Viếng Lăng Bác - Bài giảng
Vua Lê Chiêu Thống bánh xe khứ quốc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:11' 07-04-2024
Dung lượng: 739.5 KB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:11' 07-04-2024
Dung lượng: 739.5 KB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Bánh xe khứ quốc
Phan Trần Chúc
Chia sẻ ebook: http://downloadsach.com
Follow us on Facebook: https://facebook.com/caphebuoitoi
https://thuviensach.vn
Table of Contents
Kinh thành mây phủ
Thái tử Duy Vĩ
Đời hay là hai cánh cửa nhà ngục
Từ nhà ngục đến nhà Vàng
Kiêu binh nổi loạn
Quyền của mạch máu
Đoan Nam vương moi ruột tự sát
Những cái vinh và cái lụy của chiếc ngai vàng hoàng đế
Cờ đến tay
Yến đô vương
Chức và quyền
Cống chỉnh ra trò
Chim bằng cất cánh
Bằng bay về trời
Đời luân lạc
Kim, chỉ cũng phong trần
Nghĩa và lợi
Giấc mộng con
https://thuviensach.vn
Mái tóc của Lê Quýnh
Trong và ngoài nước
Khối hận không tan
MỤC LỤC
https://thuviensach.vn
Kinh thành mây phủ
Ngày 20 tháng Chạp năm Tân Mão(1).
Thành Thăng Long, sau những ngày hiu quạnh của tiết Đại hàn, như vừa
được khoác một tấm áo mới, dưới những ánh nắng mặt trời êm dịu.
Trên làn cỏ non liên tiếp, không khác một dải lụa màu hoa lý viền lấy hồ
Hoàn Kiếm, dân đô thành đua nhau ra hưởng vội vàng lấy cái khí ấp áp là
vật mà về mùa giá lạnh, hóa công vẫn tỏ ra dè dặt, mỗi khi cần phải ban
pháp nó cho muôn loài.
Sau quán Vọng Tiên cũng như trước các phố Hàng Khay và Hàng Bạc,
có hàng trăm đứa trẻ, mình trần như nhộng, tụ vào một chỗ chơi nhảy “vô”
hoặc “ú tim, ú òa”.
Nước da bánh mật của chúng phản chiếu lại ánh mặt trời, cũng óng ánh
như những hòn ngói tráng men trên nóc chùa Ngọc Sơn, một tòa lâu đài mà
khách du có cái cảm tưởng như nổi lềnh bềnh trên mặt nước, những lúc mặt
hồ gợn sóng. Cạnh chúng, là một bọn dân nghèo công nhiên phơi cái cảnh
cùng túng của họ giữa nơi đô hội nhất của thành Thăng Long. Họ trút bỏ
tấm áo mã khoa nâu đã biến sắc xuống cỏ mà bắt rận hoặc khâu vá lại
những lỗ thủng là di tích của đời lao khổ và thời gian.
Dưới hồ, kẻ tắm, người gội, đàn ông và đàn bà thích cánh nhau mà
không chút e ngại hoặc sượng sùng, vì không ai có mục đích gì khác là nhờ
giọt nước hồ Gươm để trút bỏ những cái dơ bẩn bám vào người mình. Câu
“nam nữ thụ thụ bất thân” của ông Mạnh thực ra chỉ đáng nêu nên ở những
gia đình đài các và phong lưu, nơi người ta có dư thì giờ để nghĩ đến những
chuyện vẩn vơ vì họ không phải bận rộn gì về sinh kế.
https://thuviensach.vn
Ven hồ, trên những cầu tre có nhiều bậc mà bậc sau cùng là bắc là là
ngay trên mặt nước, người ta tranh nhau giặt giũ: nào quần, nào áo, nào
chăn, nào màn. Tiếp, họ phơi tất cả ngần ấy thứ lên bãi cỏ hoặc cành cây.
Buổi nắng mới vô tình rốc ra bờ hồ tất cả những cái nhơ bẩn mà thành
Thăng Long đã phải chứa chất một cách nhẫn nhục trong những ngày mưa
rét.
Trong các phố phường, vẻ náo nhiệt lại còn rõ rệt hơn nữa.
Tại các chợ Đồng Xuân và Báo Thiên, kẻ mua, người bán, tuy đã quá
Ngọ, vẫn không ngớt. Những đống bùn lớn trên mặt đường dần dần sẽ lại,
tiếp khô hẳn, nhờ ánh nắng mặt trời và sự giày đạp của chân người. Công
chúng qua lại thỉnh thoảng lại kính cẩn dãn ra hai bên lề đường để nhường
lối cho những cỗ kiệu sơn son của các quan Tham, Chưởng… hoặc những
chiếc võng màu cánh gián của các vị phu nhân. Vì gần gũi với Triều đường
và Phủ liêu, dân đô thành vẫn tự hào với người các Trấn là họ có thể phân
biệt được phẩm cấp của các quan văn võ, do theo nước sơn trên kiệu, võng
của các vị ấy.
Trong lúc mọi người mải miết lăn lưng vào một cuộc náo nhiệt mà thời
tiết vừa làm cho đình trệ thì từ phương Đông, chân trời bỗng vẩn lên một
đám mây đen. Đám mây đó không khác gì một vết dầu loang, lan rất mau
khắp da trời. Người ta đoán là trời sắp đổ mưa nên người lo thu những đồ
vật phơi phóng ở sân vào, kẻ rảo bước về nhà hoặc tìm chỗ ẩn tránh. Chỉ
trong chớp mắt, sự hoạt động của thành Thăng Long lại bị đình hẳn như
chiếc máy đồng hồ, vì hết dây cót mà đứng dừng lại.
Người ta đoán lầm.
Đám mây, đáng lẽ phải đổi thành nước mưa mà dội xuống Long thành,
nhưng nó vẫn cứ bám sát vào da trời, mỗi phút một dày đặc mãi ra. Lâu dần
mặt trời bị phủ kín hẳn, thậm chí hai người không nhận được mặt nhau, tuy
chỉ đứng cách nhau có vài bước. Các nhà giàu sợ quân gian thừa cơ lẻn vào
https://thuviensach.vn
trộm cắp, phải vội vã thắp đèn. Bọn sai dịch lo chậm trễ việc công cũng bắt
buộc phải đốt đuốc mà đi ngoài đường phố.
Đô thành bỗng chốc đã hiện ra các cảnh tượng đêm ba mươi tết.
Trước một trạng thái phi thường như vậy, công chúng không thể không
tự hỏi: tại sao?
Phải, tại sao trời đương nắng ráo phút đổi ra tối sầm?
Tại sao giữa trưa ngày hai mươi tháng Chạp mà mịt mù như lúc giao
thừa?
Rồi trong lúc mỗi người tự đào óc để tìm lấy một câu trả lời cũng kỳ
quái chẳng kém gì cái hiện tượng nói trên thì, từ ngục Đề lĩnh, một cậu lính
Thiết đột hốt hoảng chạy ra, báo nhỏ với người bạn của hắn là lính Túc vệ
đứng canh ở cửa Đại Hưng:
- Đức ông Hoàng Trừ bị hại rồi!
Hắn lại dặn thêm:
- “Việc quốc gia bí mật” anh nên biết một mình thôi, chớ nói lại với ai
mà rụng đầu đấy!
Nhưng hắn vừa đi khỏi thì cậu Túc vệ đã lặp lại với một bọn chừng
người cậu Túc vệ khác, từ trong thành ngất ngưởng đi ra.
- Các anh có biết không? Đức ông Hoàng Trừ bị hại rồi! “Việc quốc gia
bí mật”, các anh nên biết một mình thôi, chớ nói lại với ai mà rụng đầu đấy!
Rồi, từ mười người này truyền sang một trăm, tiếp một ngàn người
khác, việc mà cậu lính Thiết đột gọi là “quốc gia bí mật”, chỉ trong khoảnh
khắc, đã do con đường “cửa miệng” của công chúng mà lan ra khắp thành
Thăng Long.
https://thuviensach.vn
Một vài kẻ khác cũng giàu trí tưởng tượng như tấm lòng mê tín, lại phê
bình thêm với một giọng nói ngọt ngào:
- Đó là báo ứng của oan hồn đức ông đấy!
https://thuviensach.vn
Thái tử Duy Vĩ
Tại sao cái chết của một người – dù là chết oan và chết lối “bất đắc kỳ
tử” – đã được công chúng tin rằng có ảnh hưởng và gây ra một trạng thái
phi thường trong vũ trụ!
Muốn trả lời câu trên này, trước hết các bạn phải biết qua thân thế của
Đức ông Hoàng Trừ và địa vị Đức ông trên lịch sử Việt Nam giữa thế kỷ
XVIII.
Người mà công chúng quen gọi là Đức ông Hoàng Trừ tên thật là Lê
Duy Vĩ, con trưởng vua Lê Cảnh Hưng, hiện giữ ngôi Trừ Nhị(1) ở Bắc Hà.
Duy Vĩ vẻ người tuấn nhã và thông minh rất sớm. Tuy đã được kén làm
Thái tử, nghĩa là nắm vững cái phú quý trong tay, nhưng không đêm nào
chàng không đọc sách và thân yêu kẻ sĩ, cho nên trong nước, ai cũng kính
trọng và tin rằng tiền đồ của nước Nam sẽ ở trong tay một ông Vua minh
mẫn.
Minh đô vương phi là Nguyễn Thị Ngọc Vinh cũng mến tài đức của
Thái tử nên bàn với chồng, mang con gái yêu là Tiên Dung Quận chúa, gọi
gả cho chàng, để giữ trước cho con gái mình ngôi “mẫu nghi thiên hạ”.
Quận chúa có cái sắc đẹp thùy mị, lại học rộng và rất giỏi về văn thơ,
đính hôn với Thái tử tưởng không còn gì xứng đáng hơn nữa. Song hóa
công hình như hối hận là nếu đãi đôi thiếu niên mày một cách quá hậu, sẽ
mang tiếng bất công với muôn loài nên đã dành cho họ một cái kết quả rất
cay độc để giữ thế tương đương với những cái ân huệ mà họ được hưởng,
khi mới bước chân vào cuộc thế.
Nguyên, ngoài Tiên Dung Quận chúa ra, Minh đô vương còn có một
người con trai lớn (khác mẹ) tên là Trịnh Sâm. Sâm được lập làm Thế tử(2),
https://thuviensach.vn
cũng là tay văn võ kiêm toàn, nhưng tiếc rằng độ lượng khí hẹp hòi. Chàng
thấy Thái tử có tài mạo chẳng kém gì mình mà được vợ chồng Minh đô
vương biệt đãi thì có ý ghen tức.
Một hôm, nhân Trịnh phủ có yến, Vương phi cho đặt một mâm cỗ ở sập
trên, chiếu trải năm trùng để dành riêng cho Thái tử. Còn Thế tử thì phải
ngồi sập dưới, chiếu trải có ba trùng.
Khi vào tiệc, Thế tử vô tình ngồi cùng với Thái tử một mâm. Nguyễn
vương phi chợt đến, tỏ ý không bằng lòng dụ bảo hai người:
- Thái tử với Thế tử, tình là anh em, nhưng nghĩa là Vua tôi. Tuy ở trong
gia đình cũng không nên bỏ lễ tôn ti trật tự.
