biệt với người Thượng
(người miền núi). Người miền Xuôi ở các đảo vẫn theo truyền thống ruộng
nước từ hai nghìn năm nay.
Thời kỳ 2
Thời kỳ nam thiên thứ nhì gồm người Môn và Khmer. Người Môn từ Nam
https://thuviensach.vn
Trung Hoa xuống Đông Nam Á qua vùng Cửu Long thượng. Dường như
cho tới khi di tản xuống phương Nam họ không hề tiếp xúc với văn minh
Trung Nguyên của Hán tộc. Họ tiến vào Hạ Miến qua các hành lang sông
Salween và Sittang, tụ tập thành những tổ hợp đầu tiên ở vùng bờ biển,
trước hết tại Thaton, sau tại Kosma và Pegu. Người Môn ở Hạ Miến có liên
hệ chặt chẽ với các sắc dân Pwo Karen. Dường như họ đã chiếm lĩnh địa
bàn sinh tụ của sắc dân này và trở nên kẻ thống trị. Ngôn ngữ Pwo Karen
chịu ảnh hưởng rõ rệt ngôn ngữ Môn. Người Môn là những nhà nông giỏi,
họ cũng là những thương gia, thợ đóng thuyền và nhà hàng hải thạo nghề.
Tuy nhiên họ chưa đặt chân xuống các hải đảo. Nơi họ tiến xa nhất là vùng
bắc bán đảo Mã Lai do đường xuôi theo Chao Phraya.
Tổ hợp Môn đầu tiên quy tụ như một quốc gia toạ lạc gần Lavo, cực bắc
vịnh Thái Lan và được biết đến qua tên Ấn là Draravati. Qua các cuộc tiếp
xúc buôn bán bằng đường biển, người Môn đã sớm tiếp nhận văn minh Ấn
Độ và sau này truyền thụ lại cho người Khmer, Miến và Thái.
Người Khmer có lẽ đã theo chân người Môn xuống Cửu Long thượng,
nhưng lại rẽ về phía đông và định cư ở Thượng Lào và cao nguyên Korat.
Họ choán cả hai bên bờ sông Cửu Long và sau này thành lập quốc gia đầu
tiên là Chân Lạp (Chen La). Tới hậu bán thế kỷ thứ sáu, người Khmer bắt
đầu lấn dần vương quốc Phù Nam ở phía Nam. Sang thế kỷ 9, Khmer đã
bành trướng rất rộng với trung tâm ở gần Biển Hồ (Tonlé Sap) và phía tây
lan ra tới tận lề Ấn Độ Dương sau khi chiếm được đất Môn ở vịnh Thái
Lan. Cuộc kết hợp giữa hai nhóm Môn và Khmer đã tạo thành một nền văn
hóa hợp nhất rực rỡ một thời, nền văn hoá của những người vốn cùng gốc
nhưng đã nam thiên theo hai ngã khác nhau.
Thời kỳ 3
Thời kỳ 3 là những đợt nam thiên của dân Pyu và Miến. Dân Pyu trước kia
có lẽ là nhóm người quan trọng nhất về mặt chính trị ở trung tâm châu thổ
https://thuviensach.vn
Irrawaddy tại Miến Điện. Dân Pyu nguyên ở vùng đông Tây Tạng, đã thiên
di về nam vào thế kỷ 3 xuôi theo ngọn sông Salwee và Cửu Long ở tây Vân
Nam rồi đi chếch về hướng tây tới đồng bằng Irrawaddy.
Người Pyu lập quốc vào khoảng cuối thế kỷ 6 sang đầu thế kỷ 7, kinh đô là
Srikshetra ở hạ lưu sông Irrawaddy. Tuy nhiên, từ thế kỷ 4 hay 5, người
Trung Hoa đã ghi nhận “có một giống dân văn minh quy tụ tại vùng đất ba
ngàn lý phía nam Vân Nam” để chỉ nguời Pyu. Dấu vết đổ nát còn lưu lại
tới ngày nay của kinh đô Srikshetra làm theo kiểu Ấn, cho người ta một ý
niệm về sự quan trọng của quốc gia Pyu thời xưa, cũng như sự l...
Trăm Việt trên vùng định mệnh
Phạm Việt Châu
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
LTS
CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3
CHƯƠNG 4
Phần II - CHƯƠNG 5
CHƯƠNG 6
CHƯƠNG 7
CHƯƠNG 8
CHƯƠNG 9
CHƯƠNG 10
CHƯƠNG 11
CHƯƠNG 12
Phần III - CHƯƠNG 13
CHƯƠNG 14
CHƯƠNG 15
Phần IV - CHƯƠNG 16
CHƯƠNG 17
CHƯƠNG 18
Tiểu sử tác giả
https://thuviensach.vn
Phạm Việt Châu
Trăm Việt trên vùng định mệnh
LTS
Phạm Việt Châu
Học giả Phạm Việt Châu thông thạo các ngôn ngữ Anh, Pháp, Nhật, TrungHoa, và từng là Giáo Sư Anh Ngữ tại trường Sinh Ngữ Quân Đội (Cây
Mai). Ông cũng từng là nhân viên nồng cốt trong ban Liên Hợp Quân Sự 4
bên, là trưởng phái đoàn đầu tiên của VNCH ra Hà Nội năm 1972 để thi
hành hiệp định Paris. Sau khi ngày miền Nam VN lọt vào tay cộng sản, học
giả Phạm Việt Châu đã tuẫn tiết ít hôm sau đó.
