Viếng Lăng Bác - Bài giảng
-vo-nga-vo-uu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 18h:35' 16-03-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 18h:35' 16-03-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Ayya Khema
Vô Ngã, Vô Ưu
Being Nobody, Going Nowhere
Diệu Liên – Lý Thu Linh
Mục Lục
Mục Lục ......................................................................................................................1
Lời Tựa........................................................................................................................4
Tác Giả ........................................................................................................................5
Lời Người Dịch..........................................................................................................6
Chương 1: Thiền: Lý Do Và Phương Pháp.........................................................7
Chương 2: Ảnh Hưởng của Thiền đến đời sống chúng ta. ...........................16
Chương 3: Thanh Tịnh Và Tỉnh Giác ...............................................................21
Chương 4: Tứ Vô Lượng Tâm.............................................................................31
1. Từ.......................................................................................................................31
2. Bi ........................................................................................................................40
3. Hỷ ......................................................................................................................44
4. Xả .......................................................................................................................45
Chương 5: Từ Bi Quán .........................................................................................48
Chương 6: Năm Chướng Ngại............................................................................50
1. Tham .................................................................................................................51
2. Sân .....................................................................................................................58
3. Hôn trầm ..........................................................................................................66
4. Trạo cử ..............................................................................................................70
5. Mạn Nghi..........................................................................................................74
1
Chương 7: Nghiệp và Luân Hồi .........................................................................77
1. Nghiệp ..............................................................................................................77
2. Luân Hồi...........................................................................................................81
Chương 8: Kinh Từ Bi ..........................................................................................86
Chương 9: Bốn Hỷ Lạc........................................................................................104
1. Hỷ Lạc Do Các Cảm Thọ Mang Đến..........................................................104
2. Hỷ Lạc Của Chư Thiên.................................................................................105
3. Hỷ Lạc Qua Nhiếp Tâm ...............................................................................106
4. Hỷ Lạc Qua Kiến Tánh.................................................................................110
Chương 10: Ngũ Uẩn ..........................................................................................113
1. Thân (Sắc) .......................................................................................................114
2. Thọ...................................................................................................................117
3. Tưởng..............................................................................................................118
4. Hành................................................................................................................119
5. Thức.................................................................................................................120
Chương 11: Mười Điều Thiện ..........................................................................122
1. Bố Thí ..............................................................................................................122
2. Giới Hạnh .......................................................................................................124
3. Xuất Ly............................................................................................................125
4. Trí Tuệ.............................................................................................................128
5. Tinh Tấn..........................................................................................................129
6. Kiên Nhẫn ......................................................................................................131
7. Chân Thật .......................................................................................................133
8. Quyết Tâm......................................................................................................136
9-10. Tâm Từ & Tâm Xả....................................................................................137
2
Chương 12: Tứ Diệu Ðế và Bát Chánh Ðạo....................................................138
Tứ Diệu Ðế .........................................................................................................140
Bát Chánh Ðạo...................................................................................................143
1. Chánh Kiến.................................................................................................144
2. Chánh Tư duy............................................................................................148
3. Chánh Ngữ.................................................................................................151
4. Chánh Nghiệp............................................................................................153
5. Chánh Mạng...............................................................................................154
6. Chánh Tinh Tấn.........................................................................................155
7. Chánh Niệm ...............................................................................................157
8. Chánh Ðịnh ................................................................................................161
Chương 13: Một Cuộc Bắt Đầu Mới ................................................................163
3
Lời Tựa
Đây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự
bình an trong cuộc sống qua con đường tâm linh. Con đường Đạo của Đức
Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người. Bất cứ ai với lòng quyết tâm và
thiện ý đều có thể đi trên con đường này để đạt được tự do, giải thoát cho
thân tâm. Cuộc hành trình này đòi hỏi người tham dự phải trang bị cả thân
và tâm để được giải thoát khỏi “cái Ngã". Tâm để nhận biết, tổng kết, phân
loại, và thân để cảm nhận.
Khi chúng ta có thể giải thoát khỏi các phản ứng tình cảm và chỉ trú ngụ
trong lòng từ bi, tâm ta sẽ rộng mở để đón nhận những sự thật vĩ đại về ý
nghĩa của vũ trụ. Chúng ta càng hướng về những sự thật này, chúng ta càng
dễ đạt đến sự giải thoát tâm linh. Hy vọng là quyển sách này sẽ giúp bạn
tiến bước trên con đường Đạo, theo giáo lý của Đức Phật và giúp cuộc hành
trình tìm Đạo của bạn nhẹ nhàng hơn.
Dưới đây là tổng hợp các bài giảng của Ni sư trong khóa tu Thiền mười
ngày ở kundasale, Sri Lanka. Cuốn sách đã được thành hình với sự góp sức
của nhiều người.
4
Tác Giả
Vào ngày 2 tháng 11, 1997, Ni sư Ayya Khema (1923 - 1997) đã qua đời vì
bệnh ung thư ở tuổi 74. Pháp danh của Ni sư có nghĩa là 'An lành và Yên
ổn'. Ni sư là tác giả của khoảng 25 đầu sách về Thiền và giáo lý của Đức
Phật. Quyển “Being Nobody, Going Nowhere” là một trong những quyển
sách về Phật giáo bán rất chạy (best-seller) ở Mỹ, và đã được giải thưởng
Christmas Humphrey dành cho sách tôn giáo hay nhất trong năm 1988.
Ni sư thọ giới xuất gia ở Sri Lanka vào năm 1979 và là một trong những
người tiên phong trong việc tranh đấu cho nữ giới trong tăng đoàn.
Ayya Khema sinh năm 1923, cha mẹ theo đạo Do Thái. Bà sống ở Bá Linh
cho đến khi cuộc chiến bắt đầu, bà trốn thoát sang Tô Cách Lan. Sau đến
sống ở Thượng Hải, ở đó bà và gia đình bị quân đội Nhật cầm tù trong các
trại giam dành cho tù nhân chiến tranh. Cha bà đã mất trong lúc bị giam
cầm. Sau chiến tranh, bà chu du khắp nơi ở châu Á, nhất là các nước vùng
Hy Mã Lạp sơn, và tu Thiền.
Năm 1964 bà di cư sang Mỹ cùng chồng và hai con. Sau đó bà bắt đầu
truyền dạy Thiền khắp thế giới. Năm 1978, Ni sư thành lập thiền viện
Buddha Dhamma theo truyền thống Theravada, trong một khu rừng, gần
Sydney, Úc. Ni sư cũng thành lập Trung Tâm Nữ Phật Tử Quốc Tế
(International Buddhist Women's Center) và Parappuduwa Nuns' Island,
dành cho nữ Phật tử muốn tu học chuyên sâu hay muốn thọ giới xuất gia.
Vào năm 1987, Ni sư tham gia tổ chức hội thảo quốc tế đầu tiên cho Ni giới,
nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đọc bài diễn văn chủ yếu. Cũng trong năm đó, Ni
sư là người đầu tiên phát biểu về Phật giáo ở Liên Hiệp Quốc.
Ni sư Ayya Khema cũng là giám đốc đỡ đầu cho Buddha-Haus thành lập ở
Đức, năm 1989, và năm 1996 Ni sư chứng minh cho sự thành lập Tăng đoàn
của tu viện Western Forest Monastery Tradition, là tòng lâm viện Phật giáo
đầu tiên ở Đức.
5
Lời Người Dịch
Tôi chọn dịch quyển Being Nobody, Going Nowhere của Ni sư Ayya Khema
vì sự đơn giản, gần gũi với cuộc sống thực tế của chúng ta.
Mục đích chính của công việc dịch thuật này là một cách để tôi, người mới
được biết đến Phật pháp, học hỏi thêm về giáo lý của Đức Phật. Vì thấy
quyển sách rất hữu ích cho bản thân, tôi nghĩ nó cũng có thể giúp ích cho
người thân, bạn bè hay những bạn đạo cũng vừa tập tểnh những bước chân
đầu đến với Phật giáo như tôi, nên tôi mạo muội gửi đến các bạn bản dịch
hẳn là còn nhiều thiếu sót.
Những sai sót là do sự hiểu biết hạn hẹp của người dịch, hoàn toàn không
phản ảnh quyển sách toàn bích của Ni sư Ayya Khema. Kính xin Ni Sư niệm
thứ cho sự mạo muội này.
Xin chân thành ghi ơn Ni Sư đã để lại cho đời bao quyển sách Phật giáo quý
báu. Xin dâng lên giác linh của Ni sư lòng biết ơn sâu xa vì đã gia hộ cho con
hoàn tất việc dịch thuật quyển sách này, cũng như duyên lành để quyển
sách có thể đến tay nhiều người dưới dạng ấn tống. Rất mong nhận được sự
phê bình, góp ý của quý độc giả, đạo hữu, quý tôn sư để quyển sách được
hoàn thiện hơn trong những lần in sau.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả,
đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo.
Diệu Liên - Lý Thu Linh
Hiệu Đính Lần II, tháng 4/2005
6
Chương 1:
THIỀN: Lý Do Và Phương Pháp
Tại sao phải hành Thiền? Thiền có gì quan trọng? Hẳn là bạn cũng muốn tìm
hiểu, nếu không bạn đã không đọc những dòng này. Tôi muốn nhấn mạnh
rằng Thiền, không phải là việc chúng ta chỉ làm khi rảnh rỗi, trái lại Thiền
tối cần cho cuộc sống hạnh phúc, an lành của chúng ta.