Tiếp, Vương phi bắt Thế tử ngồi xuống chiếu dưới mà không tìm lấy
một lời yên ủy.
Cử chỉ đột ngột đó làm cho Trịnh Sâm hổ thẹn không biết ngần nào. Rồi
từ hổ thẹn đổi sang oán giận, chỉ trong có một bước: suốt bữa ấy, Sâm
không ăn uống gì cả, chỉ nghĩ cách ám hại Thái tử.
Tan tiệc, Thái tử và Thế tử cùng ra về, tới cửa phủ, Sâm ngăn Thái tử
lại, rút một đôi đũa bạc thủ sẵn trong tay áo ra bẻ làm đôi nói:
- Hai chúng ta tất phải có một người sống, một người chết. Vua ấy với
Chúa này quyết không thể cùng đứng với nhau được!
Thái tử mỉm cười, gạt tay Sâm ra, lên kiệu tiến thẳng về cung nên cuộc
xung đột của hai người, Minh đô vương và cho cả đến Nguyễn vương phi
nữa, cũng không nghe biết.
Tại sau Duy Vĩ lại đáp lại sự khiêu khích của Trịnh Sâm bằng thái độ
yên lặng, trong không khỏi có ý khinh bỉ?
Giản dị lắm.
https://thuviensach.vn
Thái tử đã là người thông minh, bác học, tất không quên được việc Trịnh
Tùng giết vua Lê Kính Tông, Trịnh Giang hại Lê đế Duy Phương và gần
đây hơn hơn hết, Trịnh Doanh vô cố truất vua Lê Ý Tông, ấy là chưa kể bao
nhiêu lần khác nữa, họ Trịnh đã tự ý bỏ và lập các vua Lê, không luận gì
đến lễ nghĩa Vua tôi và lòng mong mỏi của sĩ phu trong nước.
Họ Trịnh có cả thiên hạ mà vua Lê chỉ được hưởng lộc của một nghìn
làng. Họ Trịnh chiếm đoạt cả chính quyền lẫn binh quyền; vua Lê chỉ được
giữ năm nghìn lính Túc vệ để canh giữ các cung điện.
Họ Trịnh là một quyền thần, nối đời ức hiếp nhà Vua .
Trái lại, vua Lê không khác một pho tượng gỗ, giương đôi mắt bất lực
nhìn cái thế lực điêu tàn của nhà mình bị chìm đắm dần vào cõi tiêu diệt.
Duy Vĩ oán họ Trịnh.
Nhưng chàng cũng tự biết rằng cái sức bạc nhược của nhà Lê lúc này,
chăng đủ trừ được một con hổ dữ mà thời gian đã nuôi cho béo và khỏe vô
cùng.
Chàng trông cậy vào tương lai.
Chàng kết giao với sĩ phu trong nước, hy vọng là sau này sẽ nhờ cái lực
lượng của họ để lật đổ chiếc vai cầy mà nhà Lê phải đeo đẳng đã trên hai
thế kỷ.
Duy Vĩ có trí lớn.
Chí ấy không phải Minh đô vương không biết. Nhưng giữa Vương và
Thái tử, có tình bố vợ con rể nên tuy biết mà Vương vẫn làm ngơ. Không
may cuộc hôn nhân chưa kịp thực hiện thì Tiên Dung Quận chúa qua đời.
Giọt lệ khóc ý trung nhân của Thái tử chưa ráo thì lại tiếp đến Minh đô
vương băng hà. Thế là cái cầu nối hai họ Lê và Trịnh bắc chưa xong đã bị
đổ ngổn ngang bỏ lại giữa nhà Chúa và nhà Vua một cái vực sâu thẳm.
https://thuviensach.vn
Trịnh Sâm được thay cha lên làm Chúa Bắc Hà, lấy hiêu là Tĩnh đô
vương.
Tĩnh vương không quên câu đe dọa hồi còn ở ngôi Thế tử.
Nhưng mấy năm đầu, Vương sở dĩ còn dùi dẳng là vì truất bỏ một vị
Thái tử không dễ như cách chức một tên nội giám trong cung; cần phải có
một cớ - dù chính đáng hay không cũng được – để thân minh với quốc dân.
Sau rốt, Tĩnh vương tìm được một cớ là vu cho Thái tử thông gian với
những phi tần của cha mình.
Không luận rằng cái cớ “tổ truyền”(3) ấy công chúng có chịu nuốt trôi
hay không. Tĩnh vương cũng cứ sai hai viên quan hoạn thân tín là Vũ Huy
Đĩnh và Hoàng Ngũ Phúc vào nội điện bắt Thái tử hạ ngục.
Người ta sẽ chê Thái tử là chất thực quá, nếu chàng không đoán biết là
sẽ có một cái vạ tày đình từ Trịnh phủ gieo xuống thân mình mà liệu cách
đề phòng.
Có, Thái tử đã đoán biết cả. Vì đoán biết nên chàng thận trọng từng ly,
từng tý, khiến cho Tĩnh vương tuy tốn công dò xét mà không bắt được
chàng làm một việc gì trái với pháp luật hay luân thường.
Vua Lê cũng hết mực lo lắng cho con. Nhất là từ hồi trong giếng Tam
sơn ở sau điện có tiếng nhưng tiếng sấm nổi lên thì nhà Vua lại càng tin
rằng tất có biến cố xảy ra, nên cho cầu đảo suốt đêm ngày, hy vọng là
thượng đế sẽ thấu tấm lòng thành của nhà Vua mà cho họ Lê được tai qua
nạn khỏi.
Nhưng ý định của hóa công là bất di bất dịch.
Liệu biết là giờ khốc liệt của mình đã gần đến, Thái tử lẩn trốn vào nội
điện của vua Lê, tin rằng họ Trịnh sẽ vì nể mặt nhà Vua mà cho Thái tử
được an toàn. Nhưng đó là một cái ảo tưởng. Vì Vũ Huy Đĩnh, sau khi lục
https://thuviensach.vn
soát Đông cung rất kỹ càng mà không thấy Thái tử đâu cả, liền vào thẳng
nội điện, cáo tố tội trạng của Thái tử với vua Lê, rồi tâu:
- Tôi nghe Thái tử ẩn trong điện, xin bệ hạ truyền cho Thái tử ra đây để
tôi khỏi phải làm náo động nơi ngự tẩm.
Vua Lê thừa hiểu rằng con mình vô tội, nhưng nếu cưỡng với chúng
cũng chẳng được nào, thành ra cứ dùng dằng không nỡ rời con. Thái tử vội
ra mặt khóc lậy từ cha, rồi thân xuống thềm cho Vũ Huy Đĩnh bắt, giải về
Vương phủ.
Đến trước Tĩnh đô vương, Vũ Huy Đĩnh giục chàng cởi mũ và quỳ
xuống chịu tội. Nhưng Thái tử không nghe, hằm hằm nói:
- Thí nghịch, phế lập là việc thường của Chúa tôi nhà mày. Ta đây phỏng
có tội gì? Sau này sẽ có sử xanh định liệu!
Nhưng một câu nói của Thái tử có khi nào làm chuyển một khối óc của
một bọn người mà lương tâm đã bị mù, điếc vì sự hằn thù.
Người ta cứ thi hành đúng những cơ mưu đã định sẵn.
Người ta giáng Thái tử Duy Vĩ làm thứ dân mà hạ ngục.
Người ta đặt vào ngôi Thái tử, người con thứ tư của vua Lê C ảnh Hưng
– Lê Duy Cẩn – một ông hoàng có bộ xương sống rất mềm, lại chăm ra vào
Trịnh phủ.
Tấm lòng hờn oán của Tĩnh đô vương tuy vậy vẫn chưa được thỏa mãn.
Vì xưa kia chẳng phải Thế tử Trịnh Sâm đã đứng trước Thái tử Duy Vĩ mà
thề: “Hai chúng ta tất phải có một người sống, một người chết!”
Thế tử hiện nay đã lên ngôi Chúa, quyết là không chết được rồi. Vậy kẻ
cần phải khước bỏ ra ngoài ánh sáng mặt trời, hẳn không còn ai khác là
Thái tử Duy Vĩ, tuy Duy Vĩ đã không là Thái tử nữa!
https://thuviensach.vn
Để hại Duy Vĩ, Tĩnh vương lại tìm ra được cớ thứ hai: vu cho Duy Vĩ
mật mưu với bọn gian thần là Nguyễn Lệ, Lương Giản và Vũ Bá Cảnh để
vượt ngục ra ngoài làm loạn.
Lương Giản may biết sớm, trốn thoát.
Vũ Bá Cảnh chậm chân, bị Vũ Huy Đĩnh bắt được, tra tấn đến cực hình.
Bá Cảnh không nhịn được đau, phải nhận liều là có âm mưu thật và phun
bậy ra thêm một người nữa là Điện tiền hiệu điểm, Nguyễn Lệ, tức là viên
tướng quản lĩnh đội cấm binh của Duy Vĩ khi còn làm Thái tử.
Người ta bắt Nguyễn Lệ mà tra tấn.
Lệ khẳng khái, khai:
- Thái tử là ông Vua tương lai của một nước, không có tội gì mà bị bắt
giam thì ai chẳng bất bình. Mưu cướp Thái tử ra khỏi ngục là nghĩa cử đó.
Tôi chỉ tiếc rằng không được dự vào việc này. Vả trong khi Thái tử bị giam,
đến vợ con cũng không được vào thăm thì chúng tôi phỏng còn mật mưu
được với Thái tử bằng cách nào? Nếu muốn giết tôi thì cứ giết. Hà tất phải
vu cho tôi những việc mà tôi không dự một mảy may nào cả.
Lại một lần nữa, người ta không cần phải tra cứu xem việc đó có thực
hay không.
Các quan thẩm phán vẫn là Vũ Huy Đĩnh và Hoàng Ngũ Phúc – đã tiếp
được mật lệnh phải kết án bọn Nguyễn Lệ và Vũ Bá Cảnh.
Họ cứ ngoan ngoãn mà kết án: hai người phải chịu tử hình.
Duy Vĩ cố nhiên cũng cùng một số phận với hai người trên. Nhưng vì
trọng chàng là Thái tử cũ nên cho chàng được chết một cách kín đáo, nghĩa
là đặc biệt hơn. Cho nên trong lúc Nguyễn Lệ và Vũ Bá Cảnh phải rụng
đầu, giữa những tiếng chiêng và trống om sòm trên bến Thảo Tân thì Thái
https://thuviensach.vn
tử Duy Vĩ lẳng lặng tự kết thúc đời mình bằng ba vuông lụa mỏng trong
một gian phòng tối tăm và ẩm ướt tại ngục Đề Lĩnh.
Lúc ấy vào khoảng cuối giờ Ngọ.
Cũng là lúc một tấm màn hắc ám bao phủ lên đô thành Thăng Long.
Người Việt Nam, luôn tin tưởng là có thần quyền, cho đó là một trạng
thái gây ra bởi oan hồn của Thái tử Duy Vĩ(4).
https://thuviensach.vn
Đời hay là hai cánh cửa nhà ngục
Đám mây đen đã tản dần để nhường chỗ cho hoàng hôn sắp tới.