Tập biên khảo Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh đã được ấn hành nhiều kỳ
trên tạp chí Bách Khoa (Sài Gòn) trong khoảng thời gian 1969-1974. Trong
lời bạt cho lần xuất bản tập biên khảo này tại Hoa Kỳ (1997), nhà văn
Nguyễn Mộng Giác nhận xét về sự xuất hiện của loạt bài Trăm Việt Trên
Vùng Định Mệnh như sau:
… Sau hiệp định ngưng chiến ký kết ở Paris, Hoa Kỳ giao lại cho chính
quyền miền Nam vai trò chính yếu trong cuộc chiến tranh tự vệ, chuẩn bị
rút lui “trong danh dự” khỏi một cuộc phiêu lưu làm phân hóa trầm trọng
https://thuviensach.vn
xã hội Hoa kỳ. Những người Việt Nam lạc quan thời bấy giờ thấy le lói một
niềm hy vọng mới, hy vọng bằng chính sức mình duy trì và bảo vệ được một
chính thể tự do, dân chủ thực sự, trong quan hệ mật thiết với các nước lân
bang, và nhất là thoát ra ngoài ảnh hưởng của các cuộc tranh chấp quyền
lực giữa các đại cường. Đó là cụm từ như “thân phận da vàng”, “nỗi buồn
nhược tiểu”, “chiến tranh uỷ nhiệm” trở thành thời thượng trong các bài
bình luận chính trị, trong các lời ca phản chiến. Bây giờ, chúng ta mới thấy
niềm hy vọng ấy chỉ là ảo tưởng, khi miền Bắc không hề bỏ ý định thôn tính
miền Nam dù Hoa kỳ có rút lui, dù phải đốt cháy cả Trường Sơn. Nhưng
xin bạn đọc trở lui lại thời kỳ sôi động đầy hoang mang ấy, thời kỳ khắc
khoải đi tìm đường của cả một thế hệ, bạn đọc mới thấy những lời viết của
Phạm Việt Châu tác động mạnh mẽ như thế nào. Ông cho chúng tôi một
căn cước mới, một niềm hãnh diện mới, một gia đình mới, và dĩ nhiên, một
hướng đi mới.
Gần 40 năm sau khi loạt bài được đăng tải lần đầu, cùng với các tranh chấp
biên giới và lãnh hải giữa Việt Nam và người láng giềng khổng lồ phương
Bắc (và với cả các lân bang Trăm Việt), những điều chứa đựng trong Trăm
Việt Trên Vùng Định Mệnh ngày càng minh bạch và đầy ý nghĩa.
Tạp chí Da Màu trân trọng giới thiệu tập biên khảo giá trị này cùng bạn
đọc.
https://thuviensach.vn
Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh
Dẫn Nhập
Cho đến khi người viết cầm bút viết những dòng này, năm 1968, học sinh
Việt từ Nam chí Bắc vẫn còn phải đọc trong sách những dòng đầu địa lý về
xứ sở mình: nước Việt Nam ở về phía Đông bán đảo Ấn-Hoa!
Cái bản chất lệ thuộc trong địa danh Ấn-Hoa đã hạ nhục tất cả các quốc gia
độc lập trong khu vực, cũng như cái bản chất chư hầu trong quốc hiệu AnNam đã làm cho người Việt chúng ta phải tủi hổ khi nghe người khác gọi
mình và đã quyết liệt xóa bỏ bằng chính máu của mình.
Tại sao lại Ấn-Hoa, Ấn-Trung hay Ấn-độ Chi-na (Indochine)? Có phải vì
trước đây người Tây phương khi nhìn về Đông phương đã không thấy gì
hơn là hai quốc gia khổng lồ này? Một vùng gồm nhiều nước có vẻ hỗn tạp,
không thể ghép vào Ấn vì chẳng phải là Ấn, không thể ghép vào Hoa vì
https://thuviensach.vn
cũng chẳng phải là Hoa, nhưng không đáng được mang một cái tên riêng,
vậy âu đặt luôn là Ấn-Hoa cho dễ nhớ. Tây phương đã nghĩ vậy và đã làm
vậy. Cũng với cung cách ấy, họ còn gọi khu vực chúng ta ở bằng những
danh hiệu đầy tính chất lệ thuộc khác như Tiểu-Hoa (Little China) theo
người Anh, như Ngoại-Ấn (L'Inde Extérieure) theo một số học giả Pháp.
Tuy nhiên, chậm lắm là sau Thế chiến II, người Tây phương cũng đã phải
mở mắt rộng hơn để nhìn rõ hơn những gì đã xẩy ra khi cả thế giới nhược
tiểu bừng bừng trổi dậy, nhất là ở vùng địa đầu tối quan yếu này. Với tiếng
nói của một số dân nhiều hơn Liên Sô, nhiều hơn dân Hoa Kỳ và bằng toàn
thể dân số Mỹ-la-tinh hợp lại[1] cùng trổi lên điệp khúc đòi tự do, giải
phóng, đòi chỗ đứng riêng biệt trong tập thể nhân loại, thì tất nhiên âm
vang của nó không thể không buộc người khác phải chú ý.
Sử gia D.G.E. Hall, giáo sư đại học ở Luân Đôn, đã lớn tiếng nhắc nhở
người Tây phương không nên gọi vùng đất ở miền Đông Nam Châu Á này
bằng bất cứ danh từ gì có liên quan đến hai chữ Trung Hoa và Ấn Độ. Vì
gọi như vậy, chắc chắn sẽ bị người trong vùng phản đối và hơn nữa còn là
cố ý phủ nhận sự cá biệt của khu vực này, tức phủ nhận một sự thực lịch sử.
Vẫn theo ông, sự thực lịch sử đó là: dù có chịu ảnh hưởng rõ rệt của văn
minh Hoa và Ấn, vùng đất này từ xưa đến nay vẫn có một nền văn hóa
riêng biệt không thể chối cãi được. Nghệ thuật và kiến trúc ở Angkor,
Pagan, Trung Java và các khu vực nguyên là nước Chiêm Thành cũ rõ ràng
khác xa nghệ thuật và kiến trúc Ấn Độ. Ngay cả đến Việt Nam, nơi đã bị
ngưòi Tàu cai trị từ năm 111 trước Công nguyên tới 939 sau Công nguyên,
và dưới đời nhà Hán đã trở nên đối tượng cho một nỗ lực Hán hóa khốc
liệt, vẫn phát triển một hướng đi riêng và vẫn bảo tồn được bản chất văn
hóa cá biệt với những cỗi rễ tiếp nối từ thời tiền bị trị [2].