Con người rất lạ là luôn nghĩ về tương lai hay quá khứ. Người trẻ thì nghĩ
đến tương lai ở phía trước. Người già thì nhớ về quá khứ đã sống qua.
Nhưng để kinh nghiệm cuộc đời, chúng ta cần phải sống trong giờ phút
hiện tại. Cuộc sống không có ở quá khứ. Đó chỉ là kỷ niệm, hoài ức. Cuộc
sống không xảy ra trong tương lai. Đó chỉ là dự tính. Thời điểm duy nhất
chúng ta thực sự sống là hiện tại trước mắt. Và chúng ta phải tập sống như
thế. Cuộc đời con người có thể kéo dài trong 60 hay 70 năm, nhưng ta phải
học sống ngay trong giờ phút hiện tại. Đời sống sẽ bớt bao phiền toái, nếu
như ta chỉ sống trong giờ phút hiện tại.
Nói thì dễ nhưng thực hành, khó lắm thay! Ai đã từng làm thử hẳn đã kinh
nghiệm được điều này. Ai chưa từng thử, sẽ tự khám phá ra điều ấy. Một lời
khuyên đơn giản, nhưng không phải dễ thực hiện. Và không có phương
pháp nào giúp chúng ta sống cho từng giây phút hiện tại hữu hiệu bằng
tham thiền.
Tất cả chúng ta đều biết giữ cho thân thể sạch sẽ. Ta tắm rửa mỗi ngày ít
nhất một lần hay nhiều hơn. Khi ra đường, ta mặc quần áo sạch sẽ. Tối đến
ta lo cho thân ngủ nghĩ. Nếu không, ta không đủ sức đương đầu với những
khó khăn trong cuộc đời. Ta cần có một mái nhà để che cho thân khỏi mưa,
gió, nóng, lạnh. Thiếu những thứ đó, thân sẽ không chịu đựng nỗi. Ta còn
bồi dưỡng cơ thể bằng những thức ăn chọn lọc, bổ dưỡng, lo tập thể dục cho
thân được cường tráng, khỏe mạnh. Dầu không tập, chúng ta cũng đi đứng,
hoạt động, vì nếu không chân tay ta sẽ teo tóp. Tâm cũng cần được chăm sóc
giống như thế.
Đúng ra, ta còn phải chăm sóc cho tâm hơn cả thân nữa, vì tâm là chủ, còn
thân chỉ là người đầy tớ. Một người đầy tớ khỏe mạnh, cường tráng, năng
7
nổ nhưng có một ông chủ yếu đuối, thiếu kiên quyết không biết mình phải
làm gì, cũng khó có thể làm nên việc. Người chủ phải biết điều khiển, chỉ
huy người đầy tớ của mình. Ngay nếu như người đầy tớ không được khỏe
mạnh, tháo vát nhưng ông chủ khôn ngoan, giỏi giắn thì 'ngôi nhà' của ta
cũng được tự tại.
Tâm và thân này làm nên 'ngôi nhà' của chúng ta. Nếu ngôi nhà nội tâm
không được yên, thì ngôi nhà bên ngoài của ta cũng khó ổn. Ngôi nhà chúng
ta sống, và làm việc tùy thuộc vào sự an khang của ngôi nhà nội tâm. Người
chủ, người điều khiển phải sống trong những điều kiện hoàn hảo nhất.
Không có gì trong vũ trụ này có thể so sánh hay thay thế được tâm. Tâm tạo
ra mọi thứ. Nhưng tất cả chúng ta đều coi thường tâm mình. Đó cũng là một
nghịch lý của cuộc đời. Không ai coi thường thân thể mình, nếu nó bệnh, ta
vội vã chạy đi bác sĩ. Nếu nó mệt mỏi, ta vội vã cho nó nghĩ ngơi. Nhưng ta
đã làm gì cho tâm? Hình như chỉ có các vị Thiền sư là chú trọng đến tâm của
họ.
Muốn tâm được phát triển sâu rộng, ta cần phải chăm sóc tâm. Nếu không
tâm ta luôn nhìn cuộc đời bằng con mắt nhị nguyên (hai chiều): Tốt, xấu;
ngày mai hay hôm qua; yêu (tôi thích thứ này), ghét (tôi không ưa thứ kia);
có (tôi sở hũu cái này), không (không sỡ hữu thứ kia); cái này của tôi, cái kia
của anh. Chỉ khi tâm đã được rèn luyện, ta mới có thể thay đổi cái nhìn của
mình để có thế nhìn thấy được những 'chiều' khác của sự vật.
Việc ta cần làm trước tiên cho Tâm là tẩy rửa, tắm gội cho nó, không chỉ mỗi
ngày một lần hay hai lần như đối với cơ thể, nhưng trong mỗi giây phút tỉnh
thức. Để làm được điều đó, chúng ta phải biết phương pháp. Với cơ thể,
điều đó khá dễ, chỉ cần dùng xà - phòng và nước. Chúng ta đã quen làm
như thế từ ngày còn nhỏ. Nhưng tâm chỉ có thể được gội rửa bằng tâm.
Những gì tâm đã thâu nhận, chỉ có tâm mới có thể cởi bỏ. Mỗi giây phút
tỉnh thức trong thiền là mỗi giây phút tâm được sàng lọc vì may mắn thay,
tâm không thể làm hai việc cùng một lúc. Dầu rằng, như Đức Phật đã nói
trong một nháy mắt ta có thể có đến hàng ngàn ý tưởng dấy lên, nhưng thực
tế ít ai nghĩ nhiều đến vậy và nhất là không thể có tất cả những suy tưởng
đó trong cùng một lúc. Chúng tiếp nối nhau cái này sau cái khác thoáng qua
nhanh chóng trong đầu ta.
8
Khi ta Thiền quán, ái dục, tham vọng, không thể hiện ra vì tâm chỉ có thể
làm một công việc một lúc. Do đó nếu thời gian tọa thiền tăng lên, các vết
nhơ bẩn trong tâm ta sẽ được gội rửa ngày một trở nên sạch hơn.
Tâm, vật độc nhất vô nhị trong vũ trụ, báu vật duy nhất chúng ta sỡ hữu.
Khi có món đồ quí, dĩ nhiên là ta phải giữ gìn cẩn thận. Chùi rửa, đánh
bóng, vô dầu mỡ, thỉnh thoảng cho nó nghĩ. Còn đây ta có tâm quí báu này,
chỉ có tâm giúp cho ta làm được mọi việc, kể cả việc giác ngộ, nhưng biết gìn
giữ nó hay không tất cả là tùy thuộc chúng ta. Tâm sẽ trở thành vô dụng nếu
không được giữ gìn, trau chuốt.
Lúc ngồi Thiền, ta tập gạt bỏ ra khỏi tâm những gì ta thấy không cần thiết.
Để chỉ giữ trong tâm những điều ta muốn nghĩ đến. Khi đã thành thói quen,
chúng ta có thể áp dụng phương pháp tu Thiền vào các sinh hoạt đời
thường, để giúp ta dứt bỏ những tư tưởng không lành mạnh. Như thế nhờ
ngồi Thiền, ta có thể dứt bỏ chạy đuổi theo vọng tưởng trong sinh hoạt đời
thường, ngược lại việc chúng ta không chạy đuổi theo vọng tưởng trong đời
sống giúp cho việc ngồi Thiền của ta dễ dàng hơn. Người có thể làm chủ tư
tưởng mình, khiến tâm chỉ nghĩ đến những gì mà họ muốn nghĩ được gọi là
A-la-hán hay đấng Giác Ngộ.
Đừng ngạc nhiên nếu không phải lúc nào ta cũng có thể dứt bỏ vọng tưởng.
Thật dễ chịu khi ta có thể chỉ nghĩ đến những điều ta muốn nghĩ đến, vì như
thế là ta đã làm chủ được tâm của mình, hơn là tâm làm chủ ta. Luôn chạy
đuổi theo bất cứ tư tưởng nào dấy khởi lên trong tâm, dù hạnh phúc hay
đau khổ, là thói quen chúng ta cần từ bỏ khi ngồi thiền.
Bước kế tiếp là tập luyện tâm. Tâm không kiềm chế giống như những lượn
sóng trồi lên trụt xuống, chạy lăng xăng từ chuyện này qua chuyện khác,
không bao giờ có thể trụ yên một chổ. Ai chẳng từng kinh nghiệm có khi đọc
sách, đến cuối trang mới bỗng nhận ra không biết mình vừa đọc gì, phải đọc
lại cả trang. Ta phải thúc đẩy, luyện tập để tâm ở yên một chổ, giống như ta
phải thúc đẩy, vận động các bắp thịt, khi ta tập hít thở, tập tạ. Sự phát triển,
tăng trưởng chỉ có thể có được từ sự tập luyện tâm làm theo ý ta, đứng yên
khi ta muốn nó đứng yên.
Sự luyện tập cũng giúp tâm thêm vững mạnh, vì tâm đã được rèn luyện biết
buông bỏ. Chúng ta không phải là A-la-hán, ai cũng chấp Ngã. Chính cá
nhân chủ nghĩa, thái độ 'cái này của tôi, cái kia của anh' đã tạo nên bao vấn
9
đề trên thế giới. Chúng ta xác định 'bản ngã' của mình qua những gì ta suy
nghĩ, qua sách báo, phim ảnh đã xem, đã đọc, hoặc sử dụng tâm chỉ để làm
những việc cũng cố thêm cho cá nhân mình. Điều quan trọng nhất ta học
được trong lúc ngồi Thiền, là biết buông bỏ, không chạy đuổi theo vọng
tưởng. Khi không còn ai suy tưởng, không còn có cái Ngã.