Trên con đường tắt từ Linh Đường sang Dịch Vọng, thoáng có bốn cái
bóng người lên lủi trên đồng lúa xanh rì. Trong bốn người đó, thật ra chỉ có
một là đủ tính cách để được gọi là người, vì là một thiếu phụ, trạc ngoại ba
tuần; còn ba là những đứa trẻ măng sữa mà đứa lớn nhất chưa đầy bảy tuổi,
gay dắt một thằng bé lên năm. Đứa thứ ba thì do thiếu phụ ẵm trong lòng,
nó mới ngoài ba mươi tháng.
Thiếu phụ, cũng như ba đứa trẻ, đều bận quần áo nâu đã bạc màu.
Nhưng dưới mảnh vải thô lỗ, ngấn lên những thân hình rất đều đặn, phủ
bằng nước da trắng mịn.
Thiếu phụ tuy đã đứng tuổi, nhưng đôi môi đỏ thắm không khác gì một
vệt son mềm mại điểm trên khuôn mặt trái xoan. Mái tóc của nàng bị gió
đập mạnh, xổ ra đen nhánh và gợn lên như những làn sóng nhỏ.
Ba đứa trẻ, con thiếu phụ, đều tuấn dị hơn các trẻ thường. Nhất là đứa
lên bảy thì, thoạt trông, ai cũng biết là sẽ có một tương lại oanh liệt.
Đứa bé này, hai tai rất lớn, đôi con mắt đen và sáng, lúc nào cũng óng
ánh như hai vì sao, tiếp với cái miệng hơi rộng, hẳn có một cái cằm rất nở,
biểu lộ khối óc cương quyết và đại lượng.
Bốn người có lẽ đi đã lâu lắm. Vì trừ đứa bé được ẵm ra thì ai nấy đều bị
bùn phủ lên đến đầu gối và bước cao bước thấp, coi rất nặng nề.
Tuy không phải bận rộn về thằng bé lớn nhất nó vẫn gắng gượng bước
trên bùn lầy, nhưng thiếu phụ thỉnh thoảng vẫn phải ngừng lại để dỗ dành
thằng bé lên năm. Thằng này cứ khóc và nhất định ngồi bệt xuống đường,
kêu đau chân quá, không thể đi được.
https://thuviensach.vn
Đến cuối làng Dịch Vọng thì trời vừa tối và lất phất có mấy hạt mưa. Tự
liệu là có ép mấy đứa trẻ đi cố cũng không ích gì, thiếu phụ do dự một chút,
rồi đi rẽ vào một ngôi nhà gỗ ở gần vệ đường, phía trong nhà có ánh đèn le
lói, nàng đánh bạo gọi cổng xin vào ngủ trọ. Nhưng vừa dứt lời thì đã thấy
một ông già hấp tấp chạy ra, ông ta dẫn đường cho thiếu phụ và dắt hai đứa
trẻ vào. Ông lại thân đi lấy nước cho khách rửa chân tay, rồi mời cả lên một
cái bục cao kê ở giữa nhà, trên đặt sẵn một mâm cơm bày thức ăn la liệt.
Thấy cách tiếp rước của chủ nhân rất vồn vã và sự khoản đãi hình như
đã dự định từ trước, thiếu phụ không khỏi kinh ngạc và cố ý khước từ:
- Mẹ con tôi lỡ độ đường, được cụ cho nghỉ nhờ một đêm, cũng đã là
may mắn lắm rồi, có đâu dám phiền cụ quá như vậy!
Ông già liếc nhìn mấy đứa trẻ, rồi cung kính thưa:
- Đêm qua, tôi chiêm bao thấy thần truyền: “Phải quét dọn nhà cửa cho
sạch sẽ. Ngày mai sẽ có Vua và thái hậu đến đây”. Tôi mong suốt cả ngày
hôm nay, tuyệt nhiên không thấy một ai. Bây giờ mới có bà và ba cậu xin
vào ngủ trọ. Tôi chắc không phải họ hàng nhà Vua thì cũng là dòng dõi nhà
Chúa chứ không sai.
Thiếu phụ hơi biến sắc mặt, nhưng lại nghiêm nghị nói:
- Mộng mị xưa nay có đúng sự thực bao giờ, cụ lầm đấy. Không nên nói
quấy quá mà có khi nguy hiểm đến tính mạng.
Ông già làm thinh không đáp. Nhưng những cử chí rất thành kính của
ông sau này đủ chứng rằng lời thiếu phụ chẳng đánh đổ nổi sự tin tưởng của
ông. Ông hết sức chăm nom cho mấy đứa trẻ và tự buông màn lấy mời thiếu
phụ đi nghỉ.
Hôm sau, thiếu phụ dậy thật sớm, cáo biệt chủ nhân, rồi lại ẵm và dắt ba
con lên đường. Ông già cố giữ lại ăn cơm sớm, nhưng nàng nhất định chối
từ. Ông liền tặng vài nắm cơm với một chút đồ ăn và tiễn ra đến tận cộng.
https://thuviensach.vn
Dọc đường, chốc chốc thiếu phụ lại cúi đôi con mắt đẫm lệ xuống nhìn
nhìn hai con và nghẹn ngào thúc giục cho chúng đi thật mau lên, mặt trời
vừa đứng bóng thì mẹ con nàng đã đến Đại Phùng, một bến đò trên con
đường Sơn Tây, cách đô thành chừng bốn mươi dặm.
Thấy hai con đã mệt lử, thiếu phụ liền ghé vào một quán nước, bỏ cơm
nắm ra ăn. Nhưng nàng vừa cắt xong cơm nắm đặt lên vỉ với một chút muối
vừng thì, phía ngoài chợt có tiếng ngựa hý, xen lẫn với tiếng rầm rập của
chân người. Bất giác nàng đứng dậy, toan dắt ba con ẩn vào sau quán thì đã
có hàng trăm tên lính nón dấu, áo nẹp đổ xô vào, vây bọc lấy mẹ con nàng.
Từ đám đông đó, một viên tướng tiến lên, vái chào thiếu phụ thưa:
- Thần được lệnh của Chúa thượng đi thỉnh lệnh bà và các hoàng tôn về
an trí ở kinh thành, xin lệnh bà mau mau lên võng để thần khỏi phải làm trái
với đạo thần tử.
Nước da đang trắng nõn bỗng đổi sang tái nhợt, thiếu phụ đứng trơ như
một khúc gỗ, giữa mấy đứa trẻ níu chặt lấy áo mẹ nó để cầu sự che trở trước
một bọn người mà chúng không hề quen biết bao giờ. Song hình như lại
định thần được ngay, thiếu phụ đáp lại những câu thúc giục của viên tướng
bằng một cái gật đầu. Tiếp, lẳng lặng nàng dắt con ra đặt lên một cái võng
mà người ta đã dựng ở cửa tự lúc nào, chính nàng cũng không được biết.
Bắt được mẹ con thiếu phụ rồi, Vũ Huy Đĩnh (tên viên tướng) vui vẻ
nhảy lên mình ngựa, hộ quân kéo thẳng lên Sơn Tây. Trên võng thiếu phụ
vẫn thản nhiên vuốt ve ba con. Nhưng chúng thấy phu khiêng võng đi lanh
như gió cuốn thì kinh sợ, hỏi mẹ:
- Họ đưa chúng ta đi đâu mà vội vàng thế hả mẹ?
Thiếu phụ ung dung đáp:
- Xuống âm phủ để xum họp với cha các con đấy!
https://thuviensach.vn
Đứa lớn nhất hiểu thấu câu ấy nên mặt thoáng có vẻ buồn. Trái lại, thằng
bé lên năm tưởng là lời nói ngay thật thì vỗ tay reo:
- Được thế thì còn gì vui hơn nữa, mẹ nhỉ!
Thiếu phụ gật đầu, trong khóe mắt rân rấn ra hai giọt lệ.
Ngay ngày hôm ấy, cả bọn cùng tới trấn lỵ Sơn Tây. Nhưng cái danh
phận của tội nhân có lẽ khí quá lớn, không xứng với cái uy quyền khí nhỏ
quá của viên Hiến sát sứ Trấn Đoài, nên người ta lại do con đường cũ mà
giải mẹ con thiếu phụ về Thăng Long.
Tới đô thành, Vũ Huy Đĩnh đưa thẳng tội nhân đến ngục Đề Lĩnh mà
giam vào một gian phòng ẩm ướt và tối tăm, gian phòng mới bỏ rỗi được
hai ngày, vì chủ nhân cũ của nó vừa chịu tử hình.
Trước khi trở về Trịnh phủ để phục mệnh Tĩnh đô vương, Huy Dĩnh còn
dõng dạc truyền bảo giám ngục quan:
- Phải canh phòng cẩn mật, nghe không? Chúng toàn là những tử tù cả
đấy!
https://thuviensach.vn
Từ nhà ngục đến nhà Vàng
Hai tiếng “tử tù” thốt ra từ miệng Quận Đĩnh bất giác làm cho thiếu phụ
rùng mình. Nàng hình dung nó là một chén thuốc độc hay ba vuông lụa
mỏng đã kết liễu biết bao cuộc đời lỗi lạc, trong những buồng ngục ẩm thấp
ở Bắc Hà.
Nàng không sợ chết, nếu cái chết chỉ là món quà để tặng riêng nàng. Vì,
chết đối với nàng là trút bỏ tất cả những nỗi đau khổ âm thầm, là sang một
thế giới vô hình để sum họp với người, vì Tiên Dung Quận chúa xấu số đã
nhường cho nàng được nâng khăn sửa túi.
Nhưng nàng vẫn hết sức lẩn trốn cái chết không phải vì nàng mà vì ba
đứa trẻ - ba khối thịt trong là máu nàng hòa lẫn với máu của Thái tử Duy
Vĩ.
Thiếu phụ mà các Ngài đã nhận ra là Lê Hoàng phi, vợ Thái tử Duy Vĩ –
lợi dụng lúc bầu trời u ám, dắt theo ba con lên Sơn Tây, định gửi gấp cho
một người thân. Nhưng không may, mẹ con Hoàng phi bị Quận Dĩnh đuổi
bắt được ở dọc đường.
Bắt, tức là chết.
Cái ý nghĩ Thái tử sẽ bị tuyệt tự, đối với Hoàng phi đã là một mối đau
khổ vô cùng. Nhưng còn có điều đau khổ hơn nữa, điều đó làm cho Hoàng
phi đứt từng khúc ruột là chẳng chóng thì chầy người ta sẽ mang ba đứa trẻ
ra hành hình. Hoàng phi sẽ phải chứng kiến cho bọn ngục tốt rằn ba đứa trẻ
ra mà đổ thuốc độc vào miệng chúng, cũng như người ta đã từng ép đổ cho
những tội nhân không đủ can đảm nâng lấy chén thuốc độc để tự kết liễu
đời mình.
https://thuviensach.vn
Ba đứa trẻ sẽ khóc và giẫy giụa, nhưng cái thân hình yếu ớt của chúng
không khi nào chống nổi được những cánh tay vạm vỡ của bọn ngục tốt đã
thông thạo về nghề này.