https://thuviensach.vn
Đi xa hơn, học giả W.G. Solhiem, thuộc đại học Hawaii, đã vạch rõ ràng
việc đặt cái tên Ấn Hoa cho vùng này phản ảnh kiến thức ấu trĩ của Tây
phương về trào lưu du nhập văn hóa. Ông đã chứng minh ngược lại là
chẳng những ánh sáng văn minh đầu tiên không phải từ Ấn và Hoa chiếu
rọi vào miền Đông Nam mà chính là từ miền Đông Nam tỏa lên và tỏa sang
Hoa và Ấn. Qua các cuộc khai quật có hệ thống trong vòng 10 năm nay
(nhất là giai đoạn từ 1963 đến 1968 tại Non Nok Tha, Bắc Thái), nhóm
chuyên viên thuộc hai trường đại học Otago (Tân-Tây-Lan) và Hawaii
(Mỹ) đã chứng minh một cách khá chính xác rằng: về nông nghiệp, miền
Đông Nam Châu Á đã trồng lúa (gạo) từ trên 3.000 năm trước Công
nguyên, nghĩa là trước Ấn Độ và Trung Hoa ít ra là 1.000 năm; về kỹ thuật,
miền Đông Nam Châu Á đã biết đúc đồng bằng khuôn đôi sa thạch từ
2.300 đến 3.000 năm trước C.N., nghĩa là trước Ấn Độ 500 năm và trước
Trung Hoa 1.000 năm [3].
Vậy thì, hãy trả cái gì của César cho César. Vùng đất mà chúng ta đang nói
tới cùng các quần đảo lớn nhỏ bao bên ngoài ở miền Đông Nam châu Á,
chúng ta hãy gọi nó là Đông Nam Á, một cái tên đúng đắn nhất y cứ vào
Châu và vị trí trong Châu, như người ta đã gọi Đông Âu, Bắc Âu, Nam Mỹ,
Trung Mỹ, v.v…
Toàn thể Đông Nam Á gồm các nước Việt Nam, Lào, Kam-pu-chia, Thái
Lan, Miến Điện, Indonesia, Phi-líp-pin, Mã Lai Á và hai mẩu đất phân ly
trong khu vực Mã Lai là Singapore và Brunei (thuộc Anh). Để chỉ rõ ràng
hơn, người ta gọi bán đảo vào đại lục Á Âu trước có tên Ấn Hoa nay là
Đông Nam Á Lục Địa (Southeast Asia Mainland), phần còn lại là Đông
Nam Á Hải Đảo (Southeast Asia Islands) gồm chuỗi đảo chạy vòng cung từ
eo biển Malacca tới Luzon nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương.
https://thuviensach.vn
Thực ra thì danh xưng Đông Nam Á đã xuất hiện từ năm 1943 trong cái tên
của Bộ Tư Lệnh Liên Hợp Anh Mỹ (Anglo-American Southeast Asian
Command) đặt tại Tích Lan. Đặt một bộ tư lệnh riêng cho một vủng trong
thế chiến không thể là một chuyện ngẫu nhiên của Đồng Minh mà chắc
chắn bắt nguồn từ một nhu cầu có tính cách chiến lược. Tầm quan trọng
của toàn thể khu vực vày đã đặc biệt gây sự chú ý trước hết cho những
người chỉ huy quân đội các phe lâm chiến, sau nữa tới các nhà lãnh đạo của
các đế quốc. Đó lả điều bất hạnh nhất cho nhân dân Đông Nam Á mà
chứng cớ đã rành rành trước mắt chúng ta ngày nay, khi Đông Nam Á trở
nên vùng tranh chấp hàng đầu của hai đế quốc Cộng Sản và Tư Bản.
Trở ngược lại trước Thế chiến 2, chúng ta thấy nhân dân các nước trong
vùng đều chịu chung một số phận bị Tây phương thống trị. Trừ Thái Lan,
dù chưa chính thức bị trị, nhưng cũng đã kinh qua nhiều phen tủi nhục vì sự
chèn ép của Tây phương. Trong trạng huống ấy, đế quốc Tây phương đã trở
thành kẻ thù số một trước mắt nhân dân Đông Nam Á. Và dĩ nhiên, họ đã
vùng lên chống lại.
Suốt thế kỷ qua, nhân dân Đông Nam Á đã viết những trang sử đấu tranh
thật anh dũng. Tuy nhiên, trong cuộc đổi đời vĩ đại và khá đột ngột (từ một
xã hội sống thụ động trong nền nếp được áp định sang một xã hội luôn luôn
xáo động với các ý thức, tư trào mới), họ đã không kịp sửa soạn để tự định
đoạt lấy số phận bằng chính huớng đi của mình. Nhóm này đã lao theo
chiêu bài Đại Đông Á của Nhật và đã vỡ mộng khi thấy Nhật chẳng qua
cũng chỉ mưu đồ thay thế Tây phương trong vai trò thống trị. Nhóm khác
đã khoác vội lấy bộ áo xã hội đỏ vì tưởng đó là lá bùa chống thực dân hữu
hiệu nhất. Nhưng khoác vào thì dễ, cởi ra thì khó! Như con thiêu thân đã
chịu đèn, họ vẫn tiếp tục lao vào lửa và vô tình đã trở thành tay sai của một
trong những đế quốc gian manh nhất thế kỷ: Đế Quốc Cộng Sản. Một số
người khác, có thể là những nhóm ôn hòa hơn, hoặc đôi khi đã được kẻ
https://thuviensach.vn
thống trị tự trao trả độc lập (trong một cái thế không thể đừng.) Nhận mà
không tốn công nhiều, họ trở thành những đứa con phung phí, chỉ biết dựa
vào nước mẹ đỡ đầu cho tới khi chợt thấy mình không còn đứng nổi một
mình nữa thì đã quá muộn. Nghĩa là đã đem dân tộc họ trở lại tình trạng bị
trị, dĩ nhiên dưới một hình thức khác xảo quyệt hơn, của đế quốc Tư Bản.