Lúc đầu, ta chỉ có thể buông bỏ được vọng tưởng trong khoảng thời gian
ngắn, nhưng đó chỉ là bước đầu. Con đường tâm linh cuối cùng rồi cũng
dẫn ta đến sự hoàn toàn buông xả. Không có gì ta cần phải đạt được hay
bám víu vào. Những điều này đã được lập đi lập lại nhiều lần, nhưng ta
không có cách gì khác hơn để diễn tả. Đúng vậy, con đường tâm linh là con
đường dẫn ta đến việc từ bỏ, buông xả tất cả những gì đã được ta tích lũy,
chất chứa từ bấy lâu nay: Sự sở hữu, các thói quen, tư tưởng, thành kiến, các
lối suy nghĩ theo khuôn mẫu. Tuy nhiên lúc ngồi Thiền, không phải dễ
buông bỏ vọng tâm, vì cái Tôi không dễ đầu hàng; cái Tôi sẽ cảm thấy lạc
lỏng khi không có suy tưởng. Tâm sẽ phản ứng ngay bằng cách kêu lên:
"Việc gì đã xảy ra?" -- và rồi nếu không biết buông xả, tâm ta lại chạy đuổi
theo vọng tưởng.
Làm thế nào để bắt tâm ở yên một chổ, là góp phần vào việc phát triển 'bắp
thịt' của tâm, tạo cho tâm thêm sức mạnh và quyền lực. Giáo lý của Đức
Phật rất thâm thúy, cao siêu, và chỉ có những tâm thâm thúy, cao siêu mới
có thể lãnh hội đầy đủ những lời dạy của Ngài. Vì thế, chúng ta cần luyện
tâm thêm vũng mạnh.
Một thân thể cường tráng có thể chịu đựng được tất cả những gì ta bắt nó
phải chịu đựng. Một Tâm vững mạnh cũng giống như thế. Tâm vững mạnh
có thể chịu đựng sự nhàm chán, căng thẳng, tuyệt vọng hay đau khổ -- vì
tâm không bám víu vào những gì nó không thích. Thường xuyên thực tập
thiền định là một cách để luyện tâm.
Là một bộ phận vô giá, tuyệt vời nhất trên đời, tâm hơn tất cả mọi thứ cần
phải được chăm sóc. Vậy mà ta đã không ngừng nghĩ suy, tính toán từ lúc
còn ấu thơ, và từ bao nhiêu lượng kiếp trước đó. Suốt ngày chúng ta suy
nghĩ, suốt đêm chúng ta mộng mị. Chẳng có phút giây nào ngưng nghĩ.
Chúng ta có thể nghĩ hè, đi thư giãn. Nhưng thực ra cái gì thư giãn? Chính
là cơ thể được thư giãn. Nó đi lên núi, xuống biển, du lịch chân trời, góc
biển, nhưng còn tâm thì sao? Thay vì suy nghĩ những chuyện phải làm ở
10
nhà, nó bận rộn thâu nhận những âm thanh, cảnh quang, mùi vị mới lạ. Tâm
ta chẳng hề được nghĩ ngơi, nó chỉ thay đổi công tác thôi.
Nếu cơ thể chúng ta không được nghỉ ngơi một đêm, nó khó mà làm việc
ngày hôm sau. Tâm ta cũng cần nghĩ ngơi, nhưng không phải bằng giấc
ngủ. Tâm chỉ có thể được nghĩ ngơi khi nó ngừng mọi suy nghĩ, mà chỉ cảm
nhận. Ta có thể ví tâm như một màn ảnh trắng, trên đó các phim ảnh được
liên tục chiếu lên, không bao giờ ngưng nghĩ. Vì cuốn phim -- tư tưởng -liên tục chiếu, người ta quên mất còn có tấm màn hình ở đằng sau đó.
Nếu chúng ta có thể tạm ngưng cuốn phim lúc tham thiền, chúng ta sẽ cảm
nhận được sự tĩnh lặng thường hằng của tâm. Đó là giây phút tuyệt vời.
Giây phút hạnh phúc không thể kiếm tìm ở đâu, qua bất cứ phương tiện
nào. Niềm hạnh phúc tuyệt vời, không phụ thuộc vào bất cứ điều kiện bên
ngoài nào, trừ thực tập Thiền. Không phải tùy thuộc vào món ngon, thời tiết
tốt, bạn quý, người đồng cảm, sự hổ trợ tinh thầy hay của cải vật chất. Tất cả
những thứ đó đều không thể tùy thuộc vào, vì chúng luôn thay đổi. Chỉ có
bản tâm, chánh niệm là không bỏ rơi chúng ta nếu ta tiếp tục thực hành
Thiền.
Khi tiếng động trong tâm tạm dừng, không chỉ có sự im lặng, mà còn có cả
cảm giác hài hòa. Tâm cuối cùng được nghĩ ngơi. Nó đã tìm được đến nhà.
Ta sẽ đau khổ biết bao nếu không có cái nhà che chở xác thân. Tâm cũng thế.
Giây phút bình an, tĩnh lặng đó là 'ngôi nhà' của tâm. Nó trở về nhà nghĩ
ngơi giống như sau một ngày làm việc, chúng ta trở về nhà ngã người lên
chiếc ghế êm ả hay nằm xuống giường để thân nghỉ ngơi. Tâm bây giờ cũng
thế. Được nghĩ ngơi, không phải suy nghĩ. Suy nghĩ, vọng tưởng là đau khổ,
cho dù chúng ta nghĩ về bất cứ thứ gì. Vì có sự chuyển động là có va chạm.
Tất cả những gì chuyển động sẽ sinh ra va chạm, cọ sát, khổ đau.
Giây phút chúng ta thư giãn, nghĩ ngơi, tâm tăng thêm sức mạnh và an lạc
vì nó biết nó có thể trở về nhà bất cứ lúc nào. Sự an lạc chúng ta tìm thấy
được khi ngồi thiền sẽ ở trong ta suốt ngày, cả trong những sinh hoạt đời
thường ta cũng tìm thấy nó. Tâm an lạc, vì tâm biết rằng không có gì cản trở
nó trở về nhà, tìm sự tĩnh lặng, hài hòa.
Đó là những lý do chính để giải thích tại sao cuộc sống của ta sẽ không bao
giờ đầy đủ nếu không có Thiền. Những lạc thú bên ngoài mà cuộc đời mang
đến cho ta, không thể so sánh được với niềm vui nội tâm. Sự buông xả,
11
không bám víu giúp chúng ta hiểu rằng 'cái tôi' luôn đòi hỏi, do đó tâm
luôn đòi suy tưởng. Khi ta ngưng mọi ham muốn, ta không cần phải suy
nghĩ, vọng tưởng. Khi chúng ta ngưng đòi hỏi, tất cả mọi sự thất vọng, đau
khổ đều biến mất. Đó là lý do tại sao chúng ta cần phải tu tập Thiền.
Trước hết chúng ta phải chú trọng đến hơi thở ra, hơi thở vào nơi mủi. Hơi
thở là gió, nên khi gió vào hay ra, ta đều cảm thấy. Cảm giác đó giúp chúng
ta chú tâm ở nơi mủi. Việc làm đó lúc đầu khó tránh khỏi khó khăn.
Hơi thở là mạng sống của chúng ta, vì thế còn gì thích hợp hơn là dùng hơi
thở để thiền quán: Ta sống nhờ hơi thở, không thể tách rời khỏi nó giây phút
nào. Vậy mà ít khi ta nghĩ đến nó. Ta quên khuấy nó, cho đến khi ta mất nó,
nghẹt thở, chết đuối hay chết ngạt. Lúc đó ta mới thấy hơi thở quan trọng
biết bao. Nhưng khi hơi thở còn ở với chúng ta, ta chẳng bao giờ nhớ tới,
dầu hơi thở là sự sống còn của ta, là báu vật quí nhất của tất cả chúng ta.
Hơi thở còn trực tiếp hổ trợ cho tâm. Khi ta xúc động hay vội vã, hơi thở trở
nên gấp rút. Khi tâm ta thanh tịnh, tĩnh lặng, hơi thở nhẹ nhàng, thanh
thoát. Khi hơi thở trở nên mong manh đến nỗi khó tìm thấy, là khi chúng ta
ở trong trạng thái Thiền định. Tập chú trọng vào hơi thở là phương pháp
giúp chúng ta đạt đến trạng thái đó. Thở là một hành động vừa tự nhiên,
vừa có thể được kiểm soát. Ta có thể làm cho hơi thở sâu, dài hay ngắn hay
ngưng lại giây lát.
Có nhiều cách để chú tâm vào hơi thở. Ta có thể theo dõi hơi thở vào, hơi
thở ra khi ta chú tâm đến nó. Muốn thực tập phương cách này, không cần
phải thay đổi cách thở chỉ im lặng theo dõi nó vào ra.
Hoặc tập chú tâm bằng cách kết hợp hơi thở với tụng niệm, thí dụ 'Nam
Mô'. Nam khi hít vào, Mô khi thở ra.