Thuốc độc sẽ ngấm vào phủ tạng của ba đứa trẻ.
Da chúng tái dần đi.
Các khiếu của chúng ứa máu tươi ra.
Chúng quằn quại nhưng những con rắn bị thương.
Mắt chúng trợn ngược lên.
Chúng tắt nghỉ.
Nghĩ đến đây Hoàng phi không còn đủ can đảm để tự kiềm chế nữa. Bà
hét lên một tiếng, rồi ngất đi. Đứa bé nhất trong ba đứa trẻ giật mình, cũng
òa lên khóc. Hai đứa lớn thấy mẹ nó nằm trơ ra như khúc gỗ thì sợ hãi, kêu
cứu rầm lên. Bọn ngục tốt vội chạy vào, kẻ giựt tóc mai, người đổ nước
gừng. Hồi lâu, Hoàng phi tỉnh lại, nhưng từ đó, mỗi lần nhà ngục có tiếng
động lại làm cho Hoàng phi sợ đến thất thần, tưởng lầm là người ta đã đến
đưa con bà vào cõi chết.
Sự sợ hãi, khi đã không đủ sức mạnh để giết những người mà nó hành
hạ, thường lại bắt thói quen với những người ấy mà tặng cho họ một đức
tính mới là khinh sống hoặc cũng gọi là liều.
Lê Hoàng phi, vì liều nên ao ước được chết một cách chóng vánh để
khỏi phải chịu cái sống đầy ải ở ngục thất là một lối chết thong thả và âm
thầm.
Ba con trai của Hoàng phi – Lê Duy Khiêm, Lê Duy Tự(1) và Lê Duy
Chỉ - kết tinh bằng những giọt máu tôn quý nhất trong nước, cũng phải chia
với mẹ chúng một số phận hẩm hiu. Nhất là Duy Khiêm, đứa trẻ đã có đôi
https://thuviensach.vn
chút trí khôn thì ngoài cái đau khổ về bản thân mình, lại càng đau khổ hơn
nữa, khi thấy mẹ nó rầu rĩ suốt ngày, vì thương chồng chết oan uổng, và
thương con sống đầy đọa.
Tuy nhiên, thời gian vẫn giúp cho ba đứa trẻ khôn lớn. Nhưng trong lúc
ở bên ngoài, không biết bao nhiêu đứa trẻ khác gọi là hèn kém, được học
hành và chạy nhảy tự do trong bầu không khí rộng rãi là của chung muôn
vật thì ba đứa cháu nội của một ông Vua đương trị vì – Vua Cảnh Hưng –
phải ngồi co ro bên cạnh mẹ nó, trong một gian buồng chật hẹp và thở hút
những mùi hôi hám và ẩm ướt từ những cánh cửa và cột gỗ mục nát bốc ra.
Chúng không được trông thấy gì khác là những xiềng xích hoen rỉ và bộ
mặt hốc hác của các tội nhân.
Chúng không được nghe gì khác là những tiếng kêu não ruột của những
con dế cô quạnh ẩn trong chân tường.
Hàng ngày, người ta nhồi nhét cho chúng vài nắm cơm mà vôi với đá sỏi
vẫn chiếm số nhiều hơn là gạo nguyên chất của nhà trời.
Thế giới của chúng là nhà ngục.
Nhãn giới của chúng không bao giờ được ra khỏi cái phạm vi chật hẹp
ấy.
Khi có ánh mặt trời xuyên qua khe cửa mà chiếu vào tận chúng thì
chúng biết là ngày.
Khi buồng ngục bỗng tối sầm lại thì chúng bảo là đêm.
Chúng không biết có tháng năm.
Chỉ khi nào – khi ấy cách xa nhau lắm – phía ngoài có tiếng pháo nổ rồn
rã thì mẹ chúng lại nhắc cho chúng biết rằng đời chúng đã tăng lên một tuổi
rồi.
https://thuviensach.vn
Từ khi chúng bị giam, thấm thoắt đã mười lần pháo nổ, nghĩa là đã mười
năm. Duy Khiêm đã gần đến tuổi trưởng thành; chàng mười bảy, Duy Tự,
mười năm; Duy Chỉ, mười ba.
Lê Hoàng phi chú ý nhìn ba con, thấy chúng càng lớn, diện mạo càng
tuấn tú, khác hẳn mọi người, bất giác thở dài. Bà nghĩ đến những đứa trẻ
rạng rũa như thế, nếu được ra khỏi nhà ngục thì dù không được theo dòng
máu của cha chúng mà lên ngôi hoàng đế chăng nữa thì chúng cũng có thể
tự làm được đến công hầu.
Nhưng ngày ra khỏi ngục là ngày nào?
Hoàng phi chờ nó đã mười năm.
Bà tin rằng sẽ phải chờ nó mười, hai mươi năm nữa và có lẽ suốt đời.
Tóm lại, ngày ấy sẽ không bao giờ đến.
Bà ôm mặt khóc, theo lệ thường, ba con trai xúm lại khuyên giải mẹ
chúng và tặng cho bà một thang thuốc hồi sinh là hy vọng vào tương lai.
Nhưng điều chúng mong mỏi, lần này đến thật.
Vì phía ngoài, chợt có tiếng ồn ào, tiếp đập phá cửa ngục dữ dội. Tiếng
đập phá vừa im thì có hàng trăm, nghìn người áo xanh, áo đỏ rất sặc sỡ đổ
xô vào sân ngục, tản ra, đi lục lọi khắp mọi nơi.
Một người trong bọn họ tình cờ phá được cửa phòng của Lê Hoàng phi,
hắn trông vào, thấy anh em Duy Khiêm thì lớn tiếng reo:
- Anh em ơi! Hoàng tôn đây rồi!
Cả bọn liền xô đến gian phòng này. Rồi người dắt hoàng phi, kẻ cõng
Duy Khiêm, Duy Tự và Duy Chỉ. Họ tỏ ra vui mừng và hò reo như sấm
động mà kéo thẳng vào Hoàng thành. Tới điện Vạn Thọ, anh em Duy
Khiêm đã thấy ông nội mình là vua Lê Cảnh Hưng – một ông già mà mười
https://thuviensach.vn
năm cách biệt đã làm cho đầu hói và trán nhiều nếp nhăn thêm – đứng đón
ở trước thềm.
Nhà Vua mừng rỡ vuốt ve cháu.
Tiếp, đến cả hoàng tộc quây quần lại hỏi han anh em Duy Khiêm.
Bức phông đời của ba cậu bé này, từ chỗ tối tăm của nhà nhục, chỉ trong
chớp mắt đã đổi sang một nơi mà đồ trang sức đều là vàng, son, gấm, vóc.
https://thuviensach.vn
Kiêu binh nổi loạn
Anh em Lê Duy Khiêm được thoát khỏi cái đời u tối ở nơi ngục thất mà
trở về ánh sáng mặt trời là do tình cờ. Nhưng chỉ là tình cờ nhỏ bị bao hàm
trong một tình cờ lớn nó đã đẩy nước Việt Nam vào một cuộc loạn ly ròng
rã tới một phần tư thế kỷ.
Đầu mối của nó là cuộc đảo chính mà người đương thời gọi là “loạn
kiêu binh”.
Kiêu binh chính tên là ưu binh, hoặc cũng gọi là “lính Tam phủ” là hạng
lính được ưu đãi hơn lính các nơi khác (các trấn), vì chúng là lính mộ ở hai
xứ Thanh, Nghệ, nơi phát tích của hai họ Trịnh và Lê. Vì hai xứ này đã có
công lớn trong việc phục hưng và sáng nghiệp của vua Lê và Chúa Trịnh,
nên lính hai xứ ấy được coi như chân tay của nhà Vua và nhà Chúa.
Ưu binh được bổng hậu hơn lính các trấn. Số công điền mà họ được
hưởng cũng nhiều hơn. Và, trong lúc lính cách trấn phải đi “thú” nghĩa là
lên đóng ở các tỉnh thượng du để chịu cái khổ lam sơn chướng khí và
Chặt tre đẵn gỗ trên ngàn,
Hữu thân hữu khổ, phàn nàn cùng ai.
Thì ưu binh được sống một đời nhàn nhã ở Thăng Long, công việc hàng
ngày của họ không có gì nặng nhọc hơn là canh giữ các điện Vua và phủ
Chúa.
Lính Tam phủ cũng như hầu hết các quân nhân khác thường là thất học.
Khi được ưu đãi như vậy thì không những chúng không hiểu là một cái ơn
riêng, cần phải dè dặt mà chúng lại còn trở nên kiêu căng, không coi ai ra gì
cả.
https://thuviensach.vn
Dân Bắc Hà vì ghét lính Tam phủ nên đặt cho chúng một tên chung là
kiêu binh.
Vì được nhàn rỗi nên kiêu binh thường họp nhau ở ngoài phố mà uống
rượu và chòng ghẹo đàn bà con gái. Túng tiền thì chúng đi cướp phá của
các nhà bình dân.
Quan lại, hãn hoặc có người nghĩ cách trừng trị chúng thì chúng dọa
giết, phá nhà.
Về đời Tây vương Trịnh Tạc, hai quan Tham tụng (tể tướng) là Phạm
Công Trứ và Nguyễn Quốc Trinh mật xin với Chúa Trịnh đàn áp bọn kiêu
binh. Chúng nghe biết, liền kéo đến phá nhà hai ông này. Nguyễn Quốc
Trinh bị chúng giết chết, Phạm Công Trứ máy trốn thoát.
Tây vương tra ra việc này, liền mang mấy tên thủ xướng ra chém, nên
bọn kiêu binh từ đấy mới chịu nhụt đi chút đỉnh.
Đến đời Ân vương Trịnh Doanh, kiêu binh lại phá nhà quan Tham tụng
là Nguyễn Công Thái. Chúng lại bị trừng phạt rất nghiêm. Nhưng đến cuối
đời Tĩnh vương Trịnh Sâm thì chính sự của Vua và Chúa đều đổ nát quá rồi.
Vua Chúa yếu, lẽ tự nhiên là kiêu binh lại mạnh. Nhưng lính Tam phủ có
lẽ cũng chưa thành một mối họa lớn cho Bắc Hà, nếu không có một cuộc
tranh giành rất khốc hại xảy ra ở ngay trong nội bộ nhà Chúa.
Nguyên khi về già, Tĩnh vương rất say mê một người vợ lẽ tên là Đặng
Thị Huệ, tục gọi là “bà Chúa Chè”. Vương tuy đã có một con trai lớn là
Trịnh Khải, nhưng vì ghét Khải là con vợ cả nên không lập làm Thế tử, mà
định truyền ngôi cho con trai Thị Huệ là Trịnh Cán, một đứa trẻ quặt quẹo
ngày từ lúc mới đẻ và không thuốc thang nào chữa được.
Thị Huệ muốn có vây cánh trong chính phủ nên liên lạc với tước Huy
quận công là Hoàng Tố Lý, một đại thần được Sâm rất tin dùng.
https://thuviensach.vn
Trong lúc Tĩnh vương yếu nặng, Trịnh Khải xin vào thăm, nội giám –
theo lệnh của Huy quận – nhất định không cho vào, Khải buồn bực quay về,
mang cái khổ tâm của mình nói ra với bọn gia thần là Thế Vũ, Thẩ...