Cái thảm kịch chung của thế giới nhược tiểu là ở đó, nhưng cái thảm kịch
của riêng Đông Nam Á lại còn khốc liệt gấp bội do nơi vị trí định mệnh của
toàn vùng.
Nói đến vị trí định mệnh, trước hết chúng tôi nghĩ đến hình ảnh cái lò pha
trộn các món văn hoá, sản phẩm tư tưởng từ mọi ngã và mọi thời kỳ của
lịch sử loài người. Trong quá trình phát triển, Đông Nam Á đã có những
sắc thái sinh hoạt riêng biệt, đồng thời cũng tiếp nhận hai nền văn minh
Hoa, Ấn cùng tất cả các hình thái, tín ngưỡng thuộc các tôn giáo lớn của
nhân loại. Sang kỷ nguyên mới, thế giới mở rộng, Đông Nam Á lại tiếp
nhận một cách cởi mở nền văn hóa Âu Tây. Một sự điều hợp kỳ lại giữa cái
mới và cái cũ, giữa bảo thủ và tiến bộ, giữa tĩnh và động, có lẽ không ở đâu
bộc lộ rõ rệt cho bằng xã hội vùng này. Trạng thái đặc biệt ấy không phải
chỉ là một sự pha trộn Đông Tây kiểu Nhật Bản qua ly rượu champagne
bên đĩa cá sống sashimi cổ truyền, mà hơn thế nữa, còn là sự phơi bày diễn
trình văn minh nhân loại như có người đã hình dung "văn-hóa thời đại đồ
đá cộng sinh cùng các phòng thí nghiệm năng lực nguyên tử" (stone age
cultures coexisting with atomic energy laboratories). [4]
Chuyển sang giai đoạn đấu tranh ý thức hệ, Đông Nam Á một lần nữa lại là
mảnh đất thử lửa của các lực lượng đối kháng trên mặt đất. Dầu muốn dầu
không, như định mệnh đã an bài, Đông Nam Á cũng đã bị nhuộm xanh
nhuộm đỏ lỗ chỗ khắp nơi. Và hơn bất cứ nhóm dân nào trên thế giới,
https://thuviensach.vn
người dân Đông Nam Á đã kinh qua những thử thách mới từ chiếc bánh
bằng bột-lọc-trộn-thủy-tinh ngoài phủ kem hồng của Mạc Tư Khoa đến
những đồng đô la tuy thơm mùi giấy nhưng bên trong đã được tẩm sẵn vi
trùng đồi bại ở bên kia Thái Bình Dương. Những kinh nghiệm bằng máu và
nước mắt ấy đang chói lên từ nội tâm những kẻ có ý thức và sẽ là ánh lửa
làm phản tỉnh những phần tử còn mê lòa trong ảo vọng nương nhờ ngoại
viện. Tuy nhiên, cho đến khi giác ngộ đủ triệt để ngõ hầu chuyển hoá thời
cơ, nhân dân Đông Nam Á nhất là nhân dân Việt, vẫn còn tiếp tục phải
hứng chịu những đòn thù từ đôi bên quật xuống.
Thành ra cái tính chất khai phóng trong việc tiếp nhận các tư trào mới nếu
đã làm cho Đông Nam Á trở thành nơi đúc kết tinh hoa của tư tưởng loài
người, thì trên thực tế cũng đã là mối họa triền miên có tính cách lịch sử,
lúc âm ỉ, khi bộc phát, luôn luôn treo trên đầu nhân dân Đông Nam Á: đó là
nhu cầu bành trướng quyết liệt của Trung Hoa về phương Nam. Nhu cầu ấy
từ lâu đã trở thành quốc sách và dù cho Trung Hoa có ở trong chế độ quân
chủ, dân chủ, tư bản hay độc tài cộng sản, mưu đồ Nam tiến vẫn được tiếp
tục duy trì, tuy chiến lược có thể thay đổi, mỗi thời một khác.
Bàn tiếp đến cái mà chúng tôi gọi là vị trí định mệnh, nếu đứng trên bình
diện nhân văn, chúng tôi đã nghĩ đến hình ảnh cái lò pha trộn các món văn
hoá, thì đứng trên bình diện nhân chủng, chúng tôi lại thấy hình ảnh cái hồ
lớn nằm kề lục địa Đông Á để hứng lấy và bao bọc tất cả những bầy cá bị
săn đuổi từ các dòng suối dòng sông tản lạc về: chúng tôi muốn nói tới các
bộ tộc Bách Việt qua nhiều đợt nam thiên dưới áp lực của Hán tộc.
Ngày nay, xét về xã hội Người tại Đông Nam Á, những nhà nghiên cứu
nhân chủng không khỏi ngạc nhiên khi thấy một khu vực có vẻ hỗn tạp nhất
nếu nhìn thoáng qua bên ngoài, lại cũng là nơi tương đối rất thuần nhất nếu
https://thuviensach.vn
đào sâu bới rễ bên trong. Thật vậy, trừ những sắc dân cổ còn lại rất ít và
khối người Trung Hoa mới hình thành gần đây, tất cà thành phần dân số
chính cấu tạo nên tập thể Đông Nam Á ngày nay đều bắt nguồn từ chủngtộc Bách Việt, mà các nhà nhân chủng học Tây-phương khi phân loại
thường gọi là Indonesian hay Malay [5].
Milton W. Meyer, giáo sư sử học ở California, đã xác nhận "Khởi đầu từ
năm 2.500 trước CN, từ phương Bắc, các giống người Malay đã mang theo
văn hóa tiểu Mã xuống vùng này. Họ là tổ tiên của những dân tộc Phi-luậttân, Indonesia, Mã Lai, Việt Nam, Thái Lan và Miến Điện. Những cuộc di
cư của họ đã xảy ra trong nhiều thế kỷ. Đất gốc của họ là lãnh thổ Trung
Hoa ngày nay và họ đã tạo nên những đợt nam thiên triền miên tiếp diễn
xuống khắp vùng Đông Nam Á” [6].