Ta cũng có thể đếm một khi hít vào, một khi thở ra,. Hai khi hít vào, hai khi
thở ra. Không đếm dưới 5, không đếm quá 10. Khi đếm đến 10, lại bắt đầu
trở lại một. Khi tâm lang thang, bắt đầu đếm lại 1. Lúc bắt đầu, nếu bạn
không bao giờ đếm quá hai, đừng nản lòng. Hãy kiên trì thực tập.
Tất cả tâm đều giống nhau. Bạn không cần phải nghĩ: “Tôi không thể tập
thiền. Thiền không thích hợp với tôi". Nhưng 'tôi' ở đây là ai? Nó chỉ là một
tâm không kiềm chế so với tâm đã được kiềm chế. Một vận động viên có tập
luyện sẽ chạy nhanh, chạy giỏi hơn người không tập. Thế thôi. Nếu không
12
có sự cố gắng tập luyện, không thể bảo rằng: "Tôi vô dụng. Tôi không thể
chạy nhanh".
Đếm hơi thở, niệm chú, chú tâm vào hơi thở ở nơi mũi hay theo dõi hơi thở
ra vào. Hãy thử xem phương pháp nào thích hợp với bạn, rồi giữ lấy
phương pháp đó. Nếu bạn có thể tập chú tâm, bằng cách theo dõi hơi thở
phồng lên xệp xuống ở bụng thì cứ làm như thế. Chân xếp như thế nào để
bạn có thể ngồi lâu. Lưng thẳng nhưng không gồng. Vai, bụng, và cổ cũng
phải thư giãn, mềm. Khi bạn ngồi bị ngã chúi, hãy ngồi thẳng lại. Đầu cũng
phải giữ thẳng. Ngôi chúi, đầu gục xuống dễ làm ta buồn ngủ hơn là tĩnh
tâm. Khi ngồi Thiền chúng ta cần phải hoàn toàn tỉnh thức.
Bạn sẽ thấy rằng không phải lúc nào tâm cũng trụ vào hơi thở, dù bạn tập
bằng phương pháp nào: niệm chú, đếm 1-1, 2-2 hay chú tâm vào hơi thở ở
mũi hay theo dõi hơi thở vào ra. Tâm vẫn lăng xăng, trừ khi bạn đã từng tập
ngồi thiền một thời gian dài. Vọng tưởng - cuốn phim - vẫn còn đó. Chỉ có
cách là tập gọi tên các vọng tưởng, nhưng nếu gặp khó khăn, có thể đơn
giản hóa bằng cách gọi chung chung như 'tư tưởng', 'hồi ức', 'lầm lẫn', 'dự
tính' hay 'nhảm nhí'. Không quan trọng. Vì ngay lúc ta đặt cho vọng tưởng
một cái tên, là lúc ta đã tách ta ra khỏi nó. Nếu không, bạn không phải là
ngồi thiền mà là ngồi suy nghĩ và bạn sẽ hoàn toàn bị dẫn dắt, lôi cuốn theo
các suy tưởng của mình. Bạn sẽ lo cho con mèo bị nhốt ngoài cửa, lo không
biết mấy đứa nhỏ ngủ chưa...Bất cứ gì, thì bạn cũng đang lo nghĩ, dĩ nhiên
tâm bạn sẽ tự bào chữa rằng: "Nhưng tôi cần phải biết những điều đó chứ”.
Khi tọa thiền, bạn không cần biết về vấn đề gì cả. Cuộc đời vẫn cứ tuần tự
trôi đi, không cần đến sự lo lắng của chúng ta. Mỗi giây phút, nó đến rồi đi.
Khi vọng tưởng dấy lên, hãy nhìn thẳng vào nó, đặt tên cho nó. Trúng, sai
không thành vấn đề. Một khi vọng tưởng đã được đặt tên, có nghĩa là ta có
thể buông bỏ nó. Dần dần thói quen này sẽ được chúng ta áp dụng vào mọi
phút giây tỉnh thức. Nhờ thế khi có những tư tưởng không trong sáng, ta có
thể buông bỏ chúng. Bạn sẽ tập chỉ nghĩ đến điều mình muốn nghĩ, và khi
làm được như thế, bạn sẽ không bao giờ thấy khổ đau nữa. Chỉ có kẻ khờ
mới tự nguyện đau khổ.
Đặt tên cho các tư tưởng, đó là cách giúp ta nhận biết vọng tưởng trong đời
sống hàng ngày, nhưng khi ngồi thiền, ta gọi đó là sự tỉnh thức. Đó là cách
thực tập Chánh niệm. Đức Phật nói: "Tỉnh thức là phương pháp duy nhất để
13
giải thoát con người, giúp họ tránh thất vọng, bước vào con đường giác ngộ,
thoát khỏi khổ đau”. Biết rằng 'Tôi đang suy nghĩ. Tôi đang lơ đễng. Lo
lắng. Bứt rứt. Mơ mộng về tương lai. Mong ước...”. Chỉ nhận biết, rồi trở về
với hơi thở. Nếu bạn có hàng ngàn vọng tưởng, thì hãy nhận biết chúng
hàng ngàn lần. Nhận biết sự dấy khỏi của vọng tưởng và nội dung của
chúng. Đấy là nền tảng của sự tỉnh thức một cách chủ động, con đường duy
nhất đưa đến giải thoát - nếu ta thực sự thực hành chúng.
Cơ thể của chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu vì phải ngồi trong một tư thế
không quen thuộc, và nhất là vì ta bắt nó phải ngồi yên. Thân không bao giờ
thích phải ở yên một chỗ dù chỉ trong thời gian ngắn. Ngay như khi nằm
trên chiếc giường êm ái, thoải mái, thân cũng lăn trở suốt đêm. Thân muốn
di chuyển để thoát khỏi sự khó chịu, nên dù ta đang ngủ, thân vẫn chuyển
động. Cũng thế, khi chúng ta ngồi thiền, sự khó chịu dấy lên. Thay vì lập
tức nghe theo thân, thay đổi thế ngồi như ta vẫn thường làm, thường phản
ứng khi đau đớn, khó chịu dấy lên, hãy nhận biết nó. Quan sát cảm giác khó
chịu từ đâu tới. Có phải vì sự tiếp xúc với gối, sàn nhà hay với chân kia. Từ
sự tiếp xúc sinh ra cảm giác. Từ cảm giác dẫn đến hành động. (Đây cũng
chính là vòng luân hồi luẩn quẩn của chúng ta. Chính phản ứng của chúng
ta đối với các cảm giác đưa chúng ta đến luân hồi sinh tử).
Chỉ có ba loại cảm giác: dễ chịu, trung tính, khó chịu. Ngồi Thiền gây cảm
giác khó chịu, nên tâm lên tiếng: 'Á, cảm giác khó chịu, đau đớn quá. Tôi
không chịu nỗi, tôi muốn thoát ra khỏi cảm giác này'. Chúng ta sống, phản
ứng như thế mỗi ngày, từ sáng đến tối, đều như thế. Bất cứ điều gì làm
chúng ta khó chịu, chúng ta chạy trốn, xua đuổi hay cố gắng thay đổi các
nguyên nhân bên ngoài chúng ta. Bằng mọi cách chúng ta xua đuổi khổ đau.
Nhưng sẽ không có cách gì làm được, trừ khi chúng ta dứt bỏ được lòng
tham muốn. Bất cứ điều gì ta làm cho thân, xoay chuyển chiều nào rồi nó
cũng sẽ khó chịu, vì sự thoải mái không thể kéo dài.
Hãy quan sát vòng luẩn quẩn đó: tiếp xúc, cảm giác, phản ứng. 'Tôi cảm
thấy đau. Tôi muốn chạy khỏi chỗ này'. Nhưng thay vì chạy trốn, hãy đặt
hết cả sự chú tâm vào nơi đang bị đau đớn, để cảm nhận sự thay đổi của nó.
Bạn sẽ thấy cảm giác đau đớn hoặc là di chuyển đến nơi khác, hoặc là thay
đổi cường độ. Cảm giác đó không là một khối đông đặc, nó di chuyển, nó
đổi thay.
14
Hãy nhớ rõ rằng, cơ thể ta không có sự đau đớn, nhưng nó đang đau đớn.
Chỉ có như thế ta mới hiểu sự thật về những đau đớn của con người. Không
phải là thỉnh thoảng cơ thể ta mới bị đau đớn, khó chịu mà nó luôn luôn đau
đớn, khó chịu. Nó không thể nằm hay ngồi yên mà không cảm thấy khó
chịu. Hãy nhận biết tánh vô thường đó. Hãy nhận biết tính chất khổ đau đã
được ươm mầm trong cơ thể con người. Hãy nhận biết là cảm giác chúng tự
đến, không có lời mời của chúng ta. Vậy tại sao gọi chúng là 'của tôi'? Hãy
nhận biết chúng từ các cảm giác khó chịu này, rồi thì chuyển đổi nếu cần,
không phải là ngay lập tức. Chỉ chuyển đổi sau khi chúng ta đã quán sát tại
sao cần làm vậy. Chuyển đổi nhẹ nhàng, đầy chánh niệm để không làm
phiền đến người chung quanh.
Cứ ngồi nguyên một chỗ cắn răng chịu đựng, và tự nhủ "Tôi sẽ ngồi nguyên
bằng mọi giá. Tôi không chịu đựng nỗi nữa, nhưng tôi vẫn cố chịu”, không
đem lại lợi lộc gì cho sự ngồi thiền của chúng ta. Đó là một phản ứng sai lầm
không kh...