Bánh xe khứ quốc
Phan Trần Chúc
Chia sẻ ebook: http://downloadsach.com
Follow us on Facebook: https://facebook.com/caphebuoitoi
https://thuviensach.vn
Table of Contents
Kinh thành mây phủ
Thái tử Duy Vĩ
Đời hay là hai cánh cửa nhà ngục
Từ nhà ngục đến nhà Vàng
Kiêu binh nổi loạn
Quyền của mạch máu
Đoan Nam vương moi ruột tự sát
Những cái vinh và cái lụy của chiếc ngai vàng hoàng đế
Cờ đến tay
Yến đô vương
Chức và quyền
Cống chỉnh ra trò
Chim bằng cất cánh
Bằng bay về trời
Đời luân lạc
Kim, chỉ cũng phong trần
Nghĩa và lợi
Giấc mộng con
https://thuviensach.vn
Mái tóc của Lê Quýnh
Trong và ngoài nước
Khối hận không tan
MỤC LỤC
https://thuviensach.vn
Kinh thành mây phủ
Ngày 20 tháng Chạp năm Tân Mão(1).
Thành Thăng Long, sau những ngày hiu quạnh của tiết Đại hàn, như vừa
được khoác một tấm áo mới, dưới những ánh nắng mặt trời êm dịu.
Trên làn cỏ non liên tiếp, không khác một dải lụa màu hoa lý viền lấy hồ
Hoàn Kiếm, dân đô thành đua nhau ra hưởng vội vàng lấy cái khí ấp áp là
vật mà về mùa giá lạnh, hóa công vẫn tỏ ra dè dặt, mỗi khi cần phải ban
pháp nó cho muôn loài.
Sau quán Vọng Tiên cũng như trước các phố Hàng Khay và Hàng Bạc,
có hàng trăm đứa trẻ, mình trần như nhộng, tụ vào một chỗ chơi nhảy “vô”
hoặc “ú tim, ú òa”.
Nước da bánh mật của chúng phản chiếu lại ánh mặt trời, cũng óng ánh
như những hòn ngói tráng men trên nóc chùa Ngọc Sơn, một tòa lâu đài mà
khách du có cái cảm tưởng như nổi lềnh bềnh trên mặt nước, những lúc mặt
hồ gợn sóng. Cạnh chúng, là một bọn dân nghèo công nhiên phơi cái cảnh
cùng túng của họ giữa nơi đô hội nhất của thành Thăng Long. Họ trút bỏ
tấm áo mã khoa nâu đã biến sắc xuống cỏ mà bắt rận hoặc khâu vá lại
những lỗ thủng là di tích của đời lao khổ và thời gian.
Dưới hồ, kẻ tắm, người gội, đàn ông và đàn bà thích cánh nhau mà
không chút e ngại hoặc sượng sùng, vì không ai có mục đích gì khác là nhờ
giọt nước hồ Gươm để trút bỏ những cái dơ bẩn bám vào người mình. Câu
“nam nữ thụ thụ bất thân” của ông Mạnh thực ra chỉ đáng nêu nên ở những
gia đình đài các và phong lưu, nơi người ta có dư thì giờ để nghĩ đến những
chuyện vẩn vơ vì họ không phải bận rộn gì về sinh kế.
https://thuviensach.vn
Ven hồ, trên những cầu tre có nhiều bậc mà bậc sau cùng là bắc là là
ngay trên mặt nước, người ta tranh nhau giặt giũ: nào quần, nào áo, nào
chăn, nào màn. Tiếp, họ phơi tất cả ngần ấy thứ lên bãi cỏ hoặc cành cây.
Buổi nắng mới vô tình rốc ra bờ hồ tất cả những cái nhơ bẩn mà thành
Thăng Long đã phải chứa chất một cách nhẫn nhục trong những ngày mưa
rét.
Trong các phố phường, vẻ náo nhiệt lại còn rõ rệt hơn nữa.
Tại các chợ Đồng Xuân và Báo Thiên, kẻ mua, người bán, tuy đã quá
Ngọ, vẫn không ngớt. Những đống bùn lớn trên mặt đường dần dần sẽ lại,
tiếp khô hẳn, nhờ ánh nắng mặt trời và sự giày đạp của chân người. Công
chúng qua lại thỉnh thoảng lại kính cẩn dãn ra hai bên lề đường để nhường
lối cho những cỗ kiệu sơn son của các quan Tham, Chưởng… hoặc những
chiếc võng màu cánh gián của các vị phu nhân. Vì gần gũi với Triều đường
và Phủ liêu, dân đô thành vẫn tự hào với người các Trấn là họ có thể phân
biệt được phẩm cấp của các quan văn võ, do theo nước sơn trên kiệu, võng
của các vị ấy.
Trong lúc mọi người mải miết lăn lưng vào một cuộc náo nhiệt mà thời
tiết vừa làm cho đình trệ thì từ phương Đông, chân trời bỗng vẩn lên một
đám mây đen. Đám mây đó không khác gì một vết dầu loang, lan rất mau
khắp da trời. Người ta đoán là trời sắp đổ mưa nên người lo thu những đồ
vật phơi phóng ở sân vào, kẻ rảo bước về nhà hoặc tìm chỗ ẩn tránh. Chỉ
trong chớp mắt, sự hoạt động của thành Thăng Long lại bị đình hẳn như
chiếc máy đồng hồ, vì hết dây cót mà đứng dừng lại.
Người ta đoán lầm.
Đám mây, đáng lẽ phải đổi thành nước mưa mà dội xuống Long thành,
nhưng nó vẫn cứ bám sát vào da trời, mỗi phút một dày đặc mãi ra. Lâu dần
mặt trời bị phủ kín hẳn, thậm chí hai người không nhận được mặt nhau, tuy
chỉ đứng cách nhau có vài bước. Các nhà giàu sợ quân gian thừa cơ lẻn vào
https://thuviensach.vn
trộm cắp, phải vội vã thắp đèn. Bọn sai dịch lo chậm trễ việc công cũng bắt
buộc phải đốt đuốc mà đi ngoài đường phố.
Đô thành bỗng chốc đã hiện ra các cảnh tượng đêm ba mươi tết.
Trước một trạng thái phi thường như vậy, công chúng không thể không
tự hỏi: tại sao?
Phải, tại sao trời đương nắng ráo phút đổi ra tối sầm?
Tại sao giữa trưa ngày hai mươi tháng Chạp mà mịt mù như lúc giao
thừa?
Rồi trong lúc mỗi người tự đào óc để tìm lấy một câu trả lời cũng kỳ
quái chẳng kém gì cái hiện tượng nói trên thì, từ ngục Đề lĩnh, một cậu lính
Thiết đột hốt hoảng chạy ra, báo nhỏ với người bạn của hắn là lính Túc vệ
đứng canh ở cửa Đại Hưng:
- Đức ông Hoàng Trừ bị hại rồi!
Hắn lại dặn thêm:
- “Việc quốc gia bí mật” anh nên biết một mình thôi, chớ nói lại với ai
mà rụng đầu đấy!
Nhưng hắn vừa đi khỏi thì cậu Túc vệ đã lặp lại với một bọn chừng
người cậu Túc vệ khác, từ trong thành ngất ngưởng đi ra.
- Các anh có biết không? Đức ông Hoàng Trừ bị hại rồi! “Việc quốc gia
bí mật”, các anh nên biết một mình thôi, chớ nói lại với ai mà rụng đầu đấy!
Rồi, từ mười người này truyền sang một trăm, tiếp một ngàn người
khác, việc mà cậu lính Thiết đột gọi là “quốc gia bí mật”, chỉ trong khoảnh
khắc, đã do con đường “cửa miệng” của công chúng mà lan ra khắp thành
Thăng Long.
https://thuviensach.vn
Một vài kẻ khác cũng giàu trí tưởng tượng như tấm lòng mê tín, lại phê
bình thêm với một giọng nói ngọt ngào:
- Đó là báo ứng của oan hồn đức ông đấy!
https://thuviensach.vn
Thái tử Duy Vĩ
Tại sao cái chết của một người – dù là chết oan và chết lối “bất đắc kỳ
tử” – đã được công chúng tin rằng có ảnh hưởng và gây ra một trạng thái
phi thường trong vũ trụ!
Muốn trả lời câu trên này, trước hết các bạn phải biết qua thân thế của
Đức ông Hoàng Trừ và địa vị Đức ông trên lịch sử Việt Nam giữa thế kỷ
XVIII.
Người mà công chúng quen gọi là Đức ông Hoàng Trừ tên thật là Lê
Duy Vĩ, con trưởng vua Lê Cảnh Hưng, hiện giữ ngôi Trừ Nhị(1) ở Bắc Hà.
Duy Vĩ vẻ người tuấn nhã và thông minh rất sớm. Tuy đã được kén làm
Thái tử, nghĩa là nắm vững cái phú quý trong tay, nhưng không đêm nào
chàng không đọc sách và thân yêu kẻ sĩ, cho nên trong nước, ai cũng kính
trọng và tin rằng tiền đồ của nước Nam sẽ ở trong tay một ông Vua minh
mẫn.
Minh đô vương phi là Nguyễn Thị Ngọc Vinh cũng mến tài đức của
Thái tử nên bàn với chồng, mang con gái yêu là Tiên Dung Quận chúa, gọi
gả cho chàng, để giữ trước cho con gái mình ngôi “mẫu nghi thiên hạ”.
Quận chúa có cái sắc đẹp thùy mị, lại học rộng và rất giỏi về văn thơ,
đính hôn với Thái tử tưởng không còn gì xứng đáng hơn nữa. Song hóa
công hình như hối hận là nếu đãi đôi thiếu niên mày một cách quá hậu, sẽ
mang tiếng bất công với muôn loài nên đã dành cho họ một cái kết quả rất
cay độc để giữ thế tương đương với những cái ân huệ mà họ được hưởng,
khi mới bước chân vào cuộc thế.
Nguyên, ngoài Tiên Dung Quận chúa ra, Minh đô vương còn có một
người con trai lớn (khác mẹ) tên là Trịnh Sâm. Sâm được lập làm Thế tử(2),
https://thuviensach.vn
cũng là tay văn võ kiêm toàn, nhưng tiếc rằng độ lượng khí hẹp hòi. Chàng
thấy Thái tử có tài mạo chẳng kém gì mình mà được vợ chồng Minh đô
vương biệt đãi thì có ý ghen tức.
Một hôm, nhân Trịnh phủ có yến, Vương phi cho đặt một mâm cỗ ở sập
trên, chiếu trải năm trùng để dành riêng cho Thái tử. Còn Thế tử thì phải
ngồi sập dưới, chiếu trải có ba trùng.
Khi vào tiệc, Thế tử vô tình ngồi cùng với Thái tử một mâm. Nguyễn
vương phi chợt đến, tỏ ý không bằng lòng dụ bảo hai người:
- Thái tử với Thế tử, tình là anh em, nhưng nghĩa là Vua tôi. Tuy ở trong
gia đình cũng không nên bỏ lễ tôn ti trật tự.