Với hình ảnh cái hồ, chúng tôi cũng nghĩ tới đoạn đường chót của cuộc
hành trình lịch sử. Thật vậy, chúng ta không còn đường nào, nơi nào để mà
thiên di xa hơn nữa. Cửa ngõ thế giới đã khép lại trong khi áp lực từ
phương Bắc, dưới hình thức này hay hình thức khác vẫn tiếp tục đè nặng
xuống. Chúng tôi cũng không thể nghĩ khác hơn là ý nghĩ của những người
Thái-anh-em ở bên kia bờ sông Cửu về cùng một mối lo chung của nhân
dân Trăm Việt trên vùng định mệnh này. Ý nghĩ ấy đã được cựu ngoại
trưởng Thái Thatnat Khoman phát biểu "Không còn chỗ nào cho chúng tôi
lùi (thêm) được nữa! Do đó, với chúng tôi, nơi đây là kháng điểm đầu tiên
và cũng sẽ là kháng điểm cuối cùng." [7]
Là kháng điểm cuối cùng, thật thế! Cái ý nghĩ bi tráng ấy phải được cảm
chiêu sâu sắc để từ đó khơi dậy ý thức đề kháng tự nhiên, chẳng riêng với
Trung Hoa mà còn với tất cả các cường lực khác.
https://thuviensach.vn
Từ lâu, miền đất rộng lớn bao la ở cực nam đã bị người Âu nhanh chân
đoạt được và chuyển hình từ thuộc địa thành các tân quốc gia của riêng
giống da trắng. Ngay bây giờ, ngọn cờ của các đế quốc thực dân Tây Âu cũ
vẫn còn bay phất phới bên trong và sát cạnh Đông Nam Á, như Bồ ở
Timor, Pháp ở Tân Calidonie, Anh ở Brunei, ở Solomon, ở Gilbert, Ellice,
vv… “Lãnh thổ” của Mỹ cũng vốn nằm kề Đông Nam Á với các quần đảo
Caroline và Mariana (thủ phủ: Guam); ấy là chưa nói đến các căn cứ quân
sự còn đầy dẫy ngay trong vùng. Cùng góp phần chia sẻ ảnh hưởng, người
ta còn thấy Nga, với những tấn công ngoại giao mới, với hải lực ngày càng
tăng cường hùng hậu ở ngay vịnh Bengal gần kề; và Nhật với cuộc xâm
lăng kinh tế đã và vẫn còn đang được đẩy mạnh.
Tuy nhiên, điều đáng quan ngại hơn cả vẫn là những mầm ảnh hưởng xấu
mà đế quốc đã gieo được trong lòng các dân tộc Đông Nam Á. Chính
những mầm này đã nẩy nở thành tầng lớp tay sai của các đế quốc và đã đưa
đến sự phân hóa giữa các dân tộc và trong nội bộ mỗi dân tộc trong vùng.
Sự phân hóa ấy đã làm suy yếu toàn thể khu vực và đã là chướng ngại quan
trọng nhất cho mọi nỗ lực kết khối để sống còn và tiến bộ.
Nhìn thẳng vào quá trình hình thành và tiếp nối để sắp đặt đường đi nước
bước cho mai sau, nhìn thẳng vào những vấn đề gai góc nhất để tìm giải
pháp xác đáng, nhìn thẳng vào mặt những đế quốc hiện đại đang xâu xé
vùng đất này để cùng quyết tâm đối phó, nhìn thẳng vào những vết rạn
phân cách các dân tộc anh em để cùng đưa tay bắc môt nhịp cầu kết hợp, đó
là công việc mà thế hệ hôm nay yêu dân tộc, yêu quê hương, yêu vùng đất
đã nuôi dưỡng mình nên làm và phải làm. Trăm Việt Trên Vùng Định
Mệnh mong được là một đóng góp nhỏ bé trong muôn một.
[Còn tiếp]
https://thuviensach.vn
Ghi chú:
[1] Tính tới 1971, toàn thể Đông Nam Á gồm 285 triệu dân.
[2] D.G.E. Hall, A History of Southeast Asia, MacMillan (London, 1964,
trang 4.)
[3]National Geographic Magazine, số tháng 3 năm 1971.
[4] Milton W. Meyer, Southeast Asia Đ A Brief History, Littlefield: Adam
and Co. , 1965.
[5] Chúng tôi tạm dùng nguyên tiếng Anh Indonesian và Malay chỉ chủng
tộc để phân biệt với người Indonesia và người Mã Lai Á khi cần chỉ dân
mang quốc tịch các xứ này.
[6] Như chú thích (4).
[7] Reader's Digest số 533, bộ 89, tháng 9 năm 1966.
https://thuviensach.vn
Phạm Việt Châu
Trăm Việt trên vùng định mệnh
CHƯƠNG 1
DẤU CHÂN BÁCH VIỆT
Phải đi đường con don, con dím,
Đường con trâu, con bò lẩn trong rừng.
Ai có bò bện thừng mà buộc;
Ai có trâu làm xẻo mà lôi;
Ai có con đeo địu, mang nôi.
...
(hành ca trên đường nam thiên của bộ tộc Thái)
Những Chủ Nhân Đầu Tiên
Trước khi đề cập tới các dân tộc Bách Việt hiện làm chủ khắp miền Đông
Nam Á sau nhiều đợt nam thiên, chúng ta hãy lược kiểm lại những giống
người cổ sơ trước đây đã sinh ra và tiếp nối ở vùng đất này.
Cũng như ở nhiều địa điểm khác trên thế giới, Đông Nam Á đã có dấu tích
những người Vượn đầu tiên. Người Vượn này được gọi là
Pithecanthropus[1], và vì các di chỉ đều ở trên đảo Java [2] nên cũng còn
được gọi là người Ja Va. Sự chuyển hóa sang Người Vượn được ước định
xảy ra vào thời khoảng bắt đầu hồng tích kỳ (pléistocène).