Vô Ngã, Vô Ưu
Being Nobody, Going Nowhere
Diệu Liên – Lý Thu Linh
Mục Lục
Mục Lục ......................................................................................................................1
Lời Tựa........................................................................................................................4
Tác Giả ........................................................................................................................5
Lời Người Dịch..........................................................................................................6
Chương 1: Thiền: Lý Do Và Phương Pháp.........................................................7
Chương 2: Ảnh Hưởng của Thiền đến đời sống chúng ta. ...........................16
Chương 3: Thanh Tịnh Và Tỉnh Giác ...............................................................21
Chương 4: Tứ Vô Lượng Tâm.............................................................................31
1. Từ.......................................................................................................................31
2. Bi ........................................................................................................................40
3. Hỷ ......................................................................................................................44
4. Xả .......................................................................................................................45
Chương 5: Từ Bi Quán .........................................................................................48
Chương 6: Năm Chướng Ngại............................................................................50
1. Tham .................................................................................................................51
2. Sân .....................................................................................................................58
3. Hôn trầm ..........................................................................................................66
4. Trạo cử ..............................................................................................................70
5. Mạn Nghi..........................................................................................................74
1
Chương 7: Nghiệp và Luân Hồi .........................................................................77
1. Nghiệp ..............................................................................................................77
2. Luân Hồi...........................................................................................................81
Chương 8: Kinh Từ Bi ..........................................................................................86
Chương 9: Bốn Hỷ Lạc........................................................................................104
1. Hỷ Lạc Do Các Cảm Thọ Mang Đến..........................................................104
2. Hỷ Lạc Của Chư Thiên.................................................................................105
3. Hỷ Lạc Qua Nhiếp Tâm ...............................................................................106
4. Hỷ Lạc Qua Kiến Tánh.................................................................................110
Chương 10: Ngũ Uẩn ..........................................................................................113
1. Thân (Sắc) .......................................................................................................114
2. Thọ...................................................................................................................117
3. Tưởng..............................................................................................................118
4. Hành................................................................................................................119
5. Thức.................................................................................................................120
Chương 11: Mười Điều Thiện ..........................................................................122
1. Bố Thí ..............................................................................................................122
2. Giới Hạnh .......................................................................................................124
3. Xuất Ly............................................................................................................125
4. Trí Tuệ.............................................................................................................128
5. Tinh Tấn..........................................................................................................129
6. Kiên Nhẫn ......................................................................................................131
7. Chân Thật .......................................................................................................133
8. Quyết Tâm......................................................................................................136
9-10. Tâm Từ & Tâm Xả....................................................................................137
2
Chương 12: Tứ Diệu Ðế và Bát Chánh Ðạo....................................................138
Tứ Diệu Ðế .........................................................................................................140
Bát Chánh Ðạo...................................................................................................143
1. Chánh Kiến.................................................................................................144
2. Chánh Tư duy............................................................................................148
3. Chánh Ngữ.................................................................................................151
4. Chánh Nghiệp............................................................................................153
5. Chánh Mạng...............................................................................................154
6. Chánh Tinh Tấn.........................................................................................155
7. Chánh Niệm ...............................................................................................157
8. Chánh Ðịnh ................................................................................................161
Chương 13: Một Cuộc Bắt Đầu Mới ................................................................163
3
Lời Tựa
Đây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự
bình an trong cuộc sống qua con đường tâm linh. Con đường Đạo của Đức
Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người. Bất cứ ai với lòng quyết tâm và
thiện ý đều có thể đi trên con đường này để đạt được tự do, giải thoát cho
thân tâm. Cuộc hành trình này đòi hỏi người tham dự phải trang bị cả thân
và tâm để được giải thoát khỏi “cái Ngã". Tâm để nhận biết, tổng kết, phân
loại, và thân để cảm nhận.
Khi chúng ta có thể giải thoát khỏi các phản ứng tình cảm và chỉ trú ngụ
trong lòng từ bi, tâm ta sẽ rộng mở để đón nhận những sự thật vĩ đại về ý
nghĩa của vũ trụ. Chúng ta càng hướng về những sự thật này, chúng ta càng
dễ đạt đến sự giải thoát tâm linh. Hy vọng là quyển sách này sẽ giúp bạn
tiến bước trên con đường Đạo, theo giáo lý của Đức Phật và giúp cuộc hành
trình tìm Đạo của bạn nhẹ nhàng hơn.
Dưới đây là tổng hợp các bài giảng của Ni sư trong khóa tu Thiền mười
ngày ở kundasale, Sri Lanka. Cuốn sách đã được thành hình với sự góp sức
của nhiều người.
4
Tác Giả
Vào ngày 2 tháng 11, 1997, Ni sư Ayya Khema (1923 - 1997) đã qua đời vì
bệnh ung thư ở tuổi 74. Pháp danh của Ni sư có nghĩa là 'An lành và Yên
ổn'. Ni sư là tác giả của khoảng 25 đầu sách về Thiền và giáo lý của Đức
Phật. Quyển “Being Nobody, Going Nowhere” là một trong những quyển
sách về Phật giáo bán rất chạy (best-seller) ở Mỹ, và đã được giải thưởng
Christmas Humphrey dành cho sách tôn giáo hay nhất trong năm 1988.
Ni sư thọ giới xuất gia ở Sri Lanka vào năm 1979 và là một trong những
người tiên phong trong việc tranh đấu cho nữ giới trong tăng đoàn.
Ayya Khema sinh năm 1923, cha mẹ theo đạo Do Thái. Bà sống ở Bá Linh
cho đến khi cuộc chiến bắt đầu, bà trốn thoát sang Tô Cách Lan. Sau đến
sống ở Thượng Hải, ở đó bà và gia đình bị quân đội Nhật cầm tù trong các
trại giam dành cho tù nhân chiến tranh. Cha bà đã mất trong lúc bị giam
cầm. Sau chiến tranh, bà chu du khắp nơi ở châu Á, nhất là các nước vùng
Hy Mã Lạp sơn, và tu Thiền.
Năm 1964 bà di cư sang Mỹ cùng chồng và hai con. Sau đó bà bắt đầu
truyền dạy Thiền khắp thế giới. Năm 1978, Ni sư thành lập thiền viện
Buddha Dhamma theo truyền thống Theravada, trong một khu rừng, gần
Sydney, Úc. Ni sư cũng thành lập Trung Tâm Nữ Phật Tử Quốc Tế
(International Buddhist Women's Center) và Parappuduwa Nuns' Island,
dành cho nữ Phật tử muốn tu học chuyên sâu hay muốn thọ giới xuất gia.
Vào năm 1987, Ni sư tham gia tổ chức hội thảo quốc tế đầu tiên cho Ni giới,
nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đọc bài diễn văn chủ yếu. Cũng trong năm đó, Ni
sư là người đầu tiên phát biểu về Phật giáo ở Liên Hiệp Quốc.
Ni sư Ayya Khema cũng là giám đốc đỡ đầu cho Buddha-Haus thành lập ở
Đức, năm 1989, và năm 1996 Ni sư chứng minh cho sự thành lập Tăng đoàn
của tu viện Western Forest Monastery Tradition, là tòng lâm viện Phật giáo
đầu tiên ở Đức.
5
Lời Người Dịch
Tôi chọn dịch quyển Being Nobody, Going Nowhere của Ni sư Ayya Khema
vì sự đơn giản, gần gũi với cuộc sống thực tế của chúng ta.
Mục đích chính của công việc dịch thuật này là một cách để tôi, người mới
được biết đến Phật pháp, học hỏi thêm về giáo lý của Đức Phật. Vì thấy
quyển sách rất hữu ích cho bản thân, tôi nghĩ nó cũng có thể giúp ích cho
người thân, bạn bè hay những bạn đạo cũng vừa tập tểnh những bước chân
đầu đến với Phật giáo như tôi, nên tôi mạo muội gửi đến các bạn bản dịch
hẳn là còn nhiều thiếu sót.
Những sai sót là do sự hiểu biết hạn hẹp của người dịch, hoàn toàn không
phản ảnh quyển sách toàn bích của Ni sư Ayya Khema. Kính xin Ni Sư niệm
thứ cho sự mạo muội này.
Xin chân thành ghi ơn Ni Sư đã để lại cho đời bao quyển sách Phật giáo quý
báu. Xin dâng lên giác linh của Ni sư lòng biết ơn sâu xa vì đã gia hộ cho con
hoàn tất việc dịch thuật quyển sách này, cũng như duyên lành để quyển
sách có thể đến tay nhiều người dưới dạng ấn tống. Rất mong nhận được sự
phê bình, góp ý của quý độc giả, đạo hữu, quý tôn sư để quyển sách được
hoàn thiện hơn trong những lần in sau.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả,
đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo.
Diệu Liên - Lý Thu Linh
Hiệu Đính Lần II, tháng 4/2005
6
Chương 1:
THIỀN: Lý Do Và Phương Pháp
Tại sao phải hành Thiền? Thiền có gì quan trọng? Hẳn là bạn cũng muốn tìm
hiểu, nếu không bạn đã không đọc những dòng này. Tôi muốn nhấn mạnh
rằng Thiền, không phải là việc chúng ta chỉ làm khi rảnh rỗi, trái lại Thiền
tối cần cho cuộc sống hạnh phúc, an lành của chúng ta.