Tiếp, Vương phi bắt Thế tử ngồi xuống chiếu dưới mà không tìm lấy
một lời yên ủy.
Cử chỉ đột ngột đó làm cho Trịnh Sâm hổ thẹn không biết ngần nào. Rồi
từ hổ thẹn đổi sang oán giận, chỉ trong có một bước: suốt bữa ấy, Sâm
không ăn uống gì cả, chỉ nghĩ cách ám hại Thái tử.
Tan tiệc, Thái tử và Thế tử cùng ra về, tới cửa phủ, Sâm ngăn Thái tử
lại, rút một đôi đũa bạc thủ sẵn trong tay áo ra bẻ làm đôi nói:
- Hai chúng ta tất phải có một người sống, một người chết. Vua ấy với
Chúa này quyết không thể cùng đứng với nhau được!
Thái tử mỉm cười, gạt tay Sâm ra, lên kiệu tiến thẳng về cung nên cuộc
xung đột của hai người, Minh đô vương và cho cả đến Nguyễn vương phi
nữa, cũng không nghe biết.
Tại sau Duy Vĩ lại đáp lại sự khiêu khích của Trịnh Sâm bằng thái độ
yên lặng, trong không khỏi có ý khinh bỉ?
Giản dị lắm.
https://thuviensach.vn
Thái tử đã là người thông minh, bác học, tất không quên được việc Trịnh
Tùng giết vua Lê Kính Tông, Trịnh Giang hại Lê đế Duy Phương và gần
đây hơn hơn hết, Trịnh Doanh vô cố truất vua Lê Ý Tông, ấy là chưa kể bao
nhiêu lần khác nữa, họ Trịnh đã tự ý bỏ và lập các vua Lê, không luận gì
đến lễ nghĩa Vua tôi và lòng mong mỏi của sĩ phu trong nước.
Họ Trịnh có cả thiên hạ mà vua Lê chỉ được hưởng lộc của một nghìn
làng. Họ Trịnh chiếm đoạt cả chính quyền lẫn binh quyền; vua Lê chỉ được
giữ năm nghìn lính Túc vệ để canh giữ các cung điện.
Họ Trịnh là một quyền thần, nối đời ức hiếp nhà Vua .
Trái lại, vua Lê không khác một pho tượng gỗ, giương đôi mắt bất lực
nhìn cái thế lực điêu tàn của nhà mình bị chìm đắm dần vào cõi tiêu diệt.
Duy Vĩ oán họ Trịnh.
Nhưng chàng cũng tự biết rằng cái sức bạc nhược của nhà Lê lúc này,
chăng đủ trừ được một con hổ dữ mà thời gian đã nuôi cho béo và khỏe vô
cùng.
Chàng trông cậy vào tương lai.
Chàng kết giao với sĩ phu trong nước, hy vọng là sau này sẽ nhờ cái lực
lượng của họ để lật đổ chiếc vai cầy mà nhà Lê phải đeo đẳng đã trên hai
thế kỷ.
Duy Vĩ có trí lớn.
Chí ấy không phải Minh đô vương không biết. Nhưng giữa Vương và
Thái tử, có tình bố vợ con rể nên tuy biết mà Vương vẫn làm ngơ. Không
may cuộc hôn nhân chưa kịp thực hiện thì Tiên Dung Quận chúa qua đời.
Giọt lệ khóc ý trung nhân của Thái tử chưa ráo thì lại tiếp đến Minh đô
vương băng hà. Thế là cái cầu nối hai họ Lê và Trịnh bắc chưa xong đã bị
đổ ngổn ngang bỏ lại giữa nhà Chúa và nhà Vua một cái vực sâu thẳm.
https://thuviensach.vn
Trịnh Sâm được thay cha lên làm Chúa Bắc Hà, lấy hiêu là Tĩnh đô
vương.
Tĩnh vương không quên câu đe dọa hồi còn ở ngôi Thế tử.
Nhưng mấy năm đầu, Vương sở dĩ còn dùi dẳng là vì truất bỏ một vị
Thái tử không dễ như cách chức một tên nội giám trong cung; cần phải có
một cớ - dù chính đáng hay không cũng được – để thân minh với quốc dân.
Sau rốt, Tĩnh vương tìm được một cớ là vu cho Thái tử thông gian với
những phi tần của cha mình.
Không luận rằng cái cớ “tổ truyền”(3) ấy công chúng có chịu nuốt trôi
hay không. Tĩnh vương cũng cứ sai hai viên quan hoạn thân tín là Vũ Huy
Đĩnh và Hoàng Ngũ Phúc vào nội điện bắt Thái tử hạ ngục.
Người ta sẽ chê Thái tử là chất thực quá, nếu chàng không đoán biết là
sẽ có một cái vạ tày đình từ Trịnh phủ gieo xuống thân mình mà liệu cách
đề phòng.
Có, Thái tử đã đoán biết cả. Vì đoán biết nên chàng thận trọng từng ly,
từng tý, khiến cho Tĩnh vương tuy tốn công dò xét mà không bắt được
chàng làm một việc gì trái với pháp luật hay luân thường.
Vua Lê cũng hết mực lo lắng cho con. Nhất là từ hồi trong giếng Tam
sơn ở sau điện có tiếng nhưng tiếng sấm nổi lên thì nhà Vua lại càng tin
rằng tất có biến cố xảy ra, nên cho cầu đảo suốt đêm ngày, hy vọng là
thượng đế sẽ thấu tấm lòng thành của nhà Vua mà cho họ Lê được tai qua
nạn khỏi.
Nhưng ý định của hóa công là bất di bất dịch.
Liệu biết là giờ khốc liệt của mình đã gần đến, Thái tử lẩn trốn vào nội
điện của vua Lê, tin rằng họ Trịnh sẽ vì nể mặt nhà Vua mà cho Thái tử
được an toàn. Nhưng đó là một cái ảo tưởng. Vì Vũ Huy Đĩnh, sau khi lục
https://thuviensach.vn
soát Đông cung rất kỹ càng mà không thấy Thái tử đâu cả, liền vào thẳng
nội điện, cáo tố tội trạng của Thái tử với vua Lê, rồi tâu:
- Tôi nghe Thái tử ẩn trong điện, xin bệ hạ truyền cho Thái tử ra đây để
tôi khỏi phải làm náo động nơi ngự tẩm.
Vua Lê thừa hiểu rằng con mình vô tội, nhưng nếu cưỡng với chúng
cũng chẳng được nào, thành ra cứ dùng dằng không nỡ rời con. Thái tử vội
ra mặt khóc lậy từ cha, rồi thân xuống thềm cho Vũ Huy Đĩnh bắt, giải về
Vương phủ.
Đến trước Tĩnh đô vương, Vũ Huy Đĩnh giục chàng cởi mũ và quỳ
xuống chịu tội. Nhưng Thái tử không nghe, hằm hằm nói:
- Thí nghịch, phế lập là việc thường của Chúa tôi nhà mày. Ta đây phỏng
có tội gì? Sau này sẽ có sử xanh định liệu!
Nhưng một câu nói của Thái tử có khi nào làm chuyển một khối óc của
một bọn người mà lương tâm đã bị mù, điếc vì sự hằn thù.
Người ta cứ thi hành đúng những cơ mưu đã định sẵn.
Người ta giáng Thái tử Duy Vĩ làm thứ dân mà hạ ngục.
Người ta đặt vào ngôi Thái tử, người con thứ tư của vua Lê C ảnh Hưng
– Lê Duy Cẩn – một ông hoàng có bộ xương sống rất mềm, lại chăm ra vào
Trịnh phủ.
Tấm lòng hờn oán của Tĩnh đô vương tuy vậy vẫn chưa được thỏa mãn.
Vì xưa kia chẳng phải Thế tử Trịnh Sâm đã đứng trước Thái tử Duy Vĩ mà
thề: “Hai chúng ta tất phải có một người sống, một người chết!”
Thế tử hiện nay đã lên ngôi Chúa, quyết là không chết được rồi. Vậy kẻ
cần phải khước bỏ ra ngoài ánh sáng mặt trời, hẳn không còn ai khác là
Thái tử Duy Vĩ, tuy Duy Vĩ đã không là Thái tử nữa!
https://thuviensach.vn
Để hại Duy Vĩ, Tĩnh vương lại tìm ra được cớ thứ hai: vu cho Duy Vĩ
mật mưu với bọn gian thần là Nguyễn Lệ, Lương Giản và Vũ Bá Cảnh để
vượt ngục ra ngoài làm loạn.
Lương Giản may biết sớm, trốn thoát.
Vũ Bá Cảnh chậm chân, bị Vũ Huy Đĩnh bắt được, tra tấn đến cực hình.
Bá Cảnh không nhịn được đau, phải nhận liều là có âm mưu thật và phun
bậy ra thêm một người nữa là Điện tiền hiệu điểm, Nguyễn Lệ, tức là viên
tướng quản lĩnh đội cấm binh của Duy Vĩ khi còn làm Thái tử.
Người ta bắt Nguyễn Lệ mà tra tấn.
Lệ khẳng khái, khai:
- Thái tử là ông Vua tương lai của một nước, không có tội gì mà bị bắt
giam thì ai chẳng bất bình. Mưu cướp Thái tử ra khỏi ngục là nghĩa cử đó.
Tôi chỉ tiếc rằng không được dự vào việc này. Vả trong khi Thái tử bị giam,
đến vợ con cũng không được vào thăm thì chúng tôi phỏng còn mật mưu
được với Thái tử bằng cách nào? Nếu muốn giết tôi thì cứ giết. Hà tất phải
vu cho tôi những việc mà tôi không dự một mảy may nào cả.
Lại một lần nữa, người ta không cần phải tra cứu xem việc đó có thực
hay không.
Các quan thẩm phán vẫn là Vũ Huy Đĩnh và Hoàng Ngũ Phúc – đã tiếp
được mật lệnh phải kết án bọn Nguyễn Lệ và Vũ Bá Cảnh.
Họ cứ ngoan ngoãn mà kết án: hai người phải chịu tử hình.
Duy Vĩ cố nhiên cũng cùng một số phận với hai người trên. Nhưng vì
trọng chàng là Thái tử cũ nên cho chàng được chết một cách kín đáo, nghĩa
là đặc biệt hơn. Cho nên trong lúc Nguyễn Lệ và Vũ Bá Cảnh phải rụng
đầu, giữa những tiếng chiêng và trống om sòm trên bến Thảo Tân thì Thái
https://thuviensach.vn
tử Duy Vĩ lẳng lặng tự kết thúc đời mình bằng ba vuông lụa mỏng trong
một gian phòng tối tăm và ẩm ướt tại ngục Đề Lĩnh.
Lúc ấy vào khoảng cuối giờ Ngọ.
Cũng là lúc một tấm màn hắc ám bao phủ lên đô thành Thăng Long.
Người Việt Nam, luôn tin tưởng là có thần quyền, cho đó là một trạng
thái gây ra bởi oan hồn của Thái tử Duy Vĩ(4).
https://thuviensach.vn
Đời hay là hai cánh cửa nhà ngục
Đám mây đen đã tản dần để nhường chỗ cho hoàng hôn sắp tới.