Người Vượn, theo thời gian, đã biến đổi sang hình thái người Linh Trưởng
(homo sapiens). Loại người được coi là Linh Trưởng cổ nhất Đông Nam Á
là người Wadjak, dấu vết được tìm thấy ở Wadjak gần bờ biển phía nam
đảo Java. Khảo nghiệm những chiếc sọ đã đào được, người ta cho rằng
người Linh Trưởng Wadjak đã xuất hiện vào cuối hồng tích kỳ hay kế sau
hồng tích kỳ, nghĩa là vào khoảng trên dưới 20 ngàn năm trước.
Loại người kế tiếp có những đặc điểm biểu lộ rõ rệt tính chất négroid (da
đen), trong đó có hai nhóm chính là Australoid và Veddoid. Giống
https://thuviensach.vn
Australoid, cùng giống tương tự là Veddoid, đã lan tràn khắp các hải đảo
Đông Nam Á. Khi đặt chân được lên đại lục, họ liền tiến về phía tây đến
tận bán đảo Ấn Độ. Giống Australoid ngày nay còn sót lại ở miền núi tại
Úc, Phi Luật Tân, Mã Lai Á (bộ lạc miền núi Senoi và Sakai). Giống
Veddoid còn thấy rải rác ở một vài đảo nhỏ thuộc quần đảo Indonesia và ở
Tích Lan. Ngay cả vùng Nam Ấn ngày nay cũng thấy có giống dân pha
Veddoid. Trên toàn vùng Đông Nam Á, so với tổng số dân hiện hữu thì
những sắc dân cổ này chỉ được coi như một thiểu số không mấy quan trọng.
Bách Việt
Sắc dân chiếm đa số trên toàn vùng hiện nay, như chương trên đã nói, là
dân Bách Việt, hoặc Indonesian, hoặc Malay.
Về Bách Việt, trước hết theo Từ Hải, danh xưng này là tiếng để chỉ “chỗ
hỗn tạp gồm bảy tám ngày dặm của trăm giống Việt từ Giao Chỉ đến Cối
Khê, mỗi xứ đều có giòng họ riêng.”
Dài dòng hơn, chúng ta cũng đã được biết qua Ngô Thời Sỹ “Xét theo thiên
Vũ Công, nước Việt ở về phía nam đất Dương Châu. Theo sách Thiên
Quan, từ sao Đẩu mười một độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ bảy
độ là tinh kỷ. Kể về sao thì ở về ngôi sửu, cùng một phận đã tinh truyện với
nước Ngô. Cõi nam là Việt môn, có rất nhiều nước như Âu Việt, Mân Việt,
Lạc Việt, cho nên gọi là Bách Việt. Bởi vì miền này ở phía nam Dương
Châu, nên lại gọi là Nam Việt. Vùng đất từ núi Ngũ Lĩnh xuống phía nam
thuộc về Nam Việt.” [3]
Đào Duy Anh kê rõ thêm một số địa điểm “U Việt ở Chiết Giang, Mân Việt
ở Phúc Kiến, Đông Việt ở Giang Tây, Nam Việt ở Quảng Đông, Lạc Việt ở
An Nam.” [4]
Gần đây, Lăng Thuần Thanh (Ling Shun Sheng), giáo sư đại học Đài Loan,
còn ghi thêm một vùng nữa cho dân Bách Việt, đó là tỉnh Hồ Nam, nơi
https://thuviensach.vn
trước kia vào thế kỷ 3 trước Công nguyên, Tam Lư Đại Phu nước Sở là
Khuất Nguyên đã bị đầy tới. Trong khi bị đầy, Khuất Nguyên đã phóng tác
ra Cửu Ca (trong bộ Sở từ), và theo họ Lăng, nếu xét kỹ Cửu ca thì người ta
sẽ nhận ra những hình ảnh mô tả các cuộc tế lễ tại địa phương này giống
hệt hình ảnh đã được vẽ trên trống đồng Đông Sơn của dân Lạc Việt [5].
Ông Lăng cũng chủ trương rằng “trước kia trung tâm đồng bằng Dương tử
là nơi cư ngụ của giống người Indonesia mà sử sách Trung Hoa gọi là Bách
Việt hay Lạc Việt.” [6]
Nói chung, ta thấy các xứ Việt nằm kế tiếp từ hữu ngạn sông Dương Tử
qua lưu vực Việt Giang, Hồng Hà, tới tận bình nguyên sông Mã. Khu vực
này được ghi nhận vào cuối đời Chiến quốc ở Trung Hoa (thế kỷ 3 trước
Công nguyên). Đó là một vài nhóm Việt đã tổ chức thành quốc gia, còn
những nhóm khác ở rải rác khắp vùng tây nam Trung Hoa thì không biết là
bao nhiêu.
Vào thời này, Thục Phán, thủ lãnh Âu Việt, đã thâu gồm được cả Lạc Việt
và hợp tên hai nhóm Việt này lại là Âu Lạc[7]. Sau khi Tần Thuỷ Hoàng
thống nhất được Trung Hoa, Tần bèn sai Đồ Thư mang quân đi chinh phục
Bách Việt (214 trước Công nguyên). Trong cuộc giao tranh với quân Tần,
dân Bách Việt ở Hoa Nam ngày nay đã áp dụng lối đánh du kích dai dẳng,
tiêu hao dần quân địch và đã giết được tướng Đồ Thư trong một trận phục
kích. Tuy nhiên về sau quân Tần vẫn thắng vì đông đảo và có tổ chức hơn.
Người Bách Việt bị bại trận bèn thiên di đi nơi khác hoặc lui vào ẩn trong
miền rừng núi. Chỉ có Âu Lạc ở miền cực nam nên tránh được nạn binh
đao. Nam Việt (tức Việt Nam Hải) bị trực tiếp cai trị và cải là quận Nam
Hải. Sau quan uý quận Nam Hải là Triệu Đà thôn tính được Âu Lạc và
nhập chung cả ba xứ Việt cũ thành đế quốc Nam Việt. Lúc Đế Quốc Nam
Việt thành hình thì phần lớn các xứ Việt nhỏ miền Bắc đã suy sụp, tuy
nhiên chắc chắn còn lại hai nước Mân Việt và Đông Việt. Nhưng chẳng bao
lâu sau, năm 135 trước Công nguyên, Mân Việt bị nhà Hán đánh chiếm,
năm 111 trước Công nguyên tới lượt Nam Việt, còn Đông Việt cũng chỉ tồn
https://thuviensach.vn
tại được ít năm sau là bị thôn tính nốt (do cùng tướng Dương Bộc, người đã
đánh chiếm Nam Việt).