Con người rất lạ là luôn nghĩ về tương lai hay quá khứ. Người trẻ thì nghĩ
đến tương lai ở phía trước. Người già thì nhớ về quá khứ đã sống qua.
Nhưng để kinh nghiệm cuộc đời, chúng ta cần phải sống trong giờ phút
hiện tại. Cuộc sống không có ở quá khứ. Đó chỉ là kỷ niệm, hoài ức. Cuộc
sống không xảy ra trong tương lai. Đó chỉ là dự tính. Thời điểm duy nhất
chúng ta thực sự sống là hiện tại trước mắt. Và chúng ta phải tập sống như
thế. Cuộc đời con người có thể kéo dài trong 60 hay 70 năm, nhưng ta phải
học sống ngay trong giờ phút hiện tại. Đời sống sẽ bớt bao phiền toái, nếu
như ta chỉ sống trong giờ phút hiện tại.
Nói thì dễ nhưng thực hành, khó lắm thay! Ai đã từng làm thử hẳn đã kinh
nghiệm được điều này. Ai chưa từng thử, sẽ tự khám phá ra điều ấy. Một lời
khuyên đơn giản, nhưng không phải dễ thực hiện. Và không có phương
pháp nào giúp chúng ta sống cho từng giây phút hiện tại hữu hiệu bằng
tham thiền.
Tất cả chúng ta đều biết giữ cho thân thể sạch sẽ. Ta tắm rửa mỗi ngày ít
nhất một lần hay nhiều hơn. Khi ra đường, ta mặc quần áo sạch sẽ. Tối đến
ta lo cho thân ngủ nghĩ. Nếu không, ta không đủ sức đương đầu với những
khó khăn trong cuộc đời. Ta cần có một mái nhà để che cho thân khỏi mưa,
gió, nóng, lạnh. Thiếu những thứ đó, thân sẽ không chịu đựng nỗi. Ta còn
bồi dưỡng cơ thể bằng những thức ăn chọn lọc, bổ dưỡng, lo tập thể dục cho
thân được cường tráng, khỏe mạnh. Dầu không tập, chúng ta cũng đi đứng,
hoạt động, vì nếu không chân tay ta sẽ teo tóp. Tâm cũng cần được chăm sóc
giống như thế.
Đúng ra, ta còn phải chăm sóc cho tâm hơn cả thân nữa, vì tâm là chủ, còn
thân chỉ là người đầy tớ. Một người đầy tớ khỏe mạnh, cường tráng, năng
7
nổ nhưng có một ông chủ yếu đuối, thiếu kiên quyết không biết mình phải
làm gì, cũng khó có thể làm nên việc. Người chủ phải biết điều khiển, chỉ
huy người đầy tớ của mình. Ngay nếu như người đầy tớ không được khỏe
mạnh, tháo vát nhưng ông chủ khôn ngoan, giỏi giắn thì 'ngôi nhà' của ta
cũng được tự tại.
Tâm và thân này làm nên 'ngôi nhà' của chúng ta. Nếu ngôi nhà nội tâm
không được yên, thì ngôi nhà bên ngoài của ta cũng khó ổn. Ngôi nhà chúng
ta sống, và làm việc tùy thuộc vào sự an khang của ngôi nhà nội tâm. Người
chủ, người điều khiển phải sống trong những điều kiện hoàn hảo nhất.
Không có gì trong vũ trụ này có thể so sánh hay thay thế được tâm. Tâm tạo
ra mọi thứ. Nhưng tất cả chúng ta đều coi thường tâm mình. Đó cũng là một
nghịch lý của cuộc đời. Không ai coi thường thân thể mình, nếu nó bệnh, ta
vội vã chạy đi bác sĩ. Nếu nó mệt mỏi, ta vội vã cho nó nghĩ ngơi. Nhưng ta
đã làm gì cho tâm? Hình như chỉ có các vị Thiền sư là chú trọng đến tâm của
họ.
Muốn tâm được phát triển sâu rộng, ta cần phải chăm sóc tâm. Nếu không
tâm ta luôn nhìn cuộc đời bằng con mắt nhị nguyên (hai chiều): Tốt, xấu;
ngày mai hay hôm qua; yêu (tôi thích thứ này), ghét (tôi không ưa thứ kia);
có (tôi sở hũu cái này), không (không sỡ hữu thứ kia); cái này của tôi, cái kia
của anh. Chỉ khi tâm đã được rèn luyện, ta mới có thể thay đổi cái nhìn của
mình để có thế nhìn thấy được những 'chiều' khác của sự vật.
Việc ta cần làm trước tiên cho Tâm là tẩy rửa, tắm gội cho nó, không chỉ mỗi
ngày một lần hay hai lần như đối với cơ thể, nhưng trong mỗi giây phút tỉnh
thức. Để làm được điều đó, chúng ta phải biết phương pháp. Với cơ thể,
điều đó khá dễ, chỉ cần dùng xà - phòng và nước. Chúng ta đã quen làm
như thế từ ngày còn nhỏ. Nhưng tâm chỉ có thể được gội rửa bằng tâm.
Những gì tâm đã thâu nhận, chỉ có tâm mới có thể cởi bỏ. Mỗi giây phút
tỉnh thức trong thiền là mỗi giây phút tâm được sàng lọc vì may mắn thay,
tâm không thể làm hai việc cùng một lúc. Dầu rằng, như Đức Phật đã nói
trong một nháy mắt ta có thể có đến hàng ngàn ý tưởng dấy lên, nhưng thực
tế ít ai nghĩ nhiều đến vậy và nhất là không thể có tất cả những suy tưởng
đó trong cùng một lúc. Chúng tiếp nối nhau cái này sau cái khác thoáng qua
nhanh chóng trong đầu ta.
8
Khi ta Thiền quán, ái dục, tham vọng, không thể hiện ra vì tâm chỉ có thể
làm một công việc một lúc. Do đó nếu thời gian tọa thiền tăng lên, các vết
nhơ bẩn trong tâm ta sẽ được gội rửa ngày một trở nên sạch hơn.
Tâm, vật độc nhất vô nhị trong vũ trụ, báu vật duy nhất chúng ta sỡ hữu.
Khi có món đồ quí, dĩ nhiên là ta phải giữ gìn cẩn thận. Chùi rửa, đánh
bóng, vô dầu mỡ, thỉnh thoảng cho nó nghĩ. Còn đây ta có tâm quí báu này,
chỉ có tâm giúp cho ta làm được mọi việc, kể cả việc giác ngộ, nhưng biết gìn
giữ nó hay không tất cả là tùy thuộc chúng ta. Tâm sẽ trở thành vô dụng nếu
không được giữ gìn, trau chuốt.
Lúc ngồi Thiền, ta tập gạt bỏ ra khỏi tâm những gì ta thấy không cần thiết.
Để chỉ giữ trong tâm những điều ta muốn nghĩ đến. Khi đã thành thói quen,
chúng ta có thể áp dụng phương pháp tu Thiền vào các sinh hoạt đời
thường, để giúp ta dứt bỏ những tư tưởng không lành mạnh. Như thế nhờ
ngồi Thiền, ta có thể dứt bỏ chạy đuổi theo vọng tưởng trong sinh hoạt đời
thường, ngược lại việc chúng ta không chạy đuổi theo vọng tưởng trong đời
sống giúp cho việc ngồi Thiền của ta dễ dàng hơn. Người có thể làm chủ tư
tưởng mình, khiến tâm chỉ nghĩ đến những gì mà họ muốn nghĩ được gọi là
A-la-hán hay đấng Giác Ngộ.
Đừng ngạc nhiên nếu không phải lúc nào ta cũng có thể dứt bỏ vọng tưởng.
Thật dễ chịu khi ta có thể chỉ nghĩ đến những điều ta muốn nghĩ đến, vì như
thế là ta đã làm chủ được tâm của mình, hơn là tâm làm chủ ta. Luôn chạy
đuổi theo bất cứ tư tưởng nào dấy khởi lên trong tâm, dù hạnh phúc hay
đau khổ, là thói quen chúng ta cần từ bỏ khi ngồi thiền.
Bước kế tiếp là tập luyện tâm. Tâm không kiềm chế giống như những lượn
sóng trồi lên trụt xuống, chạy lăng xăng từ chuyện này qua chuyện khác,
không bao giờ có thể trụ yên một chổ. Ai chẳng từng kinh nghiệm có khi đọc
sách, đến cuối trang mới bỗng nhận ra không biết mình vừa đọc gì, phải đọc
lại cả trang. Ta phải thúc đẩy, luyện tập để tâm ở yên một chổ, giống như ta
phải thúc đẩy, vận động các bắp thịt, khi ta tập hít thở, tập tạ. Sự phát triển,
tăng trưởng chỉ có thể có được từ sự tập luyện tâm làm theo ý ta, đứng yên
khi ta muốn nó đứng yên.
Sự luyện tập cũng giúp tâm thêm vững mạnh, vì tâm đã được rèn luyện biết
buông bỏ. Chúng ta không phải là A-la-hán, ai cũng chấp Ngã. Chính cá
nhân chủ nghĩa, thái độ 'cái này của tôi, cái kia của anh' đã tạo nên bao vấn
9
đề trên thế giới. Chúng ta xác định 'bản ngã' của mình qua những gì ta suy
nghĩ, qua sách báo, phim ảnh đã xem, đã đọc, hoặc sử dụng tâm chỉ để làm
những việc cũng cố thêm cho cá nhân mình. Điều quan trọng nhất ta học
được trong lúc ngồi Thiền, là biết buông bỏ, không chạy đuổi theo vọng
tưởng. Khi không còn ai suy tưởng, không còn có cái Ngã.