Trên con đường tắt từ Linh Đường sang Dịch Vọng, thoáng có bốn cái
bóng người lên lủi trên đồng lúa xanh rì. Trong bốn người đó, thật ra chỉ có
một là đủ tính cách để được gọi là người, vì là một thiếu phụ, trạc ngoại ba
tuần; còn ba là những đứa trẻ măng sữa mà đứa lớn nhất chưa đầy bảy tuổi,
gay dắt một thằng bé lên năm. Đứa thứ ba thì do thiếu phụ ẵm trong lòng,
nó mới ngoài ba mươi tháng.
Thiếu phụ, cũng như ba đứa trẻ, đều bận quần áo nâu đã bạc màu.
Nhưng dưới mảnh vải thô lỗ, ngấn lên những thân hình rất đều đặn, phủ
bằng nước da trắng mịn.
Thiếu phụ tuy đã đứng tuổi, nhưng đôi môi đỏ thắm không khác gì một
vệt son mềm mại điểm trên khuôn mặt trái xoan. Mái tóc của nàng bị gió
đập mạnh, xổ ra đen nhánh và gợn lên như những làn sóng nhỏ.
Ba đứa trẻ, con thiếu phụ, đều tuấn dị hơn các trẻ thường. Nhất là đứa
lên bảy thì, thoạt trông, ai cũng biết là sẽ có một tương lại oanh liệt.
Đứa bé này, hai tai rất lớn, đôi con mắt đen và sáng, lúc nào cũng óng
ánh như hai vì sao, tiếp với cái miệng hơi rộng, hẳn có một cái cằm rất nở,
biểu lộ khối óc cương quyết và đại lượng.
Bốn người có lẽ đi đã lâu lắm. Vì trừ đứa bé được ẵm ra thì ai nấy đều bị
bùn phủ lên đến đầu gối và bước cao bước thấp, coi rất nặng nề.
Tuy không phải bận rộn về thằng bé lớn nhất nó vẫn gắng gượng bước
trên bùn lầy, nhưng thiếu phụ thỉnh thoảng vẫn phải ngừng lại để dỗ dành
thằng bé lên năm. Thằng này cứ khóc và nhất định ngồi bệt xuống đường,
kêu đau chân quá, không thể đi được.
https://thuviensach.vn
Đến cuối làng Dịch Vọng thì trời vừa tối và lất phất có mấy hạt mưa. Tự
liệu là có ép mấy đứa trẻ đi cố cũng không ích gì, thiếu phụ do dự một chút,
rồi đi rẽ vào một ngôi nhà gỗ ở gần vệ đường, phía trong nhà có ánh đèn le
lói, nàng đánh bạo gọi cổng xin vào ngủ trọ. Nhưng vừa dứt lời thì đã thấy
một ông già hấp tấp chạy ra, ông ta dẫn đường cho thiếu phụ và dắt hai đứa
trẻ vào. Ông lại thân đi lấy nước cho khách rửa chân tay, rồi mời cả lên một
cái bục cao kê ở giữa nhà, trên đặt sẵn một mâm cơm bày thức ăn la liệt.
Thấy cách tiếp rước của chủ nhân rất vồn vã và sự khoản đãi hình như
đã dự định từ trước, thiếu phụ không khỏi kinh ngạc và cố ý khước từ:
- Mẹ con tôi lỡ độ đường, được cụ cho nghỉ nhờ một đêm, cũng đã là
may mắn lắm rồi, có đâu dám phiền cụ quá như vậy!
Ông già liếc nhìn mấy đứa trẻ, rồi cung kính thưa:
- Đêm qua, tôi chiêm bao thấy thần truyền: “Phải quét dọn nhà cửa cho
sạch sẽ. Ngày mai sẽ có Vua và thái hậu đến đây”. Tôi mong suốt cả ngày
hôm nay, tuyệt nhiên không thấy một ai. Bây giờ mới có bà và ba cậu xin
vào ngủ trọ. Tôi chắc không phải họ hàng nhà Vua thì cũng là dòng dõi nhà
Chúa chứ không sai.
Thiếu phụ hơi biến sắc mặt, nhưng lại nghiêm nghị nói:
- Mộng mị xưa nay có đúng sự thực bao giờ, cụ lầm đấy. Không nên nói
quấy quá mà có khi nguy hiểm đến tính mạng.
Ông già làm thinh không đáp. Nhưng những cử chí rất thành kính của
ông sau này đủ chứng rằng lời thiếu phụ chẳng đánh đổ nổi sự tin tưởng của
ông. Ông hết sức chăm nom cho mấy đứa trẻ và tự buông màn lấy mời thiếu
phụ đi nghỉ.
Hôm sau, thiếu phụ dậy thật sớm, cáo biệt chủ nhân, rồi lại ẵm và dắt ba
con lên đường. Ông già cố giữ lại ăn cơm sớm, nhưng nàng nhất định chối
từ. Ông liền tặng vài nắm cơm với một chút đồ ăn và tiễn ra đến tận cộng.
https://thuviensach.vn
Dọc đường, chốc chốc thiếu phụ lại cúi đôi con mắt đẫm lệ xuống nhìn
nhìn hai con và nghẹn ngào thúc giục cho chúng đi thật mau lên, mặt trời
vừa đứng bóng thì mẹ con nàng đã đến Đại Phùng, một bến đò trên con
đường Sơn Tây, cách đô thành chừng bốn mươi dặm.
Thấy hai con đã mệt lử, thiếu phụ liền ghé vào một quán nước, bỏ cơm
nắm ra ăn. Nhưng nàng vừa cắt xong cơm nắm đặt lên vỉ với một chút muối
vừng thì, phía ngoài chợt có tiếng ngựa hý, xen lẫn với tiếng rầm rập của
chân người. Bất giác nàng đứng dậy, toan dắt ba con ẩn vào sau quán thì đã
có hàng trăm tên lính nón dấu, áo nẹp đổ xô vào, vây bọc lấy mẹ con nàng.
Từ đám đông đó, một viên tướng tiến lên, vái chào thiếu phụ thưa:
- Thần được lệnh của Chúa thượng đi thỉnh lệnh bà và các hoàng tôn về
an trí ở kinh thành, xin lệnh bà mau mau lên võng để thần khỏi phải làm trái
với đạo thần tử.
Nước da đang trắng nõn bỗng đổi sang tái nhợt, thiếu phụ đứng trơ như
một khúc gỗ, giữa mấy đứa trẻ níu chặt lấy áo mẹ nó để cầu sự che trở trước
một bọn người mà chúng không hề quen biết bao giờ. Song hình như lại
định thần được ngay, thiếu phụ đáp lại những câu thúc giục của viên tướng
bằng một cái gật đầu. Tiếp, lẳng lặng nàng dắt con ra đặt lên một cái võng
mà người ta đã dựng ở cửa tự lúc nào, chính nàng cũng không được biết.
Bắt được mẹ con thiếu phụ rồi, Vũ Huy Đĩnh (tên viên tướng) vui vẻ
nhảy lên mình ngựa, hộ quân kéo thẳng lên Sơn Tây. Trên võng thiếu phụ
vẫn thản nhiên vuốt ve ba con. Nhưng chúng thấy phu khiêng võng đi lanh
như gió cuốn thì kinh sợ, hỏi mẹ:
- Họ đưa chúng ta đi đâu mà vội vàng thế hả mẹ?
Thiếu phụ ung dung đáp:
- Xuống âm phủ để xum họp với cha các con đấy!
https://thuviensach.vn
Đứa lớn nhất hiểu thấu câu ấy nên mặt thoáng có vẻ buồn. Trái lại, thằng
bé lên năm tưởng là lời nói ngay thật thì vỗ tay reo:
- Được thế thì còn gì vui hơn nữa, mẹ nhỉ!
Thiếu phụ gật đầu, trong khóe mắt rân rấn ra hai giọt lệ.
Ngay ngày hôm ấy, cả bọn cùng tới trấn lỵ Sơn Tây. Nhưng cái danh
phận của tội nhân có lẽ khí quá lớn, không xứng với cái uy quyền khí nhỏ
quá của viên Hiến sát sứ Trấn Đoài, nên người ta lại do con đường cũ mà
giải mẹ con thiếu phụ về Thăng Long.
Tới đô thành, Vũ Huy Đĩnh đưa thẳng tội nhân đến ngục Đề Lĩnh mà
giam vào một gian phòng ẩm ướt và tối tăm, gian phòng mới bỏ rỗi được
hai ngày, vì chủ nhân cũ của nó vừa chịu tử hình.
Trước khi trở về Trịnh phủ để phục mệnh Tĩnh đô vương, Huy Dĩnh còn
dõng dạc truyền bảo giám ngục quan:
- Phải canh phòng cẩn mật, nghe không? Chúng toàn là những tử tù cả
đấy!
https://thuviensach.vn
Từ nhà ngục đến nhà Vàng
Hai tiếng “tử tù” thốt ra từ miệng Quận Đĩnh bất giác làm cho thiếu phụ
rùng mình. Nàng hình dung nó là một chén thuốc độc hay ba vuông lụa
mỏng đã kết liễu biết bao cuộc đời lỗi lạc, trong những buồng ngục ẩm thấp
ở Bắc Hà.
Nàng không sợ chết, nếu cái chết chỉ là món quà để tặng riêng nàng. Vì,
chết đối với nàng là trút bỏ tất cả những nỗi đau khổ âm thầm, là sang một
thế giới vô hình để sum họp với người, vì Tiên Dung Quận chúa xấu số đã
nhường cho nàng được nâng khăn sửa túi.
Nhưng nàng vẫn hết sức lẩn trốn cái chết không phải vì nàng mà vì ba
đứa trẻ - ba khối thịt trong là máu nàng hòa lẫn với máu của Thái tử Duy
Vĩ.
Thiếu phụ mà các Ngài đã nhận ra là Lê Hoàng phi, vợ Thái tử Duy Vĩ –
lợi dụng lúc bầu trời u ám, dắt theo ba con lên Sơn Tây, định gửi gấp cho
một người thân. Nhưng không may, mẹ con Hoàng phi bị Quận Dĩnh đuổi
bắt được ở dọc đường.
Bắt, tức là chết.
Cái ý nghĩ Thái tử sẽ bị tuyệt tự, đối với Hoàng phi đã là một mối đau
khổ vô cùng. Nhưng còn có điều đau khổ hơn nữa, điều đó làm cho Hoàng
phi đứt từng khúc ruột là chẳng chóng thì chầy người ta sẽ mang ba đứa trẻ
ra hành hình. Hoàng phi sẽ phải chứng kiến cho bọn ngục tốt rằn ba đứa trẻ
ra mà đổ thuốc độc vào miệng chúng, cũng như người ta đã từng ép đổ cho
những tội nhân không đủ can đảm nâng lấy chén thuốc độc để tự kết liễu
đời mình.
https://thuviensach.vn
Ba đứa trẻ sẽ khóc và giẫy giụa, nhưng cái thân hình yếu ớt của chúng
không khi nào chống nổi được những cánh tay vạm vỡ của bọn ngục tốt đã
thông thạo về nghề này.
Thuốc độc sẽ ngấm vào phủ tạng của ba đứa trẻ.
Da chúng tái dần đi.