Như vậy sang đầu thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, không còn quốc gia
Việt nào tồn tại, nhưng các tổ hợp Việt nhỏ vẫn sống rải rác đầy dẫy ở Hoa
Nam và vùng Đông Nam Á. Nhiều tổ hợp vẫn tiếp tục đấu tranh và không
bị Hán thôn tính. Bộ tộc Việt ở quận Chu Nhai thuộc Hải Nam đã bền vững
chống Hán suốt nửa thế kỷ để giữ nền tự trị, cho đến năm 46 trước Công
nguyên thì nhà Hán phải bỏ hẳn ý định xâm chiếm vùng này. Theo Hán
Thư, Giả Quyên Chi đã tâu với vua Hán xin bỏ cuộc chinh phục vì “dân
Lạc Việt ở quận Chu Nhai vốn còn man rợ không khác loài cầm thú, cha
con quen tắm cùng sông, quen uống bằng mũi, do đó không đáng đặt đất
này thành quận huyện.” Kẻ thất trận nào mà chẳng nại ra được lý do chính
đáng để lui quân!
Kể từ thế kỷ 1 (sau Công nguyên), ngoài những nhóm đã thiên di xuống
Đông Nam Á, các phần tử Việt còn lại ở vùng Dương Tử lần lần bị đồng
hoá, còn các bộ tộc ở đông nam Trung Hoa thì bị người Hán di cư xuống
chiếm mất các bình nguyên màu mỡ và đẩy vào những miền đất cằn cỗi.
Ở tây nam Trung Hoa, tộc Lý [8] tức Thái đã quy tụ thành Vương quốc Đại
Lý. Còn ở Đông Nam Á, sau Lạc Việt (lúc ấy đã bị Tàu đô hộ), hai vương
quốc khác cũng lần lượt thành hình trong thế kỷ đầu Công nguyên là Phù
Nam ở miền nam lục địa và Lâm Ấp (sau đổi là Chiêm Thành) ở Trung
Việt ngày nay.
Nam Thiên Và Các Bộ Tộc
Về những cuộc nam thiên của các bộ tộc Bách Việt, thực sự chúng ta không
nắm vững được từng giai đoạn chính xác, nhất là trong thời kỳ đầu tiên với
nhiều đợt khác nhau kéo dài trong nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, với những dữ
kiện đã có, trực tiếp qua những diễn biến lịch sử đã được ghi nhận và gián
https://thuviensach.vn
tiếp qua sự khảo sát về nhân chủng, ta có thể tạm chia ra làm bốn thời kỳ để
tiện nhìn dấu chân tiền nhân một cách rành rẽ hơn.
Thời kỳ một phỏng định qua nhiều đợt rời vào khoảng giữa thiên kỷ thứ ba
đến cuối thiên kỷ thứ hai trước Công nguyên bao gồm các sắc dân Cựu
Malay (Proto Malay), Tân Malay (Deutero Malay) và Lạc Việt.
Thời kỳ hai phỏng định từ đầu thiên kỷ thứ nhất đến giữa thế kỷ 3 trước
Công nguyên với các nhóm Môn và Khmer.
Thời kỳ ba vào khoảng từ cuối thế kỷ 3 tới thế kỷ 7 gồm các bộ tộc Miến
(trong đó có Pyu).
Thời kỳ bốn là đợt di cư ào ạt của người Thái vào thế kỷ 13 (sau khi Vương
quốc Đại Lý bị Mông Cổ phá vỡ) và những đợt nhỏ kế sau.
Mỗi thời kỳ đã được đánh dấu bằng các nhóm dân lớn đóng vai trò chính
đáng trong đợt nam thiên. Nhưng không phải là không có những nhóm dân
khác, với số lượng ít hơn, cùng chia sẻ cuộc hành trình giữ nòi dựng
nghiệp. Thí dụ, ngay trước khi có cuộc di cư ào ạt của người Thái vào thế
kỷ 13 thì một số tập thể nhỏ người Thái đã hiện diện rải rác ở Đông Nam Á
từ Miến Điện (được gọi là Shan) tới Bắc Việt (được gọi là Tây). Trong
khoảng thời gian giữa các đợt chính và ngay cả từ thế kỷ 13 đến thời kỳ
gần đây vẫn có những toán di cư nhỏ rời Hoa Nam xuống Đông Nam Á.
Thời kỳ 1
Những bộ tộc Bách Việt di tản xuống Đông Nam Á trong thời kỳ đầu tiên
được nhiều nhà nghiên cứu cho là đang ở thời đại văn hoá đồ đá mới. Họ
đem văn hoá đồ đá mới xuống thay thế cho văn hoá đồ đá giũa (mesolithic)
tức văn hoá Bắc Sơn Hoà Bình. Cũng có người cho là họ đã tiến sang thời
đại đồ đồng, hoặc ở thời đại kim thạch hợp dụng. Nhưng dù là họ ở thời đại
nào, một đặc điểm mà ai cũng công nhận nơi họ là phương pháp cấy lúa
https://thuviensach.vn
ruộng nước (thuỷ canh hay nông hệ sawah) mà họ đem theo. Điểm này đã
giúp những người nghiên cứu phân biệt được họ với những thổ dân cổ chỉ
có biết đốt rừng làm rẫy (hoả canh hay nông hệ ladang).
Tạm gác lại nhóm Lạc Việt mà chúng tôi sẽ đề cập tới trong chương sau,
chúng ta có thể theo dõi ngay nhóm Indonesian còn lại, tức người Malay.