Lúc đầu, ta chỉ có thể buông bỏ được vọng tưởng trong khoảng thời gian
ngắn, nhưng đó chỉ là bước đầu. Con đường tâm linh cuối cùng rồi cũng
dẫn ta đến sự hoàn toàn buông xả. Không có gì ta cần phải đạt được hay
bám víu vào. Những điều này đã được lập đi lập lại nhiều lần, nhưng ta
không có cách gì khác hơn để diễn tả. Đúng vậy, con đường tâm linh là con
đường dẫn ta đến việc từ bỏ, buông xả tất cả những gì đã được ta tích lũy,
chất chứa từ bấy lâu nay: Sự sở hữu, các thói quen, tư tưởng, thành kiến, các
lối suy nghĩ theo khuôn mẫu. Tuy nhiên lúc ngồi Thiền, không phải dễ
buông bỏ vọng tâm, vì cái Tôi không dễ đầu hàng; cái Tôi sẽ cảm thấy lạc
lỏng khi không có suy tưởng. Tâm sẽ phản ứng ngay bằng cách kêu lên:
"Việc gì đã xảy ra?" -- và rồi nếu không biết buông xả, tâm ta lại chạy đuổi
theo vọng tưởng.
Làm thế nào để bắt tâm ở yên một chổ, là góp phần vào việc phát triển 'bắp
thịt' của tâm, tạo cho tâm thêm sức mạnh và quyền lực. Giáo lý của Đức
Phật rất thâm thúy, cao siêu, và chỉ có những tâm thâm thúy, cao siêu mới
có thể lãnh hội đầy đủ những lời dạy của Ngài. Vì thế, chúng ta cần luyện
tâm thêm vũng mạnh.
Một thân thể cường tráng có thể chịu đựng được tất cả những gì ta bắt nó
phải chịu đựng. Một Tâm vững mạnh cũng giống như thế. Tâm vững mạnh
có thể chịu đựng sự nhàm chán, căng thẳng, tuyệt vọng hay đau khổ -- vì
tâm không bám víu vào những gì nó không thích. Thường xuyên thực tập
thiền định là một cách để luyện tâm.
Là một bộ phận vô giá, tuyệt vời nhất trên đời, tâm hơn tất cả mọi thứ cần
phải được chăm sóc. Vậy mà ta đã không ngừng nghĩ suy, tính toán từ lúc
còn ấu thơ, và từ bao nhiêu lượng kiếp trước đó. Suốt ngày chúng ta suy
nghĩ, suốt đêm chúng ta mộng mị. Chẳng có phút giây nào ngưng nghĩ.
Chúng ta có thể nghĩ hè, đi thư giãn. Nhưng thực ra cái gì thư giãn? Chính
là cơ thể được thư giãn. Nó đi lên núi, xuống biển, du lịch chân trời, góc
biển, nhưng còn tâm thì sao? Thay vì suy nghĩ những chuyện phải làm ở
10
nhà, nó bận rộn thâu nhận những âm thanh, cảnh quang, mùi vị mới lạ. Tâm
ta chẳng hề được nghĩ ngơi, nó chỉ thay đổi công tác thôi.
Nếu cơ thể chúng ta không được nghỉ ngơi một đêm, nó khó mà làm việc
ngày hôm sau. Tâm ta cũng cần nghĩ ngơi, nhưng không phải bằng giấc
ngủ. Tâm chỉ có thể được nghĩ ngơi khi nó ngừng mọi suy nghĩ, mà chỉ cảm
nhận. Ta có thể ví tâm như một màn ảnh trắng, trên đó các phim ảnh được
liên tục chiếu lên, không bao giờ ngưng nghĩ. Vì cuốn phim -- tư tưởng -liên tục chiếu, người ta quên mất còn có tấm màn hình ở đằng sau đó.
Nếu chúng ta có thể tạm ngưng cuốn phim lúc tham thiền, chúng ta sẽ cảm
nhận được sự tĩnh lặng thường hằng của tâm. Đó là giây phút tuyệt vời.
Giây phút hạnh phúc không thể kiếm tìm ở đâu, qua bất cứ phương tiện
nào. Niềm hạnh phúc tuyệt vời, không phụ thuộc vào bất cứ điều kiện bên
ngoài nào, trừ thực tập Thiền. Không phải tùy thuộc vào món ngon, thời tiết
tốt, bạn quý, người đồng cảm, sự hổ trợ tinh thầy hay của cải vật chất. Tất cả
những thứ đó đều không thể tùy thuộc vào, vì chúng luôn thay đổi. Chỉ có
bản tâm, chánh niệm là không bỏ rơi chúng ta nếu ta tiếp tục thực hành
Thiền.
Khi tiếng động trong tâm tạm dừng, không chỉ có sự im lặng, mà còn có cả
cảm giác hài hòa. Tâm cuối cùng được nghĩ ngơi. Nó đã tìm được đến nhà.
Ta sẽ đau khổ biết bao nếu không có cái nhà che chở xác thân. Tâm cũng thế.
Giây phút bình an, tĩnh lặng đó là 'ngôi nhà' của tâm. Nó trở về nhà nghĩ
ngơi giống như sau một ngày làm việc, chúng ta trở về nhà ngã người lên
chiếc ghế êm ả hay nằm xuống giường để thân nghỉ ngơi. Tâm bây giờ cũng
thế. Được nghĩ ngơi, không phải suy nghĩ. Suy nghĩ, vọng tưởng là đau khổ,
cho dù chúng ta nghĩ về bất cứ thứ gì. Vì có sự chuyển động là có va chạm.
Tất cả những gì chuyển động sẽ sinh ra va chạm, cọ sát, khổ đau.
Giây phút chúng ta thư giãn, nghĩ ngơi, tâm tăng thêm sức mạnh và an lạc
vì nó biết nó có thể trở về nhà bất cứ lúc nào. Sự an lạc chúng ta tìm thấy
được khi ngồi thiền sẽ ở trong ta suốt ngày, cả trong những sinh hoạt đời
thường ta cũng tìm thấy nó. Tâm an lạc, vì tâm biết rằng không có gì cản trở
nó trở về nhà, tìm sự tĩnh lặng, hài hòa.
Đó là những lý do chính để giải thích tại sao cuộc sống của ta sẽ không bao
giờ đầy đủ nếu không có Thiền. Những lạc thú bên ngoài mà cuộc đời mang
đến cho ta, không thể so sánh được với niềm vui nội tâm. Sự buông xả,
11
không bám víu giúp chúng ta hiểu rằng 'cái tôi' luôn đòi hỏi, do đó tâm
luôn đòi suy tưởng. Khi ta ngưng mọi ham muốn, ta không cần phải suy
nghĩ, vọng tưởng. Khi chúng ta ngưng đòi hỏi, tất cả mọi sự thất vọng, đau
khổ đều biến mất. Đó là lý do tại sao chúng ta cần phải tu tập Thiền.
Trước hết chúng ta phải chú trọng đến hơi thở ra, hơi thở vào nơi mủi. Hơi
thở là gió, nên khi gió vào hay ra, ta đều cảm thấy. Cảm giác đó giúp chúng
ta chú tâm ở nơi mủi. Việc làm đó lúc đầu khó tránh khỏi khó khăn.
Hơi thở là mạng sống của chúng ta, vì thế còn gì thích hợp hơn là dùng hơi
thở để thiền quán: Ta sống nhờ hơi thở, không thể tách rời khỏi nó giây phút
nào. Vậy mà ít khi ta nghĩ đến nó. Ta quên khuấy nó, cho đến khi ta mất nó,
nghẹt thở, chết đuối hay chết ngạt. Lúc đó ta mới thấy hơi thở quan trọng
biết bao. Nhưng khi hơi thở còn ở với chúng ta, ta chẳng bao giờ nhớ tới,
dầu hơi thở là sự sống còn của ta, là báu vật quí nhất của tất cả chúng ta.
Hơi thở còn trực tiếp hổ trợ cho tâm. Khi ta xúc động hay vội vã, hơi thở trở
nên gấp rút. Khi tâm ta thanh tịnh, tĩnh lặng, hơi thở nhẹ nhàng, thanh
thoát. Khi hơi thở trở nên mong manh đến nỗi khó tìm thấy, là khi chúng ta
ở trong trạng thái Thiền định. Tập chú trọng vào hơi thở là phương pháp
giúp chúng ta đạt đến trạng thái đó. Thở là một hành động vừa tự nhiên,
vừa có thể được kiểm soát. Ta có thể làm cho hơi thở sâu, dài hay ngắn hay
ngưng lại giây lát.
Có nhiều cách để chú tâm vào hơi thở. Ta có thể theo dõi hơi thở vào, hơi
thở ra khi ta chú tâm đến nó. Muốn thực tập phương cách này, không cần
phải thay đổi cách thở chỉ im lặng theo dõi nó vào ra.
Hoặc tập chú tâm bằng cách kết hợp hơi thở với tụng niệm, thí dụ 'Nam
Mô'. Nam khi hít vào, Mô khi thở ra.