Các khiếu của chúng ứa máu tươi ra.
Chúng quằn quại nhưng những con rắn bị thương.
Mắt chúng trợn ngược lên.
Chúng tắt nghỉ.
Nghĩ đến đây Hoàng phi không còn đủ can đảm để tự kiềm chế nữa. Bà
hét lên một tiếng, rồi ngất đi. Đứa bé nhất trong ba đứa trẻ giật mình, cũng
òa lên khóc. Hai đứa lớn thấy mẹ nó nằm trơ ra như khúc gỗ thì sợ hãi, kêu
cứu rầm lên. Bọn ngục tốt vội chạy vào, kẻ giựt tóc mai, người đổ nước
gừng. Hồi lâu, Hoàng phi tỉnh lại, nhưng từ đó, mỗi lần nhà ngục có tiếng
động lại làm cho Hoàng phi sợ đến thất thần, tưởng lầm là người ta đã đến
đưa con bà vào cõi chết.
Sự sợ hãi, khi đã không đủ sức mạnh để giết những người mà nó hành
hạ, thường lại bắt thói quen với những người ấy mà tặng cho họ một đức
tính mới là khinh sống hoặc cũng gọi là liều.
Lê Hoàng phi, vì liều nên ao ước được chết một cách chóng vánh để
khỏi phải chịu cái sống đầy ải ở ngục thất là một lối chết thong thả và âm
thầm.
Ba con trai của Hoàng phi – Lê Duy Khiêm, Lê Duy Tự(1) và Lê Duy
Chỉ - kết tinh bằng những giọt máu tôn quý nhất trong nước, cũng phải chia
với mẹ chúng một số phận hẩm hiu. Nhất là Duy Khiêm, đứa trẻ đã có đôi
https://thuviensach.vn
chút trí khôn thì ngoài cái đau khổ về bản thân mình, lại càng đau khổ hơn
nữa, khi thấy mẹ nó rầu rĩ suốt ngày, vì thương chồng chết oan uổng, và
thương con sống đầy đọa.
Tuy nhiên, thời gian vẫn giúp cho ba đứa trẻ khôn lớn. Nhưng trong lúc
ở bên ngoài, không biết bao nhiêu đứa trẻ khác gọi là hèn kém, được học
hành và chạy nhảy tự do trong bầu không khí rộng rãi là của chung muôn
vật thì ba đứa cháu nội của một ông Vua đương trị vì – Vua Cảnh Hưng –
phải ngồi co ro bên cạnh mẹ nó, trong một gian buồng chật hẹp và thở hút
những mùi hôi hám và ẩm ướt từ những cánh cửa và cột gỗ mục nát bốc ra.
Chúng không được trông thấy gì khác là những xiềng xích hoen rỉ và bộ
mặt hốc hác của các tội nhân.
Chúng không được nghe gì khác là những tiếng kêu não ruột của những
con dế cô quạnh ẩn trong chân tường.
Hàng ngày, người ta nhồi nhét cho chúng vài nắm cơm mà vôi với đá sỏi
vẫn chiếm số nhiều hơn là gạo nguyên chất của nhà trời.
Thế giới của chúng là nhà ngục.
Nhãn giới của chúng không bao giờ được ra khỏi cái phạm vi chật hẹp
ấy.
Khi có ánh mặt trời xuyên qua khe cửa mà chiếu vào tận chúng thì
chúng biết là ngày.
Khi buồng ngục bỗng tối sầm lại thì chúng bảo là đêm.
Chúng không biết có tháng năm.
Chỉ khi nào – khi ấy cách xa nhau lắm – phía ngoài có tiếng pháo nổ rồn
rã thì mẹ chúng lại nhắc cho chúng biết rằng đời chúng đã tăng lên một tuổi
rồi.
https://thuviensach.vn
Từ khi chúng bị giam, thấm thoắt đã mười lần pháo nổ, nghĩa là đã mười
năm. Duy Khiêm đã gần đến tuổi trưởng thành; chàng mười bảy, Duy Tự,
mười năm; Duy Chỉ, mười ba.
Lê Hoàng phi chú ý nhìn ba con, thấy chúng càng lớn, diện mạo càng
tuấn tú, khác hẳn mọi người, bất giác thở dài. Bà nghĩ đến những đứa trẻ
rạng rũa như thế, nếu được ra khỏi nhà ngục thì dù không được theo dòng
máu của cha chúng mà lên ngôi hoàng đế chăng nữa thì chúng cũng có thể
tự làm được đến công hầu.
Nhưng ngày ra khỏi ngục là ngày nào?
Hoàng phi chờ nó đã mười năm.
Bà tin rằng sẽ phải chờ nó mười, hai mươi năm nữa và có lẽ suốt đời.
Tóm lại, ngày ấy sẽ không bao giờ đến.
Bà ôm mặt khóc, theo lệ thường, ba con trai xúm lại khuyên giải mẹ
chúng và tặng cho bà một thang thuốc hồi sinh là hy vọng vào tương lai.
Nhưng điều chúng mong mỏi, lần này đến thật.
Vì phía ngoài, chợt có tiếng ồn ào, tiếp đập phá cửa ngục dữ dội. Tiếng
đập phá vừa im thì có hàng trăm, nghìn người áo xanh, áo đỏ rất sặc sỡ đổ
xô vào sân ngục, tản ra, đi lục lọi khắp mọi nơi.
Một người trong bọn họ tình cờ phá được cửa phòng của Lê Hoàng phi,
hắn trông vào, thấy anh em Duy Khiêm thì lớn tiếng reo:
- Anh em ơi! Hoàng tôn đây rồi!
Cả bọn liền xô đến gian phòng này. Rồi người dắt hoàng phi, kẻ cõng
Duy Khiêm, Duy Tự và Duy Chỉ. Họ tỏ ra vui mừng và hò reo như sấm
động mà kéo thẳng vào Hoàng thành. Tới điện Vạn Thọ, anh em Duy
Khiêm đã thấy ông nội mình là vua Lê Cảnh Hưng – một ông già mà mười
https://thuviensach.vn
năm cách biệt đã làm cho đầu hói và trán nhiều nếp nhăn thêm – đứng đón
ở trước thềm.
Nhà Vua mừng rỡ vuốt ve cháu.
Tiếp, đến cả hoàng tộc quây quần lại hỏi han anh em Duy Khiêm.
Bức phông đời của ba cậu bé này, từ chỗ tối tăm của nhà nhục, chỉ trong
chớp mắt đã đổi sang một nơi mà đồ trang sức đều là vàng, son, gấm, vóc.
https://thuviensach.vn
Kiêu binh nổi loạn
Anh em Lê Duy Khiêm được thoát khỏi cái đời u tối ở nơi ngục thất mà
trở về ánh sáng mặt trời là do tình cờ. Nhưng chỉ là tình cờ nhỏ bị bao hàm
trong một tình cờ lớn nó đã đẩy nước Việt Nam vào một cuộc loạn ly ròng
rã tới một phần tư thế kỷ.
Đầu mối của nó là cuộc đảo chính mà người đương thời gọi là “loạn
kiêu binh”.
Kiêu binh chính tên là ưu binh, hoặc cũng gọi là “lính Tam phủ” là hạng
lính được ưu đãi hơn lính các nơi khác (các trấn), vì chúng là lính mộ ở hai
xứ Thanh, Nghệ, nơi phát tích của hai họ Trịnh và Lê. Vì hai xứ này đã có
công lớn trong việc phục hưng và sáng nghiệp của vua Lê và Chúa Trịnh,
nên lính hai xứ ấy được coi như chân tay của nhà Vua và nhà Chúa.
Ưu binh được bổng hậu hơn lính các trấn. Số công điền mà họ được
hưởng cũng nhiều hơn. Và, trong lúc lính cách trấn phải đi “thú” nghĩa là
lên đóng ở các tỉnh thượng du để chịu cái khổ lam sơn chướng khí và
Chặt tre đẵn gỗ trên ngàn,
Hữu thân hữu khổ, phàn nàn cùng ai.
Thì ưu binh được sống một đời nhàn nhã ở Thăng Long, công việc hàng
ngày của họ không có gì nặng nhọc hơn là canh giữ các điện Vua và phủ
Chúa.
Lính Tam phủ cũng như hầu hết các quân nhân khác thường là thất học.
Khi được ưu đãi như vậy thì không những chúng không hiểu là một cái ơn
riêng, cần phải dè dặt mà chúng lại còn trở nên kiêu căng, không coi ai ra gì
cả.
https://thuviensach.vn
Dân Bắc Hà vì ghét lính Tam phủ nên đặt cho chúng một tên chung là
kiêu binh.
Vì được nhàn rỗi nên kiêu binh thường họp nhau ở ngoài phố mà uống
rượu và chòng ghẹo đàn bà con gái. Túng tiền thì chúng đi cướp phá của
các nhà bình dân.
Quan lại, hãn hoặc có người nghĩ cách trừng trị chúng thì chúng dọa
giết, phá nhà.
Về đời Tây vương Trịnh Tạc, hai quan Tham tụng (tể tướng) là Phạm
Công Trứ và Nguyễn Quốc Trinh mật xin với Chúa Trịnh đàn áp bọn kiêu
binh. Chúng nghe biết, liền kéo đến phá nhà hai ông này. Nguyễn Quốc
Trinh bị chúng giết chết, Phạm Công Trứ máy trốn thoát.
Tây vương tra ra việc này, liền mang mấy tên thủ xướng ra chém, nên
bọn kiêu binh từ đấy mới chịu nhụt đi chút đỉnh.
Đến đời Ân vương Trịnh Doanh, kiêu binh lại phá nhà quan Tham tụng
là Nguyễn Công Thái. Chúng lại bị trừng phạt rất nghiêm. Nhưng đến cuối
đời Tĩnh vương Trịnh Sâm thì chính sự của Vua và Chúa đều đổ nát quá rồi.
Vua Chúa yếu, lẽ tự nhiên là kiêu binh lại mạnh. Nhưng lính Tam phủ có
lẽ cũng chưa thành một mối họa lớn cho Bắc Hà, nếu không có một cuộc
tranh giành rất khốc hại xảy ra ở ngay trong nội bộ nhà Chúa.
Nguyên khi về già, Tĩnh vương rất say mê một người vợ lẽ tên là Đặng
Thị Huệ, tục gọi là “bà Chúa Chè”. Vương tuy đã có một con trai lớn là
Trịnh Khải, nhưng vì ghét Khải là con vợ cả nên không lập làm Thế tử, mà
định truyền ngôi cho con trai Thị Huệ là Trịnh Cán, một đứa trẻ quặt quẹo
ngày từ lúc mới đẻ và không thuốc thang nào chữa được.
Thị Huệ muốn có vây cánh trong chính phủ nên liên lạc với tước Huy
quận công là Hoàng Tố Lý, một đại thần được Sâm rất tin dùng.
https://thuviensach.vn
Trong lúc Tĩnh vương yếu nặng, Trịnh Khải xin vào thăm, nội giám –
theo lệnh của Huy quận – nhất định không cho vào, Khải buồn bực quay về,
mang cái khổ tâm của mình nói ra với bọn gia thần là Thế Vũ, Thẩ...
 