Người Malay đã nam thiên thành hai đợt chính. Malay đợt trước (cựu) có lẽ
di chuyển rải rác từng nhóm nhỏ, nên thường sinh hoạt lẫn lộn với các sắc
dân đã có trước ở đây và đồng thời pha giống nhiều ít với các sắc dân ấy.
Malay đợt sau (tân) thiên di ào ạt hơn, tạo thành những tập thể lớn và choán
các vùng màu mỡ. Họ xuống các đảo Đông Nam Á, thường chiếm ngụ các
vùng bình nguyên nhỏ ở duyên hải, nên cũng còn được gọi là Malay duyên
hải. Xét về nhân chủng họ còn giữ được khá nhiều bản sắc “da vàng miền
nam” của các sắc dân Bách Việt. Ngày nay, họ là thành phần dân cư chính
của Mã Lai Á, Indonesia, Phi Luật Tân.
Khi choán các đảo, họ tiến từ Mã Lai sang Sumatra, Java, rồi Bornéo,
Cèlèbes, sau cùng mới tới quần đảo Phi Luật Tân. Lúc đầu họ tới Phi Luật
Tân rất ít, mãi đến thế kỷ thứ hai trước Công nguyên, họ mới từ các đảo
miền nam kéo sang với số lượng lớn. Lúc này, các sắc dân Bách Việt ở
Đông Nam Á hải đảo cũng theo gót lục địa đã tiến tới thời đại đồ sắt. Nền
văn hoá đồ đồng, đồ sắt theo khuôn mẫu và hình thức nghệ thuật Lạc Việt
lan tràn khắp nơi. Tại Phi, các sắc dân gốc Bách Việt ngày nay chiếm trên
90%, trong khi thổ dân cổ chỉ có vào khoảng dưới 10% và thường ở trong
vùng rừng núi. Danh từ “Tagalog” ở Phi cũng giống như danh từ “Người
Kinh” (người miền xuôi) của ta, thường để phân biệt với người Thượng
(người miền núi). Người miền Xuôi ở các đảo vẫn theo truyền thống ruộng
nước từ hai nghìn năm nay.
Thời kỳ 2
Thời kỳ nam thiên thứ nhì gồm người Môn và Khmer. Người Môn từ Nam
https://thuviensach.vn
Trung Hoa xuống Đông Nam Á qua vùng Cửu Long thượng. Dường như
cho tới khi di tản xuống phương Nam họ không hề tiếp xúc với văn minh
Trung Nguyên của Hán tộc. Họ tiến vào Hạ Miến qua các hành lang sông
Salween và Sittang, tụ tập thành những tổ hợp đầu tiên ở vùng bờ biển,
trước hết tại Thaton, sau tại Kosma và Pegu. Người Môn ở Hạ Miến có liên
hệ chặt chẽ với các sắc dân Pwo Karen. Dường như họ đã chiếm lĩnh địa
bàn sinh tụ của sắc dân này và trở nên kẻ thống trị. Ngôn ngữ Pwo Karen
chịu ảnh hưởng rõ rệt ngôn ngữ Môn. Người Môn là những nhà nông giỏi,
họ cũng là những thương gia, thợ đóng thuyền và nhà hàng hải thạo nghề.
Tuy nhiên họ chưa đặt chân xuống các hải đảo. Nơi họ tiến xa nhất là vùng
bắc bán đảo Mã Lai do đường xuôi theo Chao Phraya.
Tổ hợp Môn đầu tiên quy tụ như một quốc gia toạ lạc gần Lavo, cực bắc
vịnh Thái Lan và được biết đến qua tên Ấn là Draravati. Qua các cuộc tiếp
xúc buôn bán bằng đường biển, người Môn đã sớm tiếp nhận văn minh Ấn
Độ và sau này truyền thụ lại cho người Khmer, Miến và Thái.
Người Khmer có lẽ đã theo chân người Môn xuống Cửu Long thượng,
nhưng lại rẽ về phía đông và định cư ở Thượng Lào và cao nguyên Korat.
Họ choán cả hai bên bờ sông Cửu Long và sau này thành lập quốc gia đầu
tiên là Chân Lạp (Chen La). Tới hậu bán thế kỷ thứ sáu, người Khmer bắt
đầu lấn dần vương quốc Phù Nam ở phía Nam. Sang thế kỷ 9, Khmer đã
bành trướng rất rộng với trung tâm ở gần Biển Hồ (Tonlé Sap) và phía tây
lan ra tới tận lề Ấn Độ Dương sau khi chiếm được đất Môn ở vịnh Thái
Lan. Cuộc kết hợp giữa hai nhóm Môn và Khmer đã tạo thành một nền văn
hóa hợp nhất rực rỡ một thời, nền văn hoá của những người vốn cùng gốc
nhưng đã nam thiên theo hai ngã khác nhau.
Thời kỳ 3
Thời kỳ 3 là những đợt nam thiên của dân Pyu và Miến. Dân Pyu trước kia
có lẽ là nhóm người quan trọng nhất về mặt chính trị ở trung tâm châu thổ
https://thuviensach.vn
Irrawaddy tại Miến Điện. Dân Pyu nguyên ở vùng đông Tây Tạng, đã thiên
di về nam vào thế kỷ 3 xuôi theo ngọn sông Salwee và Cửu Long ở tây Vân
Nam rồi đi chếch về hướng tây tới đồng bằng Irrawaddy.
Người Pyu lập quốc vào khoảng cuối thế kỷ 6 sang đầu thế kỷ 7, kinh đô là
Srikshetra ở hạ lưu sông Irrawaddy. Tuy nhiên, từ thế kỷ 4 hay 5, người
Trung Hoa đã ghi nhận “có một giống dân văn minh quy tụ tại vùng đất ba
ngàn lý phía nam Vân Nam” để chỉ nguời Pyu. Dấu vết đổ nát còn lưu lại
tới ngày nay của kinh đô Srikshetra làm theo kiểu Ấn, cho người ta một ý
niệm về sự quan trọng của quốc gia Pyu thời xưa, cũng như sự l...
 