Ta cũng có thể đếm một khi hít vào, một khi thở ra,. Hai khi hít vào, hai khi
thở ra. Không đếm dưới 5, không đếm quá 10. Khi đếm đến 10, lại bắt đầu
trở lại một. Khi tâm lang thang, bắt đầu đếm lại 1. Lúc bắt đầu, nếu bạn
không bao giờ đếm quá hai, đừng nản lòng. Hãy kiên trì thực tập.
Tất cả tâm đều giống nhau. Bạn không cần phải nghĩ: “Tôi không thể tập
thiền. Thiền không thích hợp với tôi". Nhưng 'tôi' ở đây là ai? Nó chỉ là một
tâm không kiềm chế so với tâm đã được kiềm chế. Một vận động viên có tập
luyện sẽ chạy nhanh, chạy giỏi hơn người không tập. Thế thôi. Nếu không
12
có sự cố gắng tập luyện, không thể bảo rằng: "Tôi vô dụng. Tôi không thể
chạy nhanh".
Đếm hơi thở, niệm chú, chú tâm vào hơi thở ở nơi mũi hay theo dõi hơi thở
ra vào. Hãy thử xem phương pháp nào thích hợp với bạn, rồi giữ lấy
phương pháp đó. Nếu bạn có thể tập chú tâm, bằng cách theo dõi hơi thở
phồng lên xệp xuống ở bụng thì cứ làm như thế. Chân xếp như thế nào để
bạn có thể ngồi lâu. Lưng thẳng nhưng không gồng. Vai, bụng, và cổ cũng
phải thư giãn, mềm. Khi bạn ngồi bị ngã chúi, hãy ngồi thẳng lại. Đầu cũng
phải giữ thẳng. Ngôi chúi, đầu gục xuống dễ làm ta buồn ngủ hơn là tĩnh
tâm. Khi ngồi Thiền chúng ta cần phải hoàn toàn tỉnh thức.
Bạn sẽ thấy rằng không phải lúc nào tâm cũng trụ vào hơi thở, dù bạn tập
bằng phương pháp nào: niệm chú, đếm 1-1, 2-2 hay chú tâm vào hơi thở ở
mũi hay theo dõi hơi thở vào ra. Tâm vẫn lăng xăng, trừ khi bạn đã từng tập
ngồi thiền một thời gian dài. Vọng tưởng - cuốn phim - vẫn còn đó. Chỉ có
cách là tập gọi tên các vọng tưởng, nhưng nếu gặp khó khăn, có thể đơn
giản hóa bằng cách gọi chung chung như 'tư tưởng', 'hồi ức', 'lầm lẫn', 'dự
tính' hay 'nhảm nhí'. Không quan trọng. Vì ngay lúc ta đặt cho vọng tưởng
một cái tên, là lúc ta đã tách ta ra khỏi nó. Nếu không, bạn không phải là
ngồi thiền mà là ngồi suy nghĩ và bạn sẽ hoàn toàn bị dẫn dắt, lôi cuốn theo
các suy tưởng của mình. Bạn sẽ lo cho con mèo bị nhốt ngoài cửa, lo không
biết mấy đứa nhỏ ngủ chưa...Bất cứ gì, thì bạn cũng đang lo nghĩ, dĩ nhiên
tâm bạn sẽ tự bào chữa rằng: "Nhưng tôi cần phải biết những điều đó chứ”.
Khi tọa thiền, bạn không cần biết về vấn đề gì cả. Cuộc đời vẫn cứ tuần tự
trôi đi, không cần đến sự lo lắng của chúng ta. Mỗi giây phút, nó đến rồi đi.
Khi vọng tưởng dấy lên, hãy nhìn thẳng vào nó, đặt tên cho nó. Trúng, sai
không thành vấn đề. Một khi vọng tưởng đã được đặt tên, có nghĩa là ta có
thể buông bỏ nó. Dần dần thói quen này sẽ được chúng ta áp dụng vào mọi
phút giây tỉnh thức. Nhờ thế khi có những tư tưởng không trong sáng, ta có
thể buông bỏ chúng. Bạn sẽ tập chỉ nghĩ đến điều mình muốn nghĩ, và khi
làm được như thế, bạn sẽ không bao giờ thấy khổ đau nữa. Chỉ có kẻ khờ
mới tự nguyện đau khổ.
Đặt tên cho các tư tưởng, đó là cách giúp ta nhận biết vọng tưởng trong đời
sống hàng ngày, nhưng khi ngồi thiền, ta gọi đó là sự tỉnh thức. Đó là cách
thực tập Chánh niệm. Đức Phật nói: "Tỉnh thức là phương pháp duy nhất để
13
giải thoát con người, giúp họ tránh thất vọng, bước vào con đường giác ngộ,
thoát khỏi khổ đau”. Biết rằng 'Tôi đang suy nghĩ. Tôi đang lơ đễng. Lo
lắng. Bứt rứt. Mơ mộng về tương lai. Mong ước...”. Chỉ nhận biết, rồi trở về
với hơi thở. Nếu bạn có hàng ngàn vọng tưởng, thì hãy nhận biết chúng
hàng ngàn lần. Nhận biết sự dấy khỏi của vọng tưởng và nội dung của
chúng. Đấy là nền tảng của sự tỉnh thức một cách chủ động, con đường duy
nhất đưa đến giải thoát - nếu ta thực sự thực hành chúng.
Cơ thể của chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu vì phải ngồi trong một tư thế
không quen thuộc, và nhất là vì ta bắt nó phải ngồi yên. Thân không bao giờ
thích phải ở yên một chỗ dù chỉ trong thời gian ngắn. Ngay như khi nằm
trên chiếc giường êm ái, thoải mái, thân cũng lăn trở suốt đêm. Thân muốn
di chuyển để thoát khỏi sự khó chịu, nên dù ta đang ngủ, thân vẫn chuyển
động. Cũng thế, khi chúng ta ngồi thiền, sự khó chịu dấy lên. Thay vì lập
tức nghe theo thân, thay đổi thế ngồi như ta vẫn thường làm, thường phản
ứng khi đau đớn, khó chịu dấy lên, hãy nhận biết nó. Quan sát cảm giác khó
chịu từ đâu tới. Có phải vì sự tiếp xúc với gối, sàn nhà hay với chân kia. Từ
sự tiếp xúc sinh ra cảm giác. Từ cảm giác dẫn đến hành động. (Đây cũng
chính là vòng luân hồi luẩn quẩn của chúng ta. Chính phản ứng của chúng
ta đối với các cảm giác đưa chúng ta đến luân hồi sinh tử).
Chỉ có ba loại cảm giác: dễ chịu, trung tính, khó chịu. Ngồi Thiền gây cảm
giác khó chịu, nên tâm lên tiếng: 'Á, cảm giác khó chịu, đau đớn quá. Tôi
không chịu nỗi, tôi muốn thoát ra khỏi cảm giác này'. Chúng ta sống, phản
ứng như thế mỗi ngày, từ sáng đến tối, đều như thế. Bất cứ điều gì làm
chúng ta khó chịu, chúng ta chạy trốn, xua đuổi hay cố gắng thay đổi các
nguyên nhân bên ngoài chúng ta. Bằng mọi cách chúng ta xua đuổi khổ đau.
Nhưng sẽ không có cách gì làm được, trừ khi chúng ta dứt bỏ được lòng
tham muốn. Bất cứ điều gì ta làm cho thân, xoay chuyển chiều nào rồi nó
cũng sẽ khó chịu, vì sự thoải mái không thể kéo dài.
Hãy quan sát vòng luẩn quẩn đó: tiếp xúc, cảm giác, phản ứng. 'Tôi cảm
thấy đau. Tôi muốn chạy khỏi chỗ này'. Nhưng thay vì chạy trốn, hãy đặt
hết cả sự chú tâm vào nơi đang bị đau đớn, để cảm nhận sự thay đổi của nó.
Bạn sẽ thấy cảm giác đau đớn hoặc là di chuyển đến nơi khác, hoặc là thay
đổi cường độ. Cảm giác đó không là một khối đông đặc, nó di chuyển, nó
đổi thay.
14
Hãy nhớ rõ rằng, cơ thể ta không có sự đau đớn, nhưng nó đang đau đớn.
Chỉ có như thế ta mới hiểu sự thật về những đau đớn của con người. Không
phải là thỉnh thoảng cơ thể ta mới bị đau đớn, khó chịu mà nó luôn luôn đau
đớn, khó chịu. Nó không thể nằm hay ngồi yên mà không cảm thấy khó
chịu. Hãy nhận biết tánh vô thường đó. Hãy nhận biết tính chất khổ đau đã
được ươm mầm trong cơ thể con người. Hãy nhận biết là cảm giác chúng tự
đến, không có lời mời của chúng ta. Vậy tại sao gọi chúng là 'của tôi'? Hãy
nhận biết chúng từ các cảm giác khó chịu này, rồi thì chuyển đổi nếu cần,
không phải là ngay lập tức. Chỉ chuyển đổi sau khi chúng ta đã quán sát tại
sao cần làm vậy. Chuyển đổi nhẹ nhàng, đầy chánh niệm để không làm
phiền đến người chung quanh.
Cứ ngồi nguyên một chỗ cắn răng chịu đựng, và tự nhủ "Tôi sẽ ngồi nguyên
bằng mọi giá. Tôi không chịu đựng nỗi nữa, nhưng tôi vẫn cố chịu”, không
đem lại lợi lộc gì cho sự ngồi thiền của chúng ta. Đó là một phản ứng sai lầm
không kh...
 





